Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM MA THỊ TÂM
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA CÁC TỶ LỆ BỘT
LÁ SẮN KHÁC NHAU TRONG KHẨU PHẦN ĂN ĐẾN
NĂNG SUẤT, CHẤT LƢỢNG VÀ TỶ LỆ ẤP NỞ CỦA
TRỨNG GÀ LƢƠNG PHƢỢNG NUÔI TẠI THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: CHĂN NUÔI ĐỘNG VẬT NÔNG NGHIỆP
Mã số: 60.62.40 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS.TS: NGUYỄN DUY HOAN
GS.TS : TỪ QUANG HIỂN
THÁI NGUYÊN - 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày
Ma Thị Tâm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích của đề tài 2
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Cơ sở khoa học về khả năng sản xuất trứng gia cầm 3
1.1.1. Cấu tạo cơ quan sinh dục của gà 3
1.1.2. Một số đặc điểm sinh học của trứng gia cầm 7
1.1.3. Các chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất của gia cầm 12
1.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng gia cầm 15
1.1.5. Nhu cầu dinh dưỡng thức ăn của gà hậu bị và gà đẻ 17
1.1.6. Đặc điểm tiêu hóa và trao đổi chất ở gia cầm 24
1.2. Vài nét về giống gà Lương Phượng 28
1.3. Tổng quan về cây sắn và bột lá sắn 30
1.3.1. Cây sắn và một số đặc điểm sinh vật học của cây sắn 30
1.3.2. Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của lá sắn 30
1.3.3. Độc tố HCN của lá sắn và phương pháp chế biến 32
1.3.4. Tình hình nghiên cứu sử dụng bột lá thực vật trong chăn nuôi gia cầm 36
Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU . 39
ĐC
: Đối chứng
FAO
: United nations Food and Agricuture Organization
GS
: Giáo sư
KPCS
: Khẩu phần cơ sở
NXB
: Nhà xuất bản
NRC
: National research council
PGS
: Phó giáo sư
TS
: Tiến sỹ
TL
: Tỷ lệ
TĂ
: Thức ăn
TN
: Thí nghiệm
TTTĂ
: Tiêu tốn thức ăn
SL
: Sản lượng
VNĐ
: Việt Nam đồng
VCK
: Vật chất khô
Hình 1: Đồ thị ảnh hưởng của các tỷ lệ BLS đến tỷ lệ đẻ của gà thí nghiệm 47
Hình 2: Biểu đồ ảnh hưởng của các tỷ lệ BLS đến sản lượng trứng và sản
lượng trứng giống của gà 46
Hình 3: Đồ thị ảnh hưởng của các tỷ lệ BLS khác nhau đến tỷ lệ trứng giống 49
Hình 4: Đồ thị ảnh hưởng của các tỷ lệ BLS đến hàm lượng caroten trong
trứng gà Lương Phượng 53
Hình 5: Biểu đồ tiêu tốn TĂ/10 trứng và 10 trứng giống. 56
Hình 6: Đồ thị chi phí thức ăn/10 trứng và 10 trứng giống 56
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngành chăn nuôi gia cầm luôn được quan tâm hàng đầu vì nó có khả
năng đáp ứng nhanh nhu cầu protein cho toàn xã hội. Thịt gia cầm chiếm
khoảng 20 đến 25% trong tổng sản phẩm thịt. Mức tiêu thụ thịt và trứng gia
cầm tăng khá nhanh vì chúng có giá trị dinh dưỡng cao, tương đối đầy đủ và
cân bằng các chất dinh dưỡng. Theo Nguyễn Duy Hoan và cs, 1999 [8], trứng
gia cầm có tới 12,5% protein, thịt gia cầm có 22,5% protein, trong khi đó ở
thịt bò là 20%; thịt lợn là 18%.
Như chúng ta đã biết, xã hội ngày một phát triển, nhu cầu của con người
cũng ngày một cao hơn. Vấn đề sử dụng những sản phẩm sạch và an toàn là
nhu cầu chung của toàn thế giới. Vậy để tạo ra sản phẩm từ gia cầm có chất
lượng cao, đáp ứng được nhu cầu của xã hội thì xu hướng của các nhà chăn
nuôi hiện nay là phải giảm hoặc cắt bỏ thành phần thức ăn có nguồn gốc từ
động vật (bột cá, bột thịt ) trong khẩu phần và không đưa các chất kích thích,
các loại kháng sinh có ảnh hưởng tới sức khỏe con người, tăng cường sử
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học về khả năng sản xuất trứng gia cầm
1.1.1. Cấu tạo cơ quan sinh dục của gà
1.1.1.1. Cơ quan sinh dục của gà mái và quá trình tạo trứng
Cơ quan sinh dục của gà gồm một buồng trứng và ống dẫn trứng, buồng
trứng là cơ quan tạo noãn và lòng đỏ của gà mái đẻ. Buồng trứng của gia cầm
nói chung và gà mái nói riêng không cân đối. Đến tuổi trưởng thành về sinh
dục chỉ có buồng trứng bên trái là phát triển, tạo noãn nang và tạo lòng đỏ,
còn lại buồng trứng bên phải thì bị teo, không hoạt động. Trong giai đoạn đầu
phát triển của phôi cả hai buồng trứng đều hình thành nhưng nó phát triển
không đều. Đến ngày ấp thứ 7 buồng trứng bên trái của phôi đã to và nặng
hơn buồng trứng bên phải. Cho đến kết thúc giai đoạn phát triển của phôi (khi
gà nở) thì buồng trứng bên phải bị thoái hóa hoàn toàn.
Buồng trứng của gia cầm trưởng thành nằm ở bên trái, phía trước thận và
được treo lên bởi một thanh mạc bụng. Kích thước và khối lượng buồng trứng
của gia cầm rất khác nhau, nó phụ thuộc vào giống, dòng và cá thể. Trong
Từ loa kèn lòng đỏ đi vào phần tiết lòng trắng của ống dẫn trứng. Phần
tiết lòng trắng của ống dẫn trứng ở gà mái đẻ tương đối dài khoảng 30 - 34cm.
Chức năng tiết lòng trắng của ống dẫn trứng được thực hiện bởi các tế bào
biểu mô và các tuyến hình ống ở màng nhầy thành ống dẫn trứng. Nhờ có nhu
động tịnh tiến và những nếp gấp của thành ống dẫn trứng mà lòng đỏ chuyển
động xoay tròn, tịnh tiến theo ống dẫn trứng. Đầu tiên lòng đỏ được bao bọc
bởi lớp lòng trắng đặc mà phía đầu nhọn và đầu tù của trứng nó phát triển
thành dây chằng để giữ cho lòng đỏ nằm ở trung tâm của trứng. Tiếp sau đó
lòng đỏ được bao bọc lớp lòng trắng đặc giữa, nó được cấu tạo bởi các sợi
musin cực mỏng. Trong quá trình chuyển động xuống phần dưới của ống dẫn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
trứng xuất hiện lớp lòng trắng loãng trong, nằm giữa hai lớp lòng trắng đặc và
lớp lòng trắng loãng ngoài tiếp giáp với màng dưới vỏ trứng. Thời gian lòng
đỏ đi qua phần tiết lòng trắng và hoàn thành việc hình thành lòng trắng hết
khoảng 3 giờ đồng hồ.
Sau khi được bao bọc lòng trắng trứng di chuyển xuống phần eo của ống
dẫn trứng. Tại đây trứng được bao bọc bởi hai lớp màng mỏng là lớp màng
bao bọc ngoài lòng trắng và lớp màng dưới vỏ trứng. Thời gian này các chất
khoáng hòa tan trong nước vẫn tiếp tục qua các lớp màng đi vào lòng trắng và
lòng đỏ. Thời gian trứng dừng lại ở phần eo khoảng hơn 1 giờ.
Cuối cùng trứng được chuyển xuống phần tử cung để tạo vỏ trứng. Quá
trình tạo vỏ trứng xẩy ra rất chậm chạp. Lúc đầu chỉ là những tinh thể muối
canxi riêng rẽ tích tụ trên lớp màng dưới vỏ trứng. Sau đó giữa các tinh thể
muối canxi xuất hiện các hợp chất hữu cơ, chúng liên kết với nhau và hình
thành lên lớp vỏ trứng. Trên vỏ trứng còn hình thành nhiều lỗ nhỏ tập chung
chủ yếu ở phần đầu tù của vỏ trứng để tạo điều kiện cho phôi hô hấp. Tử cung
đã bài tiết một lượng lớn muối canxi chủ yếu ở dạng CaCO
3
gặp tế bào trứng rụng mới, sẽ nằm cùng với lòng đỏ của trứng mới bên ngoài
được bao bọc bằng lòng trắng và vỏ cứng.
Ngoài ra còn có trứng méo mó, không vỏ do thiếu khoáng, vitamin D
hoặc do co bóp của ống dẫn trứng
1.1.1.2. Cơ quan sinh dục gà trống
Gồm: Tinh hoàn, dịch hoàn phụ, ống dẫn tinh và cơ quan giao phối.
Tinh hoàn có hình ô van hoặc hình hạt đậu màu trắng hoặc hơi vàng nằm
ở vị trí phía trên thùy trước của thận, cạnh túi khí bụng, khối lượng tinh hoàn
phụ thuộc vào tuổi và trạng thái sinh lý. Cơ quan giao cấu có cấu trúc khác
biệt, nó không phát triển. Ở gà tây hầu như không có cơ quan giao phối,
ngỗng, gà, vịt có hai gai giao cấu nằm sâu ở dưới lỗ huyệt.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
Quá trình hình thành tinh trùng diễn ra tương tự như ở gia súc, tế bào sơ
cấp bằng con đường phân chia hình thành tinh bào thứ nhất phát triển, mỗi
tinh bào thứ nhất lại chia thành 2 tinh bào thứ 2, tiếp tục phát triển sau đó hình
thành tiền tinh trùng và cuối cùng hình thành tinh trùng.
Số lượng một lần phóng tinh gà là 0,6 - 2ml. Trong mỗi 1ml chứa 3,2 tỷ
tinh trùng. Các phản xạ và cơ chế giao phối ở gia cầm giống động vật có vú,
nhưng thời gian để tinh trùng từ cơ quan sinh dục đực đến loa kèn rất lâu (từ
3-5 ngày), tinh trùng gà sống được lâu trong đường sinh dục cái.
1.1.2. Một số đặc điểm sinh học của trứng gia cầm
Trứng gia cầm là một tế bào được bao bọc gồm: Vỏ cứng, màng lòng
trắng và lòng đỏ. Trong điều kiện nuôi không có gia cầm trống, thì tế bào
trứng không được thụ tinh, nhưng giá trị thực phẩm không thay đổi. Vì vậy,
trong sản xuất trứng thương phẩm người ta không cần nuôi gia cầm trống để
bớt chi phí thức ăn, nâng cao hiệu quả kinh tế. Nếu nuôi chung trống mái, thì
trứng sẽ được thụ tinh và phôi phát triển trong cơ thể mẹ, sau khi đẻ ra tiếp
tục phát triển thông qua việc ấp nở của con mẹ hoặc máy ấp nhân tạo.
- Vỏ trứng: Là lớp bao bọc ngoài cùng bảo vệ về mặt cơ học, lý học cho
các thành phần khác nhau bên trong trứng. Bên ngoài, nó được bao phủ bởi
một lớp keo dính do âm đạo tiết ra, lớp keo này có tác dụng làm giảm ma sát
giữa thành âm đạo và trứng, tạo thuận lợi cho việc đẻ trứng và còn hạn chế sự
bốc hơi nước của trứng, ngăn cản sự xâm nhập của vi khuẩn
Dưới lớp vỏ cứng là hai lớp màng dưới vỏ: Hai lớp màng này rất mỏng,
lớp ngoài sát với vỏ trứng. Lớp trong nằm sát với lòng trắng ngoài, lớp ngoài
dày hơn lớp trong, độ dày của hai lớp khoảng 0,057 - 0,069mm. Cả hai lớp
đều có lỗ thở cho không khí đi vào giúp phôi thai phát triển ở giai đoạn cuối.
Hai lớp màng áp sát nhau chỉ tách ra ở đầu tù của quả trứng tạo ra buồng khí.
Theo Nguyễn Duy Hoan và cộng sự (1998) [10] thì trên bề mặt của vỏ trứng
gà có khoảng 10.000 lỗ khí, tính trên 1cm
2
có khoảng 1500 lỗ khí, đường kính
các lỗ khí giao động từ 1 - 10 micromet. Mật độ lỗ khí không đều, nhiều nhất
là ở đầu tù, giảm dần ở hai bên và ít nhất ở đầu nhỏ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Độ dày vỏ trứng có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình ấp nở. Nếu vỏ trứng
quá dày hoặc quá mỏng thì sẽ gây cản trở quá trình hô hấp của phôi thai, dẫn
đến tỷ lệ nở thấp. Theo Nguyễn Thị Bạch Yến (1996) [41] nếu vỏ trứng quá
mỏng, sẽ làm cho quá trình bốc hơi nước diễn ra quá nhanh, dẫn tới trứng bị
mất nước dẫn đến chết phôi, sát vỏ, gà con nở ra yếu hoặc Tỷ lệ hao hụt giảm.
Ngược lại nếu vỏ trứng quá dày cũng gây ảnh hưởng đến khả năng ấp nở, trao
đổi khí kém, gà con không mổ vỏ ra ngoài được. Độ dày của vỏ trứng ở đầu tù
khoảng 0.294 - 0,334 mm. Độ dày vỏ chịu ảnh hưởng của các yếu tố di truyền,
khí hậu, mùa vụ, dinh dưỡng cho mái đẻ hoặc khi mắc một số bệnh
- Lòng trắng: Là sản phẩm của ống dẫn trứng, lòng trắng chứa nhiều chất
dinh dưỡng và nước cung cấp cho nhu cầu phát triển của phôi thai.
- Lòng đỏ: Là tế bào trứng của gia cầm, có dạng hình cầu, đường kính
khoảng 35 - 40mm, chiếm khoảng 30% khối lượng trứng. Tỷ lệ lòng đỏ phụ
thuộc vào yếu tố di truyền, lứa tuổi, cá thể, giống, loài, điều kiện nuôi
dưỡng… Màu sắc của lòng đỏ phụ thuộc vào hàm lượng caroten trong thức ăn
và sắc tố trong cơ thể gia cầm.
Cấu tạo lòng đỏ gồm: Màng, nguyên sinh chất và nhân. Màng lòng đỏ
rất mỏng dao động từ 16 - 20 micromet, có tính đàn hồi, luôn giữ cho tế bào
trứng ở dạng hình cầu. Ngoài ra, màng này còn có tính thẩm thấu chọn lọc để
thực hiện việc trao đổi chất giữa lòng trắng và lòng đỏ.
Nguyên sinh chất gồm: Bào quan chứa ty lạp thể, lưới Golgi, trung tâm
tế bào có thể chứa protein, lipit, gluxit và các axit amin. Đặc biệt là protit và
lipit kết hợp với nhau tạo thành phức hợp liprotein. Từ đó, hình thành nên
những thể vùi lòng đỏ, trung tâm nguyên sinh có hốc lòng đỏ nối tới đĩa phôi.
Đĩa phôi nằm ở trong nhân tế bào, nhân tế bào trứng có hình tròn,
đường kính khảng 1 - 2mm, màu nhạt hơn nguyên sinh chất và nằm trên bề
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
mặt nguyên sinh chất. Nếu trứng được thụ tinh thì đĩa phôi chiếm được gần
hết diện tích nhân của tế bào trứng. Trong nhân chứa AND, ARN, protein và
có 40 đôi nhiễm sắc thể, màng nhân có nhiều lỗ nhỏ, giữ vai trò trao đổi chất
giữa nguyên sinh chất và nhân.
Chỉ số lòng đỏ thể hiện chất lượng của lòng đỏ và được tính bằng tỷ số
giữa độ cao và đường kính lòng đỏ, chỉ số này khoảng 0,4 - 0,5 là tốt (theo
Nguyễn Duy Hoan và cs (1998) [10]).
* Chỉ số Haugh (HU)
Là chỉ số đánh giá chất lượng trứng xác định thông qua chất lượng trứng
và lòng trắng đặc. Chỉ số HU càng cao thì chất lượng trứng càng cao. Chỉ số
này chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tác động: Thời gian bảo quản, tuổi gia
cầm, bệnh tật, nhiệt độ môi trường, sự thay lông, giống, dòng,
sản xuất của gia cầm người ta không thể không gây chú ý đến sức đẻ trứng
của gia cầm.
Theo Brandsch H và cs (1978) [42] thì sức đẻ trứng chịu ảnh hưởng của
5 yếu tố chính:
1. Tuổi đẻ đầu hay tuổi thành thục
2. Chu kỳ đẻ trứng hay cường độ đẻ trứng
3. Tần số thể hiện bản năng đòi ấp
4. Thời gian nghỉ đẻ, đặc biệt là nghỉ đẻ mùa đông
5. Thời gian đẻ kéo dài hay chu kỳ đẻ (hay tính ổn định sức đẻ)
Các yếu tố trên có sự điều khiển bởi kiểu gen di truyền của từng giống
gia cầm.
1.1.3.2. Tuổi đẻ đầu
Đó là tuổi bắt đầu hoạt động sinh dục và có khả năng tham gia quá trình
sinh sản. Đối với gia cầm, tuổi thành thục sinh dục là tuổi bắt đầu đẻ quả
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
trứng đầu tiên. Đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng
trứng. Đối với một đàn gà cùng lứa tuổi thì tuổi đẻ quả trứng đầu tiên là thời
điểm tại đó đàn gà đạt tỷ lệ đẻ 5%. Theo Brandsch H và cs (1978) [42] thì
những gà có tuổi đẻ quả trứng đầu lớn hơn 245 ngày cho sản lượng trứng thấp
hơn những gà có tuổi đẻ quả trứng đầu nhỏ hơn 215 ngày là 6,9 quả. Tuổi đẻ
trứng đầu phụ thuộc vào chế độ nuôi dưỡng các yếu tố môi trường đặc biệt là
thời gian chiếu sáng. Thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc đẩy gia cầm đẻ sớm.
Tuổi đẻ đầu sớm hay muộn liên quan đến khối lượng cơ thể ở một thời
điểm nhất định. Những gia cầm thuộc giống bé có khối lượng cơ thể nhỏ
thường thành thục sinh dục sớm hơn những gia cầm có khối lượng cơ thể lớn.
Trong cùng một giống, cơ thể nào được nuôi dưỡng, chăm sóc tốt, điều kiện
thời tiết khí hậu và độ dài ngày chiếu sáng phù hợp sẽ có tuổi thành thục sinh
sản sớm hơn. Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh tuổi thành thục
tính. Trên cơ sở tỷ lệ đẻ hàng ngày hoặc tuần cho phép đánh giá một phần nào
về chất lượng giống và mức độ ảnh hưởng của chế độ ngoại cảnh đến sự sản
xuất của đàn giống. Cũng theo Brandsch H và cs (1978) [42] cho rằng gà thịt
nặng cân đẻ ít hơn do tồn tại nhiều thể vàng nên lấn át buồng trứng thường
xuyên hơn so với gà dòng trứng. Thời gian nghỉ đẻ ngắn hay dài có ảnh
hưởng trực tiếp đến sản lượng trứng cả năm. Gà thường hay nghỉ đẻ mùa
đông do nguyên nhân giảm dần về cường độ và thời gian chiếu sáng tự nhiên.
Ngoài ra, sự nghỉ đẻ này còn do khí hậu, sự thay đổi thức ăn chu chuyển đàn.
Là một tính trạng số lượng có hệ số di truyền cao, do đó người ta có thể cải
thiện di truyền bằng cách chọn lọc giống. Trong chọn lọc cần chú ý tới chỉ số
trung bình chung của giống. Khối lượng trứng phụ thuộc vào khối lượng cơ
thể, giống, tuổi đẻ, tác động dinh dưỡng tới gà sinh sản. Đồng thời khối lượng
trứng lại quyết định tới chất lượng trứng giống, tỷ lệ ấp nở, khối lượng và sức
sống của gà con. Nó là chỉ tiêu không thể thiếu của việc chọn lọc giống.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
Cũng theo tác giả trên cho biết hiện nay chưa có cách nào tăng khối
lượng của quả trứng mà không đồng thời tăng khối lượng cơ thể. Đó cũng là
một trong những nguyên nhân phải hạn chế khối lượng trứng ở mức 55 - 60
gam để phù hợp với sinh lý của gà và kỹ thuật ấp nở. Ngoài ra tăng khối
lượng trứng còn làm tăng chi phí thức ăn.
Trứng gia cầm khi bắt đầu đẻ nhỏ hơn trứng gia cầm lúc trưởng thành.
Khối lượng trứng phụ thuộc trực tiếp vào chiều dài, chiều rộng của quả trứng
cũng như khối lượng lòng trắng, lòng đỏ và vỏ.
Theo Đào Văn Khanh (1996) [17] Ở năm thứ hai sản lượng trứng của gà mái
kém hơn năm thứ nhất khoảng từ 10 - 15%, nhưng trứng có khối lượng to hơn.
Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1998) [10] trong cùng một độ tuổi thì
khối lượng trứng tăng lên chủ yếu do khối lượng lòng trắng lớn hơn nên giá
trị năng lượng giảm dần. Khối lượng gà con khi nở thường bằng 62% - 78%
gian chiếu sáng 12 - 15h/ngày, có thể sử dụng ánh sáng tự nhiên và ánh sáng
nhân tạo để đảm bảo giờ chiếu sáng và cường độ chiếu sáng 33,5w/m
2
. Theo
Brandsch H và cs (1978) [42] cho biết thời gian gà đẻ trứng thường từ 7- 17
h, nhưng đa số đẻ vào buổi sáng. Cụ thể gà đẻ từ 7 - 9h đạt 17,7% so với tổng
gà đẻ trong ngày. Ở nước ta do khí hậu khác với các nước, cho nên cường độ
đẻ trứng của gà cao nhất là khoảng từ 8 - 12h chiếm 60%, gần 70% so với
tổng gà đẻ trứng trong ngày.
- Cường độ đẻ trứng: Liên quan mật thiết với sản lượng trứng, nếu cường
độ đẻ trứng cao thì sản lượng trứng cao và ngược lại.
- Chu kỳ đẻ trứng: Chu kỳ đẻ trứng được tính từ khi đẻ quả trứng đầu
tiên đến khi ngừng đẻ và thay lông, đó là chu kỳ thứ nhất và lặp lại chu kỳ thứ
hai. Chu kỳ đẻ trứng liên quan tới vụ nở gia cầm con mà bắt đầu kết thúc ở
các tháng khác nhau thường ở gà là một năm. Nó có mối tương quan thuận
với tính thành thục sinh dục, nhịp độ đẻ trứng, sức bền đẻ trứng.
- Thay lông: Sau mỗi chu kỳ đẻ trứng gia cầm nghỉ đẻ và thay lông, ở
điều kiện bình thường, thay lông lần đầu tiên là những điểm quan trọng để