ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN THỊ PHƯƠNG NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN
HỮU CƠ VÀ TRỒNG XEN ĐẾN NĂNG SUẤT,
CHẤT LƯỢNG GIỐNG KHOAI LANG NHẬT
TÍM TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ: 60.62.01.10
LUẬN VĂN THẠC SỸ
KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Trần Ngọc Ngoạn
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tôi luôn
nhận được sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo GS.TS Trần Ngọc
Ngoạn. Thầy đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình học tập,
nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
1. GS.TS. Trần Ngọc Ngoạn, Phó hiệu trưởng, Trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên, đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình học tập,
nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
2. Các thầy cô giáo trong khoa sau Đại học Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên đã giành nhiều thời gian, công sức giúp đỡ tôi trong quá trình
học tập và thực hiện đề tài.
3. Gia đình và chính quyền địa phương xã Nam Tiến huyện Phổ Yên đã
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của các tập
thể, cá nhân đã dành cho tôi.
Thái nguyên, ngày 20 tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Phương
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CS : Cộng sự
CT : Công thức
3.1. Ý nghĩa khoa học 3
3.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
Phần 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
1.1. Phân loại, nguồn gốc và phân bố cây khoai lang 4
1.2. Giá trị dinh dưỡng và tầm quan trọng của cây khoai lang trong đời sống
con người và chăn nuôi 6
1.2.1. Các thành phần dinh dưỡng 6
1.2.2. Chất khô và tinh bột: 7
1.2.3. Xơ tiêu hoá 8
1.2.4. Protein 9
1.2.5. Các Vitamin và khoáng chất 9
1.3. Đặc điểm sinh trưởng phát triển của cây khoai lang 10
1.4. Yêu cầu ngoại cảnh của cây khoai lang 11
1.5. Tình hình sản xuất khoai lang trên thế giới và Việt Nam 13
1.5.1. Sản xuất khoai lang trên thế giới 13
1.5.2. Sản xuất khoai lang ở Việt Nam 15
1.5.3. Tình hình sản xuất khoai lang tại Thái Nguyên 16
1.6. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về bón phân hữu cơ và trồng
xen ở khoai lang. 17
Phần 2. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1. Vật liệu nghiên cứu 24
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 25
2.3. Nội dung nghiên cứu 25
2.4. Phương pháp nghiên cứu 25
2.4.1. Bố trí thí nghiệm 25
2.4.2. Quy trình kỹ thuật 27
2.4.3. Kỹ thuật trồng cây xen 28
2.4.4. Chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi 28
2.5. Phương pháp tính toán và xử lý số liệu 30
Phần 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31
3.2.7. Chất lượng khoai lang ở các công thức khác nhau 58
3.2.9. Ảnh hưởng của biện pháp trồng xen canh đến hiệu quả kinh tế
trồng khoai lang
60
Phần 4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 62
4.1. Kết luận 62
4.1.1. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ đến
giống khoai lang Nhật tím thấy 62
4.1.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của các cây trồng xen đến giống
khoai lang Nhật tím thấy 62
4.2. Đề nghị 63
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Tình hình sản xuất khoai lang trên thế giới giai đoạn
2009-2013 14
Bảng 1.2. Tình hình sản xuất khoai lang ở Việt Nam giai đoạn
2009 - 2013 16
Bảng 1.3. Tình hình sản xuất khoai lang tỉnh Thái Nguyên giai
đoạn 2009-2013 17
Bảng 1.4. Ảnh hưởng của phân chuồng đến năng suất củ khoai lang 21
Bảng 1.5. Kết quả bón các loại phân chuồng với các mức khác nhau 22
Bảng 3.1. Tỷ lệ sống của khoai lang Nhật tím từ khi trồng đến bén rễ
hồi xanh 32
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của
trồng xen
tới thời gian các giai đoạn sinh trưởng
của khoai lang Nhật tím trong các công thức thí nghiệm 51
Bảng 3.12. Ảnh hưởng của
trồng xen
tới chiều dài thân chính của khoai lang
Nhật tím trong các công thức thí nghiệm qua các thời kỳ 52
Bảng 3.13. Ảnh hưởng của các loại cây trồng xen đến khả năng phân cành của
cây khoai lang ở các công thức thí nghiệm sau trồng 80 ngày 53
Bảng 3.14. Ảnh hưởng của
trồng xen
tới khả năng nhiễm sâu bệnh hại chủ yếu
của khoai lang Nhật tím trong các công thức thí nghiệm 54
Bảng 3.15. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất củ của khoai lang
Nhật tím trong các công thức thí nghiệm 55
Bảng 3.16. Ảnh hưởng của các loại cây trồng xen đến NS thân lá, NS củ thực
thu, NS củ thương phẩm và NS sinh khối của khoai lang Nhật tím trong các
công thức thí nghiệm vụ Xuân 2014 56
Bảng 3.17. Ảnh hưởng của một số loại cây trồng xen đến chất lượng củ khoai
lang Nhật tím trong các công thức thí nghiệm vụ Xuân 2014 59
Bảng 3.18. Kết quả nghiên cứu năng suất cây trồng xen khi trồng xen với
giống khoai lang Nhật tím. 60
thiếu vốn ) mà vẫn cho năng suất.
Ngày nay, do điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển nên đã dần dần thay
thế vai trò của cây khoai lang trong đời sống hàng ngày, tuy nhiên, khoai lang
vẫn giữ được vị trí rất quan trọng trong nền sản xuất lương thực của chúng ta.
Trồng khoai đã trở thành một lĩnh vực trong nông nghiệp cho hiệu quả kinh
tế cao, bởi cây khoai lang gắn liền với việc xóa đói giảm nghèo ở vùng núi
phía Bắc Việt Nam. Khoai lang được dùng để làm thức ăn cho gia súc, dùng
cho công nghiệp chế biến, Ngoài ra khoai lang còn dùng trong y dược như:
Giống khoai lang tím có polyphenol chứa anthocyamin có tác dụng kháng ôxy
hoá rất mạnh, có khả năng kiềm chế đột biến của tế bào ung thư, hạ huyết áp,
phòng ngừa bệnh tim mạch Cây khoai lang có sắc tố có thể bào chế chất
nhuộm màu thực phẩm thiên nhiên thay sắc tố tổng hợp nhân tạo. Khoai lang
chứa nhiều loại vitamin A, B, C, E và các chất khoáng K, Ca, Mg, Fe, Se…,
giàu chất xơ thực phẩm. Tổ chức FAO của Liên Hợp Quốc đã đánh giá khoai
lang là thực phẩm bổ dưỡng tốt nhất của thế kỷ 21, đang được thị trường thế
giới rất ưa chuộng.
Khoai lang rất dễ trồng, nhân giống bằng dây, ít bị sâu, bệnh, chi phí đầu
tư trên đơn vị diện tích trồng khoai lang thấp thích hợp với nhiều hộ nông dân
nghèo trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình hiện nay. Với những ưu việt như
2
vậy, nên cây khoai lang ngày càng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm để đưa
cây khoai lang trở thành cây trồng chính trong nền sản xuất nông nghiệp.
Thái Nguyên là một tỉnh thuộc khu vực trung du miền núi phía Bắc, đây
là tỉnh được thiên nhiên ưu đãi về điều kiện khí hậu, địa hình, vị trí địa lý, đất
đai thuận lợi cho phát triển nông, lâm, ngư nghiệp và các ngành kinh tế khác.
Diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh chiếm 23% diện tích đất tự nhiên. Trong
sản xuất nông nghiệp của tỉnh, khoai lang là một cây trồng truyền thống với
diện tích năm 2013 là 6,1 nghìn ha, sản lượng đạt 38,8 nghìn tấn (Niêm giám
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của đề tài đã xác định được biện pháp kỹ thuật
bón phân, trồng xen góp phần hoàn thiện quy trình trồng khoai lang, làm tăng
năng suất, chất lượng, là cơ sở cho công tác chỉ đạo mở rộng diện tích trồng
khoai lang.
- Cung cấp tài liệu cho hệ thống khuyến nông tổ chức tập huấn hướng
dẫn kỹ thuật cho nông dân trồng khoai lang, góp phần tăng thu nhập cho nông
dân, đồng thời thúc đẩy thực hiện canh tác nông nghiệp theo hướng bền vững. 4
Phần 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Phân loại, nguồn gốc và phân bố cây khoai lang
Khoai lang (Ipomoea batatas (L) lam ) là một loại cây thân bò thuộc Họ
bìm bìm (Convolvulaseae). Chi khoai lang (Ipomoea) là chi thực vật lớn nhất
trong họ bìm bìm với khoảng 500 loài thuộc thân thảo, cây bụi hoặc dây leo. Các
Canyon (Peru) sau khi phân tích phóng xạ cho thấy có độ tuổi từ 8.000 đến
10.000 năm (Engel, 1970 [33]). Ngoài ra, các nhà khảo cổ học về cây khoai lang
còn được tìm thấy tại thung lũng Casma của Peru có độ tuổi xấp xỉ 2.000 năm
trước công nguyên (Ugent, Poroski, 1983) [47], Austin (1977) [27], OBrien
(1972) [41] và Yen (1982) [49] và cây khoai lang thực sự lan rộng ở Châu Mỹ
khi người Châu Âu đầu tiên đặt chân tới.
Vì vậy, khoai lang được coi là nguồn lương thực quan trọng của người
Mayan ở Trung Mỹ và người Peruvian ở vùng núi Andet (Nam Mỹ).
Vào năm 1492 trong chuyến vượt biển đầu tiên của Christopher
Columbus đã tìm ra Tân thế giới (Châu Mỹ) và phát hiện ra khoai lang được
trồng ở Hispaniola và Cuba. Từ đó, khoai lang mới thực sự lan rộng ở châu Mỹ
và sau đó được di thực đi khắp thế giới.
Đầu tiên khoai lang được đưa về Tây Ban Nha, tiếp đó lan tới một số
nước châu Âu và được gọi là Batatas (hoặc Padada), sau đó là Spanish Potato
(hoặc sweet potato).
Các nhà thám hiểm Bồ Đào Nha đã du nhập cây khoai lang vào châu Phi
(có thể bắt đầu từ Môdămbic hoặc Ănggôla) theo hai con đường từ châu Âu và
trực tiếp từ vùng bờ biển Trung Mỹ, sau lan sang Ấn Độ.
Các thương gia Tây Ban Nha đã du nhập cây khoai lang vào Philippin
(Yên, 1982) [49] và từ Philippin vào Phúc Kiến (Trung quốc) năm 1594. Tuy
nhiên, cũng có ý kiến cho rằng khoai lang vào Trung Quốc có thể sớm hơn từ Ấn
Độ hoặc Myanma.
6
Người Anh đã đưa khoai lang vào Nhật Bản năm 1615 nhưng đã không
phát triển được. Đến năm 1674 cây khoai lang đã được tái nhập vào Nhật Bản từ
Trung Quốc.
Cây khoai lang được trồng trong phạm vi rộng lớn giữa vĩ tuyến 40
0
lang tươi có 68% nước, 28% gluxit; 0,8% protein; 0,2% lipit; 1,3% xenlulo;
1,2% tro. Trong củ khoai lang khô hàm lượng này thay đổi, nó chứa 11%
nước; có tới 80% gluxit; 2,2% protein; 0,5% lipit; 3,6% xenlulo và 2,7% tro.
Về dinh dưỡng thân lá khoai lang, các tác giả Phùng Huy, 1980 [15] và
Bùi Huy Đáp, 1984 [6] đưa ra kết quả phân tích như sau: Thân lá khoai lang
tươi có chứa 1,21% protein; 3,4% lipit; 16,5% gluxit. Trong thân lá khoai
lang khô chứa 10,06% protein; 2,1% lipit; 38,4% gluxit.
Kết quả phân tích thành phần hoá học thức ăn Việt Nam do Viện Dinh
dưỡng - Bộ Y tế - NXB Y học Hà Nội - 2000 cho thấy: Trong củ khoai lang
tươi có có đầy đủ các chất dinh dưỡng protein, glucid, lipit, xơ tiêu hoá các
chất khoáng và các vitamin nhóm B, nhóm C đặc biệt trong củ khoai lang ruột
vàng (khoai lang nghệ) hàm lượng caroten rất cao (1470 mcg/100g tươi) là
nguồn cung cấp vitamin A rất tốt cho con người.
1.2.2. Chất khô và tinh bột:
Hàm lượng chất khô ở khoai lang thay đổi tùy theo giống, địa điểm
trồng, khí hậu, thời gian sinh trưởng, loại đất, thời vụ, thời gian sinh trưởng,
độ chín hay thành thục của củ, thời gian bảo quản (Bradburry and Holloway,
1988)[30]. Chất khô của khoai lang chứa 80 - 90% hydrat cacbon và 60 - 70%
tinh bột. Tuy nhiên mỗi vùng sinh thái khác nhau hàm lượng chất khô cũng
thay đổi. Ở Braxin hàm lượng chất khô biến động trong khoảng 22,9 đến
48,2% và từ 21% đến 39% đối với khoai lang trồng ở Nam Thái Bình Dương
(Bradbury và Hollway, 1988)[30].
Khi nghiên cứu các dòng, giống triển vọng tại Việt Nam, các tác giả Lê
Đức Diên và Nguyễn Đình Huyên,(1966)[3] cho thấy hàm lượng chất khô
của 25 giống khoai lang biến động từ 18,4% đến 41,5%.
Vũ Tuyên Hoàng và cộng sự, (1990)[10] khi nghiên cứu các giống
trồng trong vụ đông và vụ hè cho thấy hàm lượng chất khô biến động từ
23,4% đến 33,8 (vụ Đông) và 23,0% đến 33,0% (vụ Hè).
9
1.2.4. Protein
Nói chung củ khoai lang có hàm lượng protein thấp, nhưng do năng
suất thu hoạch cao nên sản lượng protein trên đơn vị diện tích không thua
kém các loại hạt ngũ cốc khác (Woolfe J. A., 1992)[51]. Theo tính toán
khoai lang cho năng suất protein trung bình 184 kg/ha so với lúa mỳ
(200kg/ha) và lúa nước (168 kg/ha) (Walter W. M. et al., 1984)[50]. Do
vậy, khoai lang là một trong những cây trồng chính của Thế giới có khả
năng cho 2 triệu tấn protein hàng năm. Trung bình protein thô là 5% chất
khô hay 1,5% chất tươi (Woolfe J.A., 1992)[51]. Hàm lượng protein thô
của khoai lang biến động phụ thuộc vào điều kiện canh tác, điều kiện môi
trường và các yếu tố di truyền. Yếu tố di truyền là yếu tố chủ yếu quyết
định sự biến động hàm lượng protein. Hàm lượng protein thô của khoai
lang biến động từ 1,3% đến hơn 10% chất khô.
Tại Việt Nam hàm lượng protein thô của 50 mẫu khoai lang biến động
từ 2,81% đến 6,22% chất khô hay từ 0,78% đến 1,98% chất tươi (trung bình
1,8%) (Lê Đức Diên, Nguyễn Đình Huyên, 1967)[4]; từ 2,73% đến 5,42%
chất khô (Hoàng Kim và CS, 1990)[17].
Ngô Xuân Mạnh, (1996)[22] khi nghiên cứu 28 dòng, giống khoai lang
đã cho thấy các giống khoai lang trồng vụ Đông ở miền Bắc Việt Nam, nói
chung có hàm lượng protein thô thấp biến động từ 0,47% đến 1,19% chất
tươi và trong vụ Xuân Hè từ 0,57% đến 1,49% chất tươi. Protein trong củ
khoai lang từ 2,81 - 6,22% chất khô, thuộc loại có giá trị dinh dưỡng cao,
chứa đủ 8 axit amin không thay thế cần thiết cho con người.
1.2.5. Các Vitamin và khoáng chất
Khoai lang là nguồn đáng kể cung cấp vitamin C (axit ascorbic) và
chứa một lượng vừa phải thiamin (vitamin B
1
2000 cho thấy hàm lượng caroten trong củ khoai lang ruột vàng rất cao đạt
1470 mcg/100g tươi.
Song song với việc đánh giá đặc tính sinh học của cây khoai lang, việc
đánh giá phẩm chất các phần được sử dụng làm thức ăn cho người và thức ăn
cho gia súc đã được nhiều nước chú ý. Trong 2 bộ phận của khoai lang được
sử dụng là thân lá và củ thì củ có vai trò quan trọng hơn cả. Bởi vì trong thành
phần của củ khoai lang tươi chứa 71,1% nước; 20,1% tinh bột; 2,38% đường;
1,43% protein; 1,16% xơ khẩu phần, các chất khoáng và một số vitamin quan
trọng đối với con người (Woolfe, 1992)[51].
1.3. Đặc điểm sinh trưởng phát triển của cây khoai lang
Khoai lang là cây trồng có khả năng sinh sản hữu tính và vô tính (
Nguyễn Văn Hiển, 2000) [8]. Khoai lang có thể nhân giống vô tính dễ dàng ở
11
các dạng: thân, ngọn, củ. Tuy nhiên sử dụng nhân giống vô tính thường xuyên và
lâu dài có thể dẫn tới thoái hóa giống.
Khoai lang cũng có thể sinh sản bằng hạt hay sinh sản hữu tính ( Vũ Đình
Hòa, 1996) [9]. Theo Martin và Jones, (1973) [39] cây khoai lang mẫn cảm với
độ dài ngày, ngày ngắn là điều kiện thích hợp cho sự ra hoa của cây khoai lang.
Tuy nhiên các giống khác nhau có sự phản ứng ra hoa khác nhau. Một số giống
ra hoa ở tất cả các mùa vụ, một số giống chỉ ra hoa trong điều kiện ngày ngắn,
trong khi đó một số giống không ra hoa trong bất kỳ điều kiện nào. Ngày ngắn là
yếu tố thuận lợi cho sự ra hoa của khoai lang, đặc tính ra hoa của khoai lang
mang gen trội được truyền lại cho các thế hệ sau và sự ra hoa không ảnh hưởng
đến năng suất củ ( Vu Đinh Hoa, 1994) [35].
Về hình thái, hoa khoai lang giống như các loài cây bìm bìm khác: hoa
hình chuông có cuống dài; hoa thường mọc ở nách lá hay đầu ngọn thân, mọc
riêng rẽ hoặc thành chùm 3 – 7 hoa. Hoa khoai lang là lộ, tràng hoa hình phễu,
mầu hồng tía, cành hoa dính liền, mỗi hoa có 1 nhị cái và 5 nhị đực cao thấp
Trong điều kiên nhiệt độ từ 10
0
C – 15
0
C hoặc thấp hơn nữa thì khả
năng phân hóa và hình thành củ hầu như không diễn ra [47].
Khoai lang có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nên cây khoai lang có phản
ứng ánh sáng ngày ngắn ( dưới 13 giờ ánh sáng/ngày), thời gian chiếu sáng
thích hợp trong một ngày từ 8 – 10 giờ ánh sáng.
Cường độ ánh sáng mạnh thuận lợi cho sự phát triển của củ khoai lang
nhưng cường độ ánh sáng yếu lại có tác dụng xúc tiến quá trình ra hoa của
khoai lang ( 26,4% cường độ ánh sáng trung bình). Cường độ ánh sáng thấp
làm giảm cả quá trình hóa gỗ và hóa bần đồng thời trì hoãn quá trình hình
thành củ. Hàm lượng đạm trong đất thấp làm giảm mức độ hóa gỗ và làm tăng
mức độ hóa bần, làm bộ rễ phát triển nghiêng về phía có nhiều rễ đực[32].
Theo Kotama và CS, 1965 [37] cho rằng đất có độ ẩm cao thường tăng
quá trình phát triển thân lá hơn quá trình phát triển củ. Do đó độ ẩm thích hợp
cho khoai lang là khoảng 70% - 80% độ ẩm tối đa đồng ruộng. Tuy nhiên nhu
cầu về nước đối với khoai lang qua từng thời kỳ sinh trưởng và phát triển
cũng khác nhau[38].
Giai đoạn từ trồng đến kết thúc tời kỳ phân cành kết củ thì độ ẩm đất:
65% - 75%.
Giai đoạn phát triển thân lá cần độ ẩm khoảng 50% - 60%.
13
Giai đoạn phát triển củ: Quá trình phát triển tập trung chủ yếu vào sự
vận chuyển tích lũy vật chất hữu cơ từ thân lá vào củ, để củ phát triển thuận
lợi cũng cần đảm bảo độ ẩm đất 70% - 80% độ ẩm tối đa đồng ruộng[23].
Khoai lang là cây dễ tính không kén đất, tuy nhiên thích hợp nhất cho
Năm
Di
ệ
n
t
í
c
h
(ha)
N
ă
n
g
s
u
ất
(
t
ấ
n
/
h
a
)
12,54
102,506
2011
8.221.866
12,79
105,172
2012
8.110.403
13,31
108,004
2013
8.240.969
13,43
110,746
Nguồn: Faostat, 2014 [34]
đứng thứ 3 sau lúa và ngô. Khoai lang là cây lương thực dễ trồng, đầu tư thấp
nhưng có tiềm năng năng suất cao. Từ xưa nông dân ta đã có truyền thống sử
dụng củ khoai lang làm lương thực thực phẩm và thức ăn gia súc. Hiện nay
lượng khoai lang được dùng làm lương thực cho con người giảm dần, chủ yếu
dùng làm thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu cho chế biến vì vậy ngoài những
giống khoai lang có năng suất củ cao, các giống thuộc nhóm có năng suất thân
lá cao, giống có hàm lượng đường, hàm lượng protein cao làm nguyên liệu
cho chế biến (bánh kẹo, chips khoai lang, ) cũng đang được người sản xuất
quan tâm. Những năm gần đây do việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng nên diện
tích khoai lang ở nhiều vùng bị thu hẹp lại. Tuy nhiên ở những vùng đất
nghèo dinh dưỡng, không chủ động tưới, cây khoai lang vẫn chiếm một diện
tích khá lớn (Mai Thạch Hoành, 2005)[14].
Sản xuất khoai lang nước ta không đồng đều cả về diện tích và trình độ
thâm canh, năng suất thấp và có sự chênh lệch khá lớn giữa các vùng sản
xuất. Năm 2013 diện tích khoai lang cả nước đạt 135,9 nghìn ha, năng suất
bình quân đạt 10,03 tấn/ha, sản lượng đạt gần 1.364 nghìn tấn. Bắc Trung Bộ
& duyên hải miền Trung dẫn đầu về diện tích trồng khoai lang là 42,7 nghìn
ha, tiếp đến là vùng Trung du và miền núi phía Bắc với diện tích là 34,8 nghìn
ha; đồng bằng Sông Hồng: 22,4 nghìn ha, đứng thứ ba. Về năng suất và sản
lượng dẫn đầu trong cả nước vẫn là vùng ĐBSCL.