Ảnh hưởng của thức ăn ủ chua đến năng suất, chất lượng của đàn bò sữa nuôi tại trang trại công ty cổ phần sữa TH ở xã Nghĩa Sơn - Nghĩa Đàn - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THỊ HUYỀN
ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN Ủ XANH ĐẾN
NĂNG SUẤT CHẤT LƯỢNG SỮA CỦA ĐÀN BÒ SỮA
NUÔI TẠI TRANG TRẠI CTCP SỮA TH Ở
XÃ NGHĨA SƠN - NGHĨA ĐÀN
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số: 60.42.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN NGỌC HỢI
Nghệ An – 2014
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ
chuyên ngành sinh học thực nghiệm, tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý
báu của Nhà trường và địa phương. Qua đây tôi xin trân trọng bày tỏ
lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới:
Đảng uỷ, Ban giám hiệu Trường Đại học Vinh,, phòng Đào tạo Sau
Đại học, khoa Sinh học và các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy chúng tôi
hoàn thành chương trình đào tạo thạc sĩ
Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của thầy
giáo hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hợi
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn
chân thành tới Công ty CPTP Sữa TH Trulmilk
Nhân dịp này tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất
tới gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên, khuyến khích tôi trong
quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành trước mọi sự giúp đỡ quý
báu đó. Tôi xin trân trọng gửi tới các thầy cô giáo, các quý vị trong Hội
đồng chấm luận văn lời cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất.

SS : Sơ sinh
TB : Trung bình
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
TN : Thí nghiệm
TTg : Thủ Tướng
TTNT : Thụ tinh nhân tạo
UBND : Ủy Ban nhân dân
VCK : Vật chất khô
VN : Vòng ngực
CTCP : Công ty cổ phần
VO : Vòng ống
DANH MỤC CÁC BẢNG
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH 1
ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN Ủ XANH ĐẾN 1
NĂNG SUẤT CHẤT LƯỢNG SỮA CỦA ĐÀN BÒ SỮA 1
NUÔI TẠI TRANG TRẠI CTCP SỮA TH Ở 1
XÃ NGHĨA SƠN - NGHĨA ĐÀN 1
* Các chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất và các nhân tố ảnh hưởng tới sản lượng sữa
của bò 15
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH 1
ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN Ủ XANH ĐẾN 1
NĂNG SUẤT CHẤT LƯỢNG SỮA CỦA ĐÀN BÒ SỮA 1
NUÔI TẠI TRANG TRẠI CTCP SỮA TH Ở 1
XÃ NGHĨA SƠN - NGHĨA ĐÀN 1
* Các chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất và các nhân tố ảnh hưởng tới sản lượng sữa
của bò 15
PHẦN MỞ ĐẦU

sữa của trang trại TH.
- Xác định được hiệu quả của việc thay thế thức ăn xanh bằng thức
ăn ủ chua trong khẩu phần thức ăn của bò sữa.
3. Nội dung nghiên cứu
- Thực trạng đàn bò sữa tại trang trại bò sữa CTCP sữa TH ở xã
Nghĩa Sơn, huyện Nghĩa Đàn - Nghệ An
6
- Nghiên cứu một số chỉ tiêu về sinh trưởng và cấu tạo thể hình của
đàn bê cái hậu bị và đàn bò tơ hướng sữa nuôi tại trang trại bò sữa CTCP
sữa TH ở xã Nghĩa Sơn, huyện Nghĩa Đàn - Nghệ An
- Nghiên cứu các chỉ tiêu sinh lý sinh dục và khả năng sản xuất sữa
của đàn bò sữa nuôi tại trang trại bò sữa CTCP sữa TH ở xã Nghĩa Sơn,
huyện Nghĩa Đàn - Nghệ An
- Nghiên cứu ảnh hưởng của của cây ngô ủ chua đến khả năng sản
xuất của bò sữa
4. Đóng góp mới của đề tài
Việc sử dụng cây ngô ủ chua làm thức ăn chăn nuôi bò sữa không
làm ảnh hưởng đến chất lượng và giá thành sản xuất sữa. Vì thế Có thể
sử dụng cây ngô ủ chua thay thế một phần thức ăn xanh cho bò sữa, góp
phần chủ động giải quyết nguồn thức ăn xanh cho bò trong vụ đông
khan hiếm thức ăn xanh tại địa phương.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1. Đặc điểm sinh trưởng và sinh sản của bò
1.1.1.1. Khái niệm về sinh trưởng
Sinh trưởng là sự tăng về chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng
của cơ thể và các bộ phận trong cơ thể.
Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, Nguyễn Tiến Văn, 1992
[20]: Theo Gartner - 1992, quá trình sinh trưởng được xem trước tiên

thống, xác định cơ chế thích ứng của cơ thể với điều kiện ở giai đoạn
8
sau. Vì vậy, việc chăm sóc, nuôi dưỡng tốt gia súc mẹ trong giai đoạn
này là cần thiết. Nó sẽ đem lại hiệu quả cao cho sức sinh sản sau này.
Giai đoạn ngoài cơ thể mẹ: Bắt đầu từ lúc con vật được sinh ra cho
đến lúc con vật già và chết. Ở giai đoạn này cơ thể vẫn tiếp tục quá trình
sinh trưởng phát dục của nó. Người ta chia giai đoạn này thành các thời
kỳ sau: Thời kỳ bú sữa, thời kỳ thành thục, thời kỳ trưởng thành và thời
kỳ già cỗi.
Giai đoạn ngoài cơ thể mẹ, tốc độ sinh trưởng phát dục của cơ thể
vẫn rất mạnh, nhưng trong mỗi thời kỳ có những đặc thù riêng, chẳng
hạn trong thời kỳ mới đẻ và bú sữa các loại xương ngoại vi phát triển
mạnh, do đó con vật tăng về chiều cao. Nếu trong thời kỳ đầu khối lượng
cơ thể tăng lên do sự phát triển c ủa mô, cơ và xương thì ở kỳ sau khi
con vật trưởng thành cơ thể bắt đầu tích lũy mỡ. Ngoài ra, sự sinh trưởng
của gia súc còn tuân theo quy luật phát triển không đồng đều và quy luật
phát triển theo chu kỳ.
* Quy luật phát triển không đồng đều
Cơ thể gia súc không phải bất cứ lúc nào, hay lứa tuổi nào cũng
phát triển theo một quy luật, một sự cân đối từ đầu đến cuối. Sự sinh
trưởng phát dục của gia súc trên toàn bộ cơ thể hay ở từng cơ quan, bộ
phận còn có sự thay đổi theo tuổi. Sự thay đổi này cũng khác nhau về
cường độ, tốc độ ở các lứa tuổi khác nhau.
Tính khác biệt trong sự phát triển đó cũng chính là quy luật phát
triển không đồng đều của gia súc và được biểu hiện ở nhiều mặt như: Sự
không đồng đều về tăng trọng, lúc gia súc còn nhỏ, khả năng tăng trọng
ít nhưng sau đó tăng trọng nhanh hơn, đến thời kỳ trưởng thành tăng
trọng lại giảm đi, rồi ổn định.
Cuối cùng nếu được nuôi dưỡng tốt gia súc sẽ tích lũy mỡ (giai
đoạn nuôi vỗ béo). So sánh trong cùng loài với nhau, thì ở bất kỳ loài gia

lên trong một đơn vị thời gian, với khối lượng thường xác định là khối
lượng cơ thể tăng lên/ngày (g/con/ngày). Sinh trưởng tuyệt đối thường
được biểu diễn bằng biểu đồ hình cột. Sinh trưởng tương đối: Là tỉ lệ
phần trăm tăng lên về khối lượng, kích thước của con vật trong một
khoảng thời gian nào đó. Sinh trưởng tương đối được biểu diễn bằng đồ
thị, đường cong có hướng đi xuống (giảm dần). (Nguyễn Văn Bình, Trần
Văn Tường, 2007) [2].
Việc đánh giá sự phát triển của vật nuôi qua xác định kích thước các
chiều đo cũng là một nội dung quan trọng, đặc biệt trong việc đánh giá
con giống theo hướng sản xuất của chúng.
1.1.1.4. Khả năng sinh sản, sức sản xuất và các nhân tố ảnh hưởng
tới sản lượng sữa của bò
* Sinh sản và sức sản xuất
Sinh sản là một quá trình sinh lý ph ức tạp, chịu tác động của tính di
truyền và môi trường xung quanh. Hoạt động sinh dục do tuyến yên
vùng dưới đồi (Hypothalamus) điều khiển, thông qua hệ thần kinh - thể
dịch.
• Sự thành thục về tính
Tuổi thành thục về tính là tuổi mà cơ quan sinh dục của bò cái đã
phát dục hoàn thiện, buồng trứng có noãn bào chín và có khả năng thụ
thai. Tuổi thành thục về tính đến sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc.
Tuổi thành thục về tính của bò Hà Lan là 401 ngày; bò Jersey là 359,6
ngày. (Nguyễn Văn Bình, Trần Văn Tường, 2007) [2].
Tuổi thành thục về tính phụ thuộc vào đặc tính di truyền của từng
giống, từng loài. Ngoài ra, tuổi thành thục về tính còn phụ thuộc vào các
yếu tố: Điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và khí hậu
• Chu kỳ tính và hiện tượng động dục.
11
Khi đã thành thục về tính cứ sau một khoảng thời gian nhất định
trong cơ thể quá trình trao đổi chất có nhiều thay đổi, trong cơ quan sinh

đến khi đẻ. Quá trình chửa được chia làm hai thời kỳ.
- Thời kỳ phôi: Từ lúc thụ thai đến 1/3 thời gian đầu của toàn bộ
thời gian chửa.
- Thời kỳ thai: Là 2/3 thời gian chửa còn lại. Thời kỳ này chia làm
hai giai đoạn là: Giai đoạn phát triển và phân hóa mô, phủ tạng và giai
đoạn làm tăng nhanh khối lượng tuyệt đối của thai. Thời gian chửa của
bò kéo dài 280 - 285 ngày.
• Sức sản xuất sữa:
Dưới tác động của hormone, nhũ tuyến phát triển và hoạt động sinh
sữa, thải sữa. Sữa được tạo thành trong các nang nhũ tuyến từ chất dinh
dưỡng của thức ăn. Để tăng lượng sữa, từ lúc còn nhỏ phải thường xuyên
xoa bóp bầu vú, đầu vú để kích thích nhũ tuyến phát triển. Ngay lúc gia
súc có mang và lúc vắt sữa cũng phải th ường xuyên xoa bóp vú.
Ở những năm đầu sản lượng sữa bò tăng dần lên: Sản lượng sữa lứa
thứ nhất bằng 75 - 80% lứa 3, lứa 2 bằng 85 - 90% lứa 3. (Dương Mạnh
Hùng, 2004) [15].
* Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của bò
Để kiểm tra và đánh giá khả năng sinh sản của bò cái người ta
thường dựa trên một số chỉ tiêu cơ bản sau:
• Tuổi động dục lần đầu
Khi gia súc thành thục về tính sẽ có biểu hiện động dục. Tuổi động
dục lần đầu là một chỉ tiêu quan trọng. Nó phản ánh tính dục và khả năng
sinh sản sớm hay muộn, có liên quan chặt chẽ với số lứa đẻ của một đời
con vật.
Tuổi động dục của các loài gia súc khác nhau thì khác nhau. Nó
ụphụ thuộc vào giống, trong cùng một giống thì các cá thể khác nhau có
tuổi động dục cũng khác nhau. Ngoài ra, các điều kiện về nuôi dưỡng,
chăm sóc và môi trường cũng ảnh hưởng đến tuổi động dục lần đầu.
13
Bê cái hậu bị nuôi để sinh sản và lấy sữa nếu được nuôi dưỡng tốt

* Các chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất và các nhân tố ảnh hưởng tới sản
lượng sữa của bò
Sản lượng sữa: Là toàn bộ lượng sữa mà cơ thể bò mẹ tiết ra trong
một chu kỳ khai thác sữa.
Sức sản xuất sữa: Người ta quy về sữa tiêu chuẩn để đánh giá khả
năng sản xuất sữa của bò. Sữa tiêu ch uẩn là sữa có tỷ lệ mỡ sữa 4% và
sữa tiêu chuẩn = 0,4S + 15F (Dương Mạnh Hùng, 2004) [15].
Trong đó: S: sản lượng sữa thường (kg)
F: sản lượng mỡ của sữa thường (kg)
• Các nhân tố ảnh hưởng đến sản lượng sữa:
Nhân tố giống: Các giống khác nhau cho sức sản xuất sữa khác
nhau. Các giống chuyên dụng hướng sữa cho sức sản xuất cao nhất. Bò
Hà Lan cho sản lượng sữa trung bình từ 4000 - 5000kg/chu kỳ, tỷ lệ mỡ
sữa: 3,2 - 3,8%; Các giống kiêm dụng có sức sản xuất sữa thấp hơn:
Sản lượng sữa trung bình của bò Kostrom từ 3500-4500kg/chu kỳ,
tỷ lệ mỡ sữa: 4 ,5 - 4,7%; Các giống bò chuyên thịt, lao tác, khả năng
sản xuất sữa thấp, chỉ đủ nuôi con. (Nguyễn Văn Bình, Trần Văn Tường,
2007 ) [2].
Yếu tố di truyền: Qua nghiên cứu cho thấy các tính trạng chất lượng
như: Tỷ lệ mỡ sữa, protein sữa… có hệ số di truyền cao, trong khi đó các
tính trạng số lượng như: Sản lượng sữa, khối lượng cơ thể… có hệ số di
truyền thấp hơn. Theo Nguyễn Văn Bình, Trần Văn Tường, 2007[2], hệ
số di truyền của một số tính trạng ở bò sữa như sau:
Các tính trạng. Hệ
số di truyền (h
2
)
Sản lượng sữa 0,32 - 0,44
Tỷ lệ mỡ sữa 0,60 - 0,78
15

thường có HSSS = 8-10. Ví dụ: Bò Hà Lan có khối lượng cơ thể trung
16
bình là 500- 600kg sẽ đạt sản lượng sữa trung bình 4500-5000kg/chu kỳ.
(Nguyễn Văn Bình, Trần Văn Tường, 2007 ) [2].
Ảnh hưởng của môi trường: Sức sản xuất của vật nuôi chịu ảnh
hưởng trực tiếp và gián tiếp của điều kiện môi trường như: Nhiệt độ, ẩm
độ, gió, bức xạ mặt trời, lượng mưa Những nhân tố này ảnh hưởng
thông qua năng suất và phẩm chất cây thức ăn và ảnh hưởng trực tiếp
qua sự kích thích hệ thống thần kinh - thể dịch và hệ thống enzym. Đối
với sản lượng sữa, sự tổng hợp phụ thuộc vào sự cung cấp liên tục các
hormone và sản phẩm trao đổi chất vào tuyến sữa. Sản lượng sữa ở các
loài có vú phụ thuộc vào thời vụ: Ở nhiệt độ từ 5 - 21
0
C thì sản lượng sữa
của bò không bị ảnh hưởng, nhưng nhiệt độ thấp hơn 5
0
C hoặc lớn hơn
21
0
C thì sản lượng sữa giảm từ từ, và khi nhiệt độ lớn hơn 27
0
C thì sản
lượng sữa giảm rõ rệt. (Nguyễn Văn Bình, Trần Văn Tường, 2007) [2].
Thời gian từ khi đẻ đến khi phối lại: Khi có thai sản lượng sữa của
bò giảm 15 - 20% và giảm nhiều hơn khi chửa trên 5 tháng. Do đó, cần
xác định thời gian của một chu kỳ sữa, thời điểm phối giống lại cho trâu
bò hợp lý để đạt được chỉ số ổn định về năng suất sữa. Qua nghiên cứu,
các nhà chăn nuôi đã thống nhất thời gian thích hợp cho một chu kỳ tiết
sữa là 270 - 300 ngày, bò cái cần được phối lại sau khi đẻ từ 60 - 80
ngày.

trong đó prôtêin hầu như không bị hao hụt, các loại vitamin cũng giữ
được nhiều hơn so với phương pháp phơi khô. Thức ăn đem ủ chua có tỷ
lệ tiêu hóa tương đối cao. Sau khi ủ, tuy một số chất dễ hòa tan bị hao
hụt nhưng những chất khó tiêu (như chất xơ), sau quá trình lên men lại
mềm ra hoặc chuyển sang trạng thái khác mà gia súc dễ tiêu hóa hơn.
Thức ăn ủ chua có thể dự trữ được trong một thời gian tương đối dài
mà không sợ bị biến chất, ủ chua còn là phương pháp chủ yếu để dự trữ
thức ăn trong suốt mùa đông. Chế biến, dự trữ bằng phương pháp ủ chua
18
rất ít bị phụ thuộc vào điều kiện khí hậu nên có thể làm vào bất cứ mùa
nào cũng được và tránh được những tổn thất (có khi rất lớn) do điều kiện
khí hậu gây ra. Phơi khô nếu bị mưa không những chất dinh dưỡng bị
mất nhiều mà còn có thể bị mốc hoặc lên men, thối, hỏng.
- Thức ăn ủ chua có thể diệt trừ được sâu bệnh và nấm mốc.
- Về mặt kinh tế thì làm hố ủ chua chi phí thấp hơn làm nhà kho.
Dung tích chứa thức ăn ủ chua nhỏ hơn dung tích chứa thức ăn phơi khô
rất nhiều (2 - 2,5 lần): Phơi khô 1m
3

có khoảng 60kg vật chất khô, ủ
chua 1m
3
có khoảng 150 kg vật chất khô.
1.1.2.2. Nguyên lý ủ chua
Thực chất của việc ủ chua là xếp chặt thức ăn tươi vào hố ủ kín
không có không khí. Nhờ kết quả của tác dụng lên men vi sinh vật sản
sinh các loại axit hữu cơ chủ yếu là axit lactic. Chính những axit hữu cơ
này là "thuốc bảo tồn" thức ăn, vì với nồng độ nhất định nó có thể ngăn
ngừa sự phân giải của thực vật do tác dụng của vi sinh vật. (Nguyễn Thị
Liên, Nguyễn Quang Tuyên, 2000) [18]. Trong quá trình ủ chua, các vi

O + 674 Kcal
19
Vì vậy, hiện tượng đầu tiên của quá trình này là nhiệt độ tăng cao.
Quá trình này xảy ra tương đối mạnh và kéo dài trong khoảng 6 - 8 giờ
sau khi ủ.
Khi đã sử dụng hết oxy trong hố ủ, tế bào thực vật chưa bị chết
ngay, mà nhờ có quá trình hô hấp đặc biệt nên tế bào vẫn có thể sống
thêm một thời gian nữa. Trong quá trình này, chất đường tích lũy trong
thức ăn tiếp tục bị phân giải cho ra rượu và axit hữu cơ.
C
6
H
12
O
6
+ 6O
2
→ 2CO
2
+ 2C
2
H
5
OH + 25 calo
C
2
H
5
OH + 2O
2

20
Có rất nhiều loại vi khuẩn có khả năng hình thành axit la ctic.
Nhưng với ủ chua thì vi khuẩn lactic đóng vai trò quan trọng. Sự sinh
trưởng của nó cần rất ít protit, mà dựa vào sự phân giải đường để bổ
sung cho nhu cầu về nhiệt năng . Đặc điểm trao đổi chất của các loại vi
khuẩn này là tiêu hao ít chất dinh dưỡng mà hình thành được nhiều axit
lactic, hình thành các loại vật chất khác ít. (Nguyễn Thị Liên, Nguyễn
Quang Tuyên, 2000) [18].
* Vi khuẩn butyric:
Sự phân bố của nó khá rộng trong thiên nhiên, nó cùng đất, thức ăn
đi vào hố ủ. Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh của loại vi khuẩn này cũng
giống như yêu cầu của vi khuẩn lactic. Nó cũng thuộc loại yếm khí kiềm
tính. Trong điều kiện thiếu ô xy sự sinh trưởng rất mạnh, khả năng chịu
đựng tới một phạm vi nhất định; khi PH giảm thấp tới dưới 4,2 thì sự
sinh sản bị gặp trở ngại, nếu axit lactic có nồng độ cao hơn chút nữa thì
chúng sẽ chết.
Khác với vi khuẩn lactic thì vi khuẩn butyric có khả năng phân giải
protit tạo nên các sản vật phân giải trung hòa phản ứng toan tính. Vi
khuẩn này còn phá hoại chất diệp lục. Kết quả là hình thành các điểm
màu vàng ở mức độ khác nhau trên thức ăn ủ chua. Vi khuẩn butyric còn
có khả năng hình thành bào tử, trong điều kiện bất lợi nó không bị chết,
khi pH thấp tới khoảng 4,2 bào tử vẫn được bảo tồn. Bào tử của loại vi
khuẩn này không chết khi đi qua đường tiêu hóa và do đó theo phân thải
ra ngoài dễ nhiễm bẩn vào sữ
Vì vậy cần tránh sự hình thành axit butyric, trước hết là phải tạo
điều kiện cho vi khuẩn lactic phát triển. Điều kiện trước tiên là phải có đủ
chất dinh dưỡng bởi vì sự phát dục của bào tử để hình thành vi khuẩn
butyric là khá chậm. Điều kiện thích hợp cho loại vi khuẩn này là
21
35 - 40

(trong trường hợp chăn nuôi trang trại dùng máy thái), vì như vậy mới dễ
22
nén và dễ lên men. Sau đó chất ngô vào hố ủ, để đảm bảo nén cho tốt,
chỉ chất vào hố ủ mỗi lớp ngô dầy 10 - 15cm rồi tiến hành nén ngay bằng
cách dậm chân hoặc dùng đầm, cho lần lượt đến khi đầy hố ủ. (chú ý
việc băm thái, chất vào hố, nén và đóng hố ủ phải được tiến hành trong
cùng một ngày). Cho thêm rỉ mật đường: Trong các loài cây thức ăn
nhiệt đới, lượng đường không đủ để sản sinh ra đủ lượng axit lactic, làm
chua cho toàn khối thức ăn. Do vậy cần bổ sung thêm rỉ mật đường để
tạo thuận lợi cho quá trình lên men lactic. Một hố ủ 1,5m
3
bổ sung 10 lít
dung dịch rỉ mật đường, cách làm như sau: dùng một ô doa có dung tích
10 lít, lấy 5 lít rỉ mật đường hoà vào 5 lít nước sạch, tưới đều cho mỗi
lớp 15 cm cây ngô thức ăn đã thái nhỏ và đã chất vào trong hố ủ trước
khi nén dậm lên. Cần định lượng tưới 10 lít dung dịch rỉ mật đều cho tất
cả các lớp thức ăn trong hố ủ. Đối với cây ngô sau khi thu hết bắp mà
đem ủ chua thì cần phải bổ sung 10 lít rỉ mật đường. Nếu không có rỉ
mật đường có thể dùng bột sắn thay thế (trích Phùng Quốc Quả ng,
Nguyễn Xuân Trạch, 2003) [26]. Theo Vũ Duy Giảng, 1997 [10], hàm
lượng đường tối thiểu là lượng đường cần thiết đảm bảo cho hoạt động
của vi khuẩn lactic hình thành axit lactic cần thiết để đạt nhanh pH = 4,2,
yếu tố quan trọng để bảo quản thức ăn ủ xanh.
Cỏ Pangola (Dgitaria decumbens) tỉ lệ đường tối thiểu là 5,0 lít. Cỏ
voi (Pennisetum pupuraum), tỉ lệ đường tối thiểu là 3,7 lít. Cỏ Ghine
(Panicum maximum), tỉ lệ đường tối thiểu là 6,0 lít. Để dễ ủ chua nên
hỗn hợp các loại cỏ nhiều đường cùng với các loại cỏ ít đường.
Đóng hố ủ: Sau khi toàn bộ thức ăn đã được nén chặt thành từng lớp
cho đến khi gần đầy hố, ta tiến hành đóng hố ủ lại bằng cách phủ một lớp
rơm có độ dày 5 cm lên đỉnh hố, sau đó đổ một lớp đất dày tối thiểu 30

Theo Nguyễn Thị Liên, 2000 [18]: Đối với bò sữa một ngày cho ăn
7 - 15kg, bò giống 4 - 7kg, bò cày kéo, bò thịt 5-10kg, bê 2,8 - 3,5kg, lợn
1 - 1,5kg, lừa và ngựa 5 - 7kg, dê và cừu 0,6 - 1,2kg.
24
Thức ăn ủ chua có thể sử dụng thay thế thức ăn thô xanh hoặc thay
thế một nửa trong khẩu phần ăn. Theo Phùng Quốc Quảng, Nguyễn
Xuân Trạch, 2003 [26]. Có thể sử dụng thức ăn ủ chua để thay thế một
phần cỏ tươi. Lượng thay thế khoảng 15 - 20 kg. Đối với bò sữa, nên cho
ăn sau khi vắt sữa để tránh cho sữa có mùi cỏ ủ. Khi thức ăn ủ chua đã bị
hỏng ta phải loại bỏ hoàn toàn để tránh gây ngộ độc. Không nên cho gia
súc ăn thức ăn ủ chua riêng mà cần trộn lẫn các loại thức ăn khác
(Nguyễn Xuân Trạch, 2005) [ 34].
1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài nước
1.2.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.2.1.1. Sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng của bò
Theo các tác giả nước ngoài, qúa trình sinh trưởng của gia súc chịu
sự tác động 2 yếu tố chính đó là: Đặc điểm di truyền của giống và môi
trường chăm sóc nuôi dưỡng và chọn lọc.
Trong thực tế cho thấy các giống khác nhau thì có khả năng sinh
trưởng khác nhau. Những giống bò thịt như Santa Gertrudis, Hereford
có tốc độ sinh trưởng nhanh, đạt 1000 - 1200 g/con/ngày, trong khi các
giống kiêm dụng thịt - sữa như Redsindhi chỉ có thể đạt tốc độ sinh
trưởng 600 - 800 g/con/ngày.
Eward Sasimonshi (1987) [43] có nhận xét khối lượng của động vật
phụ thuộc vào bản chất di truyền của loài, giống và các yếu tố: Tuổi, tính
biệt, yêu cầu thức ăn và thời tiết khí hậu.
Mensikova. H và Braner.P (1994) [56] khi nghiên c ứu về năng suất
sinh trưởng của 71 bò cái tơ giống Czech pied và 91 con lai Red và
White Holstein x Czech pied; 79 con lai Ayrshirớe iv Czech pied thấy
tăng khối lượng/ngày đêm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status