Nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ và phụ phẩm nông nghiệp kết hợp với chế phẩm vi sinh đến đặc điểm định cư của bọ nhảy ( collembola) ở đất nông nghiệp đan phượng hà nội - Pdf 31

TRƢỜNG ĐH SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

MỞ ĐẦU
Việt Nam là nước nông nghiệp nên sản xuất nông nghiệp có ý nghĩa
sống còn đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội. Cùng với chăn nuôi, trồng
trọt - với nhân tố quan trọng bậc nhất là tài nguyên đất - là một trong hai hệ
thống nông nghiệp chính ở nước ta [12]. Qua hàng ngàn năm khai thác và sử
dụng một cách tối đa, đất nông nghiệp đang giảm dần diện tích canh tác. Chỉ
trong hơn 40 năm gần đây, thế giới đã mất đi khoảng 1/5 lớp đất màu mỡ ở
các vùng nông nghiệp do canh tác không hợp lý, thiếu hiểu biết kĩ thuật, thiếu
vốn đầu tư cùng trang thiết bị. Trung bình hàng năm, có khoảng 6 - 7 triệu ha
đất bị xói mòn và làm giảm sức sản xuất [8]. Vì lẽ đó, sản xuất bền vững là
hướng phấn đấu của ngành nông nghiệp nhiều nước tiên tiến trên thế giới hiện
nay. Bên cạnh việc thâm canh, xen canh, luân phiên các loại cây trồng thì tích
cực sử dụng phân hữu cơ, phụ phẩm nông nghiệp kết hợp với chế phẩm vi
sinh là một trong những phương thức đạt được kết quả khả quan trong những
nghiên cứu gần đây. Qua đó, tìm ra phương pháp thích hợp để cải tạo và nâng
cao độ phì cho đất, nâng cao năng suất cây trồng, bảo vệ môi trường.
Các phụ phẩm nông nghiệp chính là nguồn vật chất có khả năng tái tạo
cao, nhờ phối hợp và tận dụng nguồn vật chất này mà đất nông nghiệp được
bổ sung một lượng chất hữu cơ đáng kể sau mỗi vụ thu hoạch. Nâng cao khả
năng khai thác các nguồn phụ phẩm nông nghiệp kết hợp với công thức bón
phân hợp lý sẽ góp phần phát triển hơn nữa một nền nông nghiệp bền vững
nhằm xóa bỏ đói nghèo, đảm bảo an ninh lương thực và bảo vệ môi trường,
duy trì tính đa dạng sinh học đất nhờ việc sử dụng các nguyên liệu bản địa,
giảm thiểu các hóa chất nông nghiệp.

LƢƠNG THỊ HÀ – K32D


nghiệp. Bọ nhảy (Collembola) là một trong những đại diện chính của động vật
Chân khớp bé (Microathropoda) có số lượng phong phú và phân bố ở khắp
các loại hình sinh cảnh. Chúng tham gia tích cực vào các hoạt động sống ở
đất, là nhóm động vật tiên phong trong quá trình tạo đất và cũng là những đối
tượng dễ bị tác động khi có sự thay đổi tích chất lý, hóa của đất. Những

LƢƠNG THỊ HÀ – K32D

2

KHOA SINH - KTNN


TRƢỜNG ĐH SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

nghiên cứu gần đây ở Việt Nam về Collembola trong mối quan hệ hai chiều,
tương hỗ với các thành phần khác trong đất đã và đang được tiến hành. Tuy
nhiên, những nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón hữu cơ và kĩ thuật vùi
phụ phẩm kết hợp với chế phẩm vi sinh đến nhóm động vật đất này ở đất
nông nghiệp vẫn chưa đồng bộ và thiếu hoàn thiện.
Nhằm bổ sung thêm dẫn liệu mới cho hướng nghiên cứu này, chúng tôi
đã chọn đề tài: “ Nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ và phụ phẩm kết
hợp với chế phẩm vi sinh đến đặc điểm định cư của bọ nhảy (Collembola) ở
đất nông nghiệp Đan Phượng, Hà Nội”.
* Mục đích của đề tài
Nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ và phụ phẩm nông nghiệp kết
hợp với chế phẩm vi sinh đến đặc điểm định cư của bọ nhảy (thành
phần loài, phân bố, đặc điểm định lượng,…).

KHOA SINH - KTNN


TRƢỜNG ĐH SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Từ cuối thế kỷ 19, nhà tự nhiên học vĩ đại người Anh - Charles Darwin
(1809 – 1882) đã so sánh rất chính xác và hình tượng là: trước khi con người
phát minh ra lưỡi cày thì giun đất đã biết cày đất trước con người và sẽ cày
đất mãi mãi. Điều này cho thấy vai trò của các động vật không xương sống cư
trú trong đất với quá trình tạo đất, quá trình tuần hoàn vật chất và hình thành
độ phì nhiêu ở đất là vô cùng to lớn [8]. Không chỉ tiên phong trong quá trình
hình thành và tạo đất bằng sự phân hủy vụn thực vật (phân hủy và mùn hóa)
mà hệ động vật phong phú và đa dạng trong đất còn rất nhạy cảm với sự thay
đổi tính chất lý hóa của đất.
Trong thế giới sinh vật đất đa dạng và phong phú đó người ta không thể
không nhắc đến Bọ nhảy (Collembola), một trong những đại diện chính của
động vật chân khớp bé ở đất, có số lượng phong phú, phân bố ở khắp các loại
hình sinh cảnh đất và tham gia tích cực vào các hoạt động sống ở đất. Bọ
nhảy là nhóm động vật đầu tiên có mặt trong quá trình tạo đất và cũng là đối
tượng dễ bị tác động khi có sự thay đổi điều kiện môi trường sống.
1.1. Vài nét về tình hình nghiên cứu bọ nhảy trên thế giới.
Nghiên cứu về bọ nhảy trên thế giới đã được thực hiện từ rất lâu và được
tiến hành cơ bản trên nhiều lĩnh vực: nghiên cứu về khu hệ (đa dạng thành
phần loài, mô tả loài mới), về đặc điểm phân bố, nghiên cứu về đặc điểm hình
thái, sinh học, sinh thái và khai thác theo hướng sử dụng bọ nhảy như một
công cụ chỉ thị sinh học cho môi trường đất.


xuất bản. Cũng theo đó, trên thế giới hiện nay có khoảng 7000 loài bọ nhảy
được mô tả, trong đó có khoảng 400 loài được ghi nhận ở Anh và Ireland,
khoảng 2500 loài được biết đến ở châu Âu [22].

LƢƠNG THỊ HÀ – K32D

6

KHOA SINH - KTNN


TRƢỜNG ĐH SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

1.1.2. Nghiên cứu về sinh học:
- Collembola có kích thước nhỏ, chỉ dài khoảng 1-2 mm. Loài
Tetrodontophora bielanensis thuộc họ Onnychiuridae có thể đạt 9mm chiều
dài, một số thành viên thuộc phân họ Uchidanurinae (họ Neanuridae) có thể
dài hơn 10mm. Trong khi đó loài Megalothorax minimus chỉ dài chưa đến
0,5 mm [22].
- Collembola mặc dù nhỏ và sống chủ yếu trong đất và lớp thảm mục
nhưng nhiều loài có màu sắc đẹp: xanh, xám, đỏ sậm, vàng, cam, hồng,
trắng,… Loài Paralobella orousetii ở Việt Nam có đầu và phần trên của ngực
màu vàng, đoạn ngực dưới và bụng màu đỏ, đoạn còn lại của thân màu trắng.
- Một số nghiên cứu đã cho thấy Collembola thực hiện sự thụ tinh không
có giao phối, tức là không có sự chuyển tinh dịch của con đực vào ống dẫn
tinh của con cái - biểu hiện tính nguyên thủy của chúng. Đã xác định được
mối liên quan về thời gian và nhịp điệu giữa các pha của chu kỳ sinh sản, chu
kỳ lột xác và dinh dưỡng (Stebaeva, 1988) [21]. Năm 2008, hai nhà khoa học

một lần một tuần ngay cả sau khi đã thành thục sinh dục, tuy nhiên về kích
thước nó sẽ không lớn hơn. Phần lớn các loài bọ nhảy sống một năm hoặc ít
hơn, một số loài có thể sống lâu hơn (trong phòng thí nghiệm, loài
Pseudosinella decipiens sống được 67 tháng). Ở vùng nhiệt đới Collembola
có thể sinh sản ra nhiều thế hệ trong một năm, tuy nhiên ở vùng Nam Cực
với nhiệt độ thấp, một số loài có thể mất 4 năm cho mỗi thế hệ [24].
1.1.3. Nghiên cứu về sinh thái:
- Một số tác giả như: Uchernov, 1975; Vannier, 1975; Noesk, 1967;
Stebaeva, 1985; …(Chernova, 1988) [13] đã dành nhiều thời gian tìm hiểu về
một số đặc điểm sinh thái của Collembola. Collembola có mặt khắp mọi nơi
trên thế giới, từ tán cây rừng mưa nhiệt đới, trên bãi biển, bãi đá thủy triều,
trên bề mặt của ao nước ngọt và suối, trong các sa mạc của Úc và trên Nam
Cực lạnh giá. Bọ nhảy có thể tồn tại ở nhiệt độ thấp hơn -60 oC. Phần lớn
Collembola sống trong sinh cảnh có liên quan đến đất, tồn tại trong đất, trên
bề mặt đất: thảm mục, rêu mốc, phân, hang và tổ động vật ( Delamare –
Deboutteville, 1952; Gisin, 1952; Holer land, 1959 ) [1]. Nơi sống lớn thứ hai
là lớp thảm thực vật bên trên bề mặt đất. Đây là nơi sống chủ yếu của chúng

LƢƠNG THỊ HÀ – K32D

8

KHOA SINH - KTNN


TRƢỜNG ĐH SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

được tìm thấy ở những vùng ấm, ẩm. Ngoài hai nơi sống lớn trên, còn phải kể



TRƢỜNG ĐH SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

- Dinh dưỡng của bọ nhảy rất đa dạng. Chúng có thể ăn mùn đất, vụn hữu
cơ, mô thực vật sống, nấm, tảo xanh, phấn hoa,…thậm chí ăn xác bản thân
hoặc ăn thịt lẫn nhau (Palacois – Vargas, 1983) [19].
Đã có nhiều nghiên cứu đề cập đến ảnh hưởng của bọ nhảy đến quá trình
tạo đất. Simonov (1984) đã chứng minh rằng sự tham gia của bọ nhảy trong
phân hủy lá rụng ở điều kiện thí nghiệm đã làm tăng cao chất lượng mùn
(tăng từ 1,5 đến 2 lần lượng axit humic, sự ngưng kết của chúng cũng tăng
lên) [5].
Cykaskenly (1978), trong khi tiến hành đánh giá vai trò của các nhóm
động vật đất khác nhau trong quá trình phân hủy lớp thảm vụn thực vật đã xác
nhận rằng tốc độ phân hủy vụn thực vật với sự có mặt của chân khớp bé
(trong đó có bọ nhảy) có thể đạt tới hàng chục phần trăm tức là cao hơn một ít
sự đóng góp riêng của bọ nhảy vào hệ thống năng lượng nhờ ảnh hưởng của
chúng thông qua các quá trình vi sinh vật học [5].
Trong các giai đoạn đầu của sự phân hủy vụn hữu cơ có nguồn gốc khác
nhau đã có nhiều nhóm bọ nhảy mà những nhóm này được phân biệt rất rõ
ràng về thành phần số lượng. Ví dụ như với phân ủ và trong phân xanh ủ từ lá
cây họ đậu tương, được đặc trưng bởi phân bố của họ Hypogastruridae.
Trong khi đó, ở lớp thảm rừng, lại là các giống Entomobrya, Oschesella. . v.
v. . Ở giai đoạn cuối của quá trình phân hủy, đối với mọi cơ chất, là những
dạng thuộc giống Onychiurus, Mesaphorura, một số loài thuộc họ Isotomidae
không sắc tố. Chính sự khác nhau trên đã cho phép ta hiểu rõ về mối quan hệ
giữa bọ nhảy với đặc điểm sinh thái môi trường, cho phép coi sự cư trú của bọ
nhảy là chỉ thị sinh học chặt chẽ cho điều kiện đất, là chỉ thị sinh học tốt cho

vật chết (thối rữa) hay là nấm đang phát triển trên cây. Bởi vậy chúng trực
tiếp hấp thụ độc chất kim loại nặng. Do tỷ lệ C/N cao (10:1) nên lá cây
hubblong là thức ăn ưa thích của bọ nhảy. Trong các nghiên cứu về túi thảm
dùng lá cây hubblong cho thấy thu nhận được bọ nhảy trong thời gian dài nếu
không thay đổi thức ăn (Kallhartdt, 1991 – theo Nguyễn Thị Thu Anh,
2009)[5].
1.2. Tình hình nghiên cứu bọ nhảy ở Việt Nam
Ở Việt Nam, khu hệ bọ nhảy còn chưa được điều tra, nghiên cứu nhiều.

LƢƠNG THỊ HÀ – K32D

11

KHOA SINH - KTNN


TRƢỜNG ĐH SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Công trình đầu tiên về bọ nhảy ở Việt Nam được công bố 1948 của
Delamare – Debouttelille đã đề cập đến một số loài như Paronella
fissimueronata, Pseudosinella fallax,…
Cùng năm, Denis đã liệt kê danh sách 17 loài bọ nhảy Việt Nam từ các
địa phương như Vĩnh Phúc, Đắc Lắc, Đà Lạt, Đà Nẵng,…do Dawidoff thu
lượm được.
Năm 1965, Stach J. - nhà động vật học người Ba Lan đã lập danh sách
gồm 30 loài thuộc 9 họ, 22 giống trong đó có 20 loài mới cho khoa học trên
cơ sở bộ sưu tập bọ nhảy của Bartke thu từ Sapa - Lào Cai, bao gồm các loài
như: Isotomurus productus; Proisotoma musicola, Salina vietnamensis,…

về bọ nhảy tập trung vào hướng khai thác bọ nhảy với vai trò chỉ thị môi
trường, kiểm tra đánh giá chất lượng môi trường đất nông nghiệp. Các kết quả
nghiên cứu gần đây cho thấy:
Với liều lượng bón phân lân khác nhau có tác động khác nhau đến giá
trị của chỉ số định lượng Collembola. Ở liều lượng phân lân bón 60kg
P2O5/1ha có tác dụng kích thích sự sinh trưởng và phát triển của
Collembola nên có số loài nhiều nhất và độ đa dạng lớn nhất trong khu
vực thí nghiệm [2].
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của hiệu lực bón kali đến Collembola, các
tác giả đã cho rằng với mỗi một liều lượng bón phân kali khác nhau thì
giá trị chỉ số định lượng (số lượng loài, số lượng cá thể, mật độ trung
bình, chỉ số đa dạng H’, chỉ số đồng đều J’) cũng khác nhau [3].
Phân bón vi sinh cũng ảnh hưởng tích cực đến bọ nhảy ở chỗ: làm tăng
số lượng loài, tăng mật độ trung bình (tập trung ở một số loài ưa thích
phát triển trong loại phân này) [4].
Về ảnh hưởng của phụ phẩm nông nghiệp đến bọ nhảy Collembola
cũng đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu theo hướng này. Công
trình “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón hữu cơ từ rạ được xử lý với
vi sinh vật đến nhóm động vật chân khớp bé tại một số huyện thuộc tỉnh
Nam Định” đã đưa ra kết luận phân bón hữu cơ được xử lý từ rạ có ảnh
hưởng tích cực đến sự phát triển và tồn tại của bọ nhảy, thể hiện ở các

LƢƠNG THỊ HÀ – K32D

13

KHOA SINH - KTNN


TRƢỜNG ĐH SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

14

KHOA SINH - KTNN


TRƢỜNG ĐH SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, VÀ
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tƣợng, thời gian, địa điểm nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Bọ nhảy (Collembola) là động vật chân khớp bé cỡ hiển vi, thuộc lớp
Côn trùng (Insecta), ngành Chân khớp (Arthropoda).
2.1.2. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng X năm 2007 đến tháng VI năm 2009.
Thực hiện 6 lần thu mẫu ngoài thực địa.
Mẫu thu về được phân tích và xử lý số liệu tại phòng thí nghiệm phòng
Sinh thái Môi trường đất – Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật – Viện
Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
2.1.3. Địa điểm nghiên cứu
Các đợt điều tra, thu mẫu được thực hiện tại khu vực đất canh tác ở Hạ
Mỗ, Đan Phượng, Hà Nội.
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.2.1. Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm đồng ruộng bố trí trên 2 lô ruộng (lô 1 – công thức 1, lô 2 –
công thức 2). Mỗi lô ruộng chia làm 2 ô có diện tích bằng nhau: ô không bón


NPK
+

HC

+

PPNN

+

PPNN

+

CPVS

+

CPVS

ĐC

TN
Lô 1 - CT 1

TN
Lô 2 - CT 2

Ghi chú:


Lượng phân bón nền bao gồm:
N, P, K bón cho 1ha: 300kgN + 150kgP2O5 +

300kgK2O;

Lượng phân hữu cơ: 6 tấn /1ha.
Chế phẩm vi sinh Việt Nhật 16 – 8 – 14 (do Viện Thổ nhưỡng
Nông hóa sản xuất) : 800kg/ha.
Phụ phẩm: thân rạ, rơm, thân và lá ngô
2.2.2. Cơ cấu cây trồng
Giống lúa: Khang dân 18.
Giống ngô: VN 4.
2.2.3. Nghiên cứu ngoài thực địa
Mẫu định lượng thu theo phương pháp của Ghilarov, 1975. Các hố định
lượng được đào với kích thước 5cm x 5cm x 10cm, thu ở tầng A1 ( 0 – 10cm).
Từng mẫu đất được đào cho vào túi nilon riêng biệt và buộc chặt bên
trong có ghi nhãn đầy đủ ngày tháng năm, số thứ tự và địa điểm thu mẫu. Tại
mỗi lô ruộng thu 8 mẫu định lượng (bao gồm 4 mẫu ĐC và 4 mẫu TN) cho
một đợt điều tra. Mẫu định tính được thu một cách ngẫu nhiên trên bề đất theo
từng công thức bằng dụng cụ hút cầm tay.
2.2.4. Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
- Tách động vật ra khỏi đất:
Các mẫu thu ở thực địa về cho vào rây, đặt trên phễu, tách động vật ra
khỏi đất theo phương pháp phễu lọc “Berlese - Tullgren” dựa trên cơ sở tính

LƢƠNG THỊ HÀ – K32D

17



LƢƠNG THỊ HÀ – K32D

18

KHOA SINH - KTNN


TRƢỜNG ĐH SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Các ống nghiệm sau khi thu được từ phễu lọc sẽ được phân tích dần
từng ống nghiệm. Để tách mẫu, ta đổ ống nghiệm đã thu trên giấy lọc đặt sẵn
trên đĩa Petri để dưới kính núp hai mắt. Tách các nhóm động vật để riêng,
dùng kim nhỏ chuyển các cá thể cần định loại vào dung dịch KOH 10%,
ngâm khoảng 20 - 30 phút. Quan sát khi thấy mẫu vật chuyển sắc tố từ màu
đen sang màu đỏ, chuyển nhanh sang dung dịch axit lactic 5 – 10%, trong đó
lượng KOH thừa sẽ được trung hoà và mẫu sẽ duỗi ra ở tư thế thẳng. Việc
chuyển mẫu như vậy được nhắc lại một vài lần cho đến khi mẫu trở nên trong
hoàn toàn (có thể đun nóng KOH 10% ở nhiệt độ 50 - 600C để rút ngắn thời
gian tẩy mầu).
Quá trình định loại sơ bộ: phần lớn được tiến hành trên lam kính và
quan sát dưới kính hiển vi. Với các mẫu cần kiểm tra và bảo quản lâu dài làm
vật mẫu chuẩn thì phải làm tiêu bản cố định bằng dung dịch định hính Svan
có thành phần: nước cất: 20ml, Cloralhydrat : 60gr, Gôm arbic: 15gr,
Glucoza: 3gr, axit axetic: 20ml. Để làm tiêu bản cố định mẫu vật sau khi được
tẩy màu sẽ được chuyển vào trong giọt dung dịch định hình được đặt ở giữa
một lam kính phẳng, sao cho mẫu vật phải chìm ngập trong giọt dung dịch
định hình. Dùng kim nhỏ chỉnh mẫu theo tư thế cần quan sát sau đó dùng

N – Tổng số cá thể của seri mẫu
Độ ưu thế được phân ra 4 mức sau: ( Theo Chernova, 1988) [10].
- Rất ưu thế: > 10,00%
- Ưu thế: 5 – 9,99%
- Ưu thế tiềm tàng: 2 – 4,99%
- Không ưu thế: < 2,00%
Loài ưu thế là những loài có độ ưu thế đạt giá trị từ 5% trở lên.
+ Độ thường gặp (C):

C=

Na
x100 %
N

Trong đó : Na - Số lượng mẫu thu có chứa loài a.
N- Tổng số lượng mẫu của seri mẫu.
Loài phổ biến và loài ít gặp có giá trị độ thường gặp C ở những mức
sau.
- Gặp rất phổ biến: 75,00 – 100%
- Gặp phổ biến: 50 - 74,99%

LƢƠNG THỊ HÀ – K32D

20

KHOA SINH - KTNN


TRƢỜNG ĐH SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

H’ - Độ đa dạng loài.
S - Số loài có trong seri mẫu

* Trong quá trình định tên các loài, chúng tôi sử dụng các tài liệu phân
loại, các khoá định loại của Stach (1965), Fjellberg (1980), Chernova (1988),
Nguyễn Trí Tiến (1995),…
Tất cả các mẫu bọ nhảy sau khi phân tích, xử lý và định loại đều đã
được PGS. TS. Nguyễn Trí Tiến kiểm định lại.

LƢƠNG THỊ HÀ – K32D

21

KHOA SINH - KTNN


TRƢỜNG ĐH SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Thành phần loài và phân bố của bọ nhảy trên đất nông nghiệp Đan
Phƣợng, Hà Nội.
3.1.1. Danh sách thành phần loài bọ nhảy
Bảng 1. Thành phần loài và phân bố của bọ nhảy trên đất nông nghiệp
Đan Phƣợng, Hà Nội
ST
T
I



Họ Neanuridae Cassagnau, 1955
Giống Pseudachorutella Stach, 1949

2
III

Pseudachorutella asigillata (Borner, 1901)

+

+

Họ Isotomidae, Borner, 1931
Giống Folsomina Denis, 1931

3

Folsomina onychiurina Denis, 1931

+

+

+

+

+



7

I. punctiferus Yosii, 1963

+

+,đt

+

+

+,đt

+,đt

+,đt

+

+

+

IV

Họ Entomobryidae Schott, 1891
Giống Entomobrya Rondani, 1861



+

Giống Homidia Borner, 1906
12

Homidia glassa Nguyen, 2001

+

đt

+

Giống Lepidocyrtus Bourlet, 1839
13

Lepidocyrtus (Lepidocyrtus) cyaneus Tullberg, 1871

+

14

Lepidocyrtus (L.) sp.1

15

Lepidocyrtus (L.) sp.5

16


+

+
+

+

+

+,đt

+

+
đt
+

+
+

+

+

Giống Cyphoderus Nicolet, 1842
21

Cyphoderus javanus Borner, 1906.


+

+

+

24

S. bothrium Nguyen, 2001

+

+

+

+

+

đt

Giống Sphaeridia Linnaniemi, 1912
25

Sphaeridia pumilis ( Krausbauer, 1898)

26

Sph. zaheri Yosii, 1966

- Kết quả nghiên cứu về thành phần loài và đặc điểm phân bố của bọ
nhảy tại khu vực nghiên cứu được trình bày tại bảng 1 đã ghi nhận được 27
loài thuộc 15 giống nằm trong 8 họ: Hypogastruridae Borner, 1906;
Neanuridae Cassagnau, 1955; Entomobryidae Schott, 1891; Isotomidae,
Borner, 1931; Cyphoderidae, Borner, 1913; Paronellidae Borner, 1906;
Sminthurididae Borner, 1906; Sminthuridae Boner, 1913.
- Trong số 27 loài bọ nhảy phát hiện được có 21 loài đã được định tên
và 6 loài ở dạng sp. Trong những loài chưa được định tên này có thể có loài
mới cho khoa học. Các loài chưa định tên bao gồm: Entomobrya sp.2 ;
Lepidocyrtus (Lepidocyrtus.) sp.1; L. (L.) sp.5; L. (Ascocyrtus.) sp.1; L.
(Cynctocyrtus) sp.1; Sphyrotheca sp.1
- Có một loài chỉ thu được trong mẫu định tính là Sphyrotheca sp.1; 16
loài chỉ thu được trong mẫu định lượng và 10 loài thu được ở cả 2 mẫu định
tính, định lượng.
- Họ Entomobryidae có số lượng loài nhiều nhất với 13 loài (chiếm
48,25% tổng số loài), tiếp theo họ Isotomidae có 5 loài (chiếm 18,5%), họ
Sminthurididae có 4 loài (chiếm 14,8%), 5 họ còn lại là Hypogastruridae;
Neanuridae; Cyphoderidae; Paronellidae; Sminthuridae có 1 loài, chiếm 3,7%
tổng số loài.
- Số loài tập trung đông nhất ở giống Lepidocyrtus với 8 loài (chiếm
29,6% tổng số loài), giống Entomobrya có 3 loài (chiếm 11,11%); 3 giống
Isotomurus, Sminthurides và Sphaeridia đều có 2 loài (chiếm 7,4%); các
giống còn lại chỉ có 1 loài là: Xenylla, Pseudachotutella, Folsomina,
Isotomiella,

Cryptopygus,

Sinella,

Homidia,


(Acrocyrtus)

heterolepis,

Lepidocyrtus

(Ascocyrtus) sp.1, Sphaeridia zaheri, Sphyrotheca sp.1.
- Có 10 loài thu được ở cả mẫu định tính và mẫu định lượng: Xenylla
humicola, Cryptopygus thermophilus, Isotomurus punctiferus, Entomobrya
lanuginosa,

Homidia

glassa,

Lepidocyrtus

(Lepidocyrtus)

sp.1,

L.

(Ascocyrtus) concolourus, Cyphoderus javanus, Akabosia matsudoensis,
Sphaeridia pumilis.
- Có 1 loài chỉ thu được ở mẫu định tính là Sphyrotheca sp.1.
- Có 16 loài chỉ thu được ở mẫu định lượng: Pseudachorutella
asigillata, Folsomina onychiurina, Isotomiella minor, Isotomurus palustris,
Entomobrya muscorum, Entomobrya sp.2, Sinella coeca, Lepidocyrtus


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status