Hoàn thiện Kế toán chi phí sản xuất & tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần công nghiệp thương mại Sông Đà - Pdf 14

Lời nói đầu
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, để có được chỗ đứng trên thị trường cũng
như có thể cạnh tranh được với các sản phẩm nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam
cần tập trung hơn nữa trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm và cải tiến mẫu mã, bao
bì. Với một bao bì tốt, sản phẩm không những được bảo quản tốt mà còn gây được thiện
cảm đối với khách hàng, điều đó sẽ giúp doanh nghiệp tạo nên sức cạnh tranh với các
sản phẩm cùng loại trong và ngoài nước. Nắm bắt được nhu cầu đó của thị trường, công
ty Cổ phần công nghiệp thương mại Sông Đà đã được thành lập để chuyên sản xuất vỏ
bao bì cho các nhà máy xi măng như Hoàng Thạch, Hoàng Mai, Sông Đà, Phúc Sơn,
ChinFon..... Bên cạnh đó để đẩy mạnh tốc độ phát triển, công ty còn kinh doanh một số
ngành nghề khác như sản xuất giấy Việt Nga, kinh doanh vật tư vận tải, xuất nhập khẩu
hạt nhựa các loại...
Lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp quyết định sự tồn tại và
phát triển của mình trong môi trường cạnh tranh khốc liệt. Các doanh nghiệp phải tự
hạch toán kinh doanh, lấy thu bù chi đảm bảo có lãi. Do vậy tiết kiệm chi phí và hạ giá
thành là điều quan trọng để tăng lợi nhuận, mở rộng sản xuất kinh doanh. Đứng trên góc
độ quản lý, cần phải biết được nguồn gốc, con đường hình thành cũng như bản chất nội
dung cấu thành của chi phí và giá thành để có những quyết định phù hợp. Một trong
những biện pháp giữ vị trí quan trọng không thể thiếu được phải kể đến biện pháp quản
lý bằng công cụ kế toán mà cụ thể là kế toán tập hợp chi phí sản xuất, tính giá thành sản
phẩm.
Sau thời gian thực tập tại công ty cổ phần công nghiệp thương mại Sông Đà, em
nhận thấy công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của công ty
tuy đã tuân theo quy định của chế độ kế toán nhưng vẫn còn một số hạn chế cần khắc
phục. Vì thế em đã chọn Luận văn với đề tài “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần công nghiệp thương mại Sông Đà”.
Luận văn tốt nghiệp gồm ba chương sau:
Chương 1: Lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
trong các doanh nghiệp
1
Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại

Chi phí trong kỳ của doanh nghiệp là bao gồm toàn bộ phần tài sản đã hao mòn,
hoặc tiêu dùng hết cho quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ. Ngoài ra có các khoản
chi phí phải trả không phải là chi tiêu trong kỳ nhưng được tính vào chi phí trong kỳ.
Chi phí và chi tiêu là 2 khái niệm khác nhau nhưng có mối quan hệ mật thiết với
nhau. Chi tiêu là cơ sở phát sinh chi phí, không có chi tiêu thì không có chi phí. Chi phí,
chi tiêu không những khác nhau về lượng mà còn khác nhau về thời gian. Có những
khoản chi tiêu kỳ này nhưng chưa được tính vào chi phí trong kỳ (mua nguyên vật liệu
3
nhập kho) và những khoản tính vào chi phí trong kỳ nhưng thưc tế vẫn chưa chi tiêu. Sở
dĩ có sự khác biệt đó là do đặc điểm tính chất và phương thức vận động dịch chuyển giá
trị cuả từng loại tài sản vào quá trình sản xuất và yêu cầu kỹ thuật hạch toán chúng.
Việc phân biệt giữa chi phí và chi tiêu có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu
bản chất, nội dung, phạm vi và phương pháp hạch toán chi phí sản xuất.
Trong doanh nghiệp sản xuất, chi phí sản xuất bao gồm rất nhiều loại, nhiều
khoản khác nhau. Chúng tham gia vào quá trình sản xuất dưới những hình thức khác
nhau. Để thuận tiện cho công tác quản lý và hạch toán cần thiết phải phân loại chi phí
1.1.2. Phân loại chi phí sản xuất
Trong doanh nghiệp sản xuất, chi phí sản xuất bao gồm rất nhiều loại, nhiều
khoản khác nhau. Chúng tham gia vào quá trình sản xuất dưới những hình thức khác
nhau. Để thuận tiện cho công tác quản lý và hạch toán cần thiết phải phân loại chi phí
Phân loại chi phí sản xuất là việc sắp xếp các loại chi phí khác nhau vào từng
nhóm theo những đặc trưng nhất định. Trên thực tế có rất nhiều cách phân loại khác
nhau, tuy nhiên lựa chọn tiêu thức phân loại nào là phải dựa vào yêu cầu của công tác
quản lý và hạch toán.
* Phân loại theo yếu tố chi phí
Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí được chia thành 5 yếu tố:
- Yếu tố chi phí nguyên liệu, vật liệu: bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu
chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ, nhiên liệu, động lực... sử dụng
vào sản xuất kinh doanh (loại trừ giá trị dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu
hồi).

quá trình sản xuất, kinh doanh ở doanh nghiệp.
* Phân theo cách thức kết chuyển chi phí
Theo cách thức kết chuyển, toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh chia thành chi
phí sản phẩm và chi phí thời kỳ.
- Chi phí sản phẩm: là những chi phí gắn liền với các sản phẩm được sản xuất ra
trong một thời kỳ. Chi phí sản phẩm bao gồm: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí
nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung.
- Chi phí thời kỳ: là những chi phí phát sinh và ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận
trong một kỳ kế toán. Chi phí thời kỳ không phải là một phần giá trị sản phẩm sản xuất
mà chúng là những chi phí, phí tổn cần được khấu trừ ra từ lợi nhuận của thời kỳ mà
chúng phát sinh. Chi phí thời kỳ bao gồm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh
nghiệp.
5
* Phân theo quan hệ của chi phí với khối lượng công việc, sản phẩm hoàn
thành
Theo cách này, chi phí được chia thành biến phí và định phí
- Biến phí: là những chi phí thay đổi về tổng số, về tỷ lệ so với khối lượng công
việc hoàn thành ví dụ như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp...
- Định phí: là những chi phí không đổi về tổng số so với khối lượng công việc
hoàn thành, ví dụ các chi phí về khấu hao tài sản cố định, chi phí thuê mặt bằng....
Phân loại chi phí thành chi phí khả biến và chi phí bất biến có tác dụng lớn đối với
quản trị kinh doanh, phân tích điểm hoà vốn và phục vụ cho việc ra quyết định quản lý
cần thiết để hạ giá thành sản phẩm tăng hiệu quả kinh doanh.
* Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ và khả năng quy nạp chi phí
vào các đối tượng kế toán chi phí
- Chi phí trực tiếp : Là những chi phí chỉ quan hệ trực tiếp đến việc sản xuất một loại
sản phẩm, một công việc, lao vụ hoặc một hoạt động, một địa điểm nhất định và hoàn
toàn có thể hạch toán, quy nạp trực tiếp cho sản phẩm, công việc, lao vụ đó
- Chi phí gián tiếp : Là chi phí có liên quan đến nhiều sản phẩm, công việc, lao vụ,
nhiều đối tượng khác nhau nên phải tập hợp, quy nạp cho từng đối tượng bằng phương

định mức về chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch (thường là
ngày đầu tháng) nên giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các
định mức chi phí đạt được trong quá trình thực hiện kế hoạch giá thành.
- Giá thành thực tế: giá thành thực tế là chỉ tiêu được xác định sau khi kết thúc
quá trình sản xuất sản phẩm dựa trên cơ sở các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình
sản xuất sản phẩm.
* Theo phạm vi phát sinh chi phí
Theo phạm vi phát sinh chi phí, giá thành được chia thành giá thành sản xuất và
giá thành tiêu thụ
- Giá thành sản xuất (giá thành công xưởng): là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi
phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng
sản xuất, bộ phận sản xuất: bao gổm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công
trực tiếp, chi phí sản xuất chung
- Giá thành tiêu thụ (giá thành toàn bộ hay giá thành đầy đủ): là chỉ tiêu phản ánh
toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.
Giá thành toàn bộ của sản phẩm được tính theo công thức:
Giá thành toàn
bộ của sản phẩm
=
Giá thành sản xuất
của sản phẩm
+
Chi phí quản lý
doanh nghiệp
+
Chi phí
bán hàng
7
1.2.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối liên hệ mật thiết với nhau,

dở dang cuối kỳ
Khi giá trị sản phẩm dở dang (chi phí sản xuất dở dang) đầu kỳ và cuối kỳ bằng
nhau hoặc các ngành sản xuất không có sản phẩm dở dang thì tổng giá thành sản phẩm
bằng tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ.
1.3. Kế toán chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp
1.3.1 Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất
Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là giới hạn và phạm vi để tập hợp các chi
phí sản xuất phát sinh trong kỳ.
Xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất chính là việc xác định phạm vi,
giới hạn không gian mà ở đó có các chi phí xảy ra (phân xưởng, bộ phận sản xuất, giai
đoạn công nghệ, diện tích kinh doanh...) hay phạm vi, giới hạn của các hoạt động làm
8
phát sinh chi phí hoặc xác định phạm vi, giới hạn của các đối tượng chịu chi phí (sản
phẩm, đơn đặt hàng...).
Xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất một cách hợp lý sẽ là cơ sở cho
việc tổ chức hạch toán chi phí sản xuất, từ việc tổ chức hạch toán ban đầu đến tổ chức
tổng hợp số liệu, ghi chép trên tài khoản, sổ chi tiết...
Xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Trình tự, đặc điểm tổ chức sản xuất, quy trình công nghệ
- Trình độ quản lý và nhu cầu thông tin của quản lý
- Yêu cầu thông tin cho việc tính giá thành
- Trình độ và khả năng của bộ máy kế toán
Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có thể là toàn bộ quy trình công nghệ sản
xuất (toàn doanh nghiệp), hoặc từng giai đoạn sản xuất, từng phân xưởng hoặc từng
nhóm sản phẩm, từng chi tiết, từng sản phẩm....
1.3.2. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất
Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất là một phương pháp hay hệ thống các
phương pháp được sử dụng để tập hợp và phân loại các chi phí sản xuất trong phạm vi
giới hạn của đối tượng hạch toán chi phí.
Tuỳ theo từng loại chi phí và điều kiện cụ thể có thể vận dụng các phương pháp

∑ T
i
i=1
Trong đó:
C
i
: Chi phí phân bổ cho đối tượng i
∑C: Tổng chi phí sản xuất đã tập hợp cần phân bổ

n
∑ T
i
: Tổng hệ số phân bổ
i=1
T
i
: Hệ số phân bổ của đối tượng i
Phương pháp phân bổ gián tiếp thường áp dụng đối với chi phí sản xuất chung
tuy nhiên các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp khi liên quan đến
nhiều đối tượng nếu cần thiết cũng phải phân bổ.
1.3.3. Kế toán chi phí sản xuất
1.3.3.1. Kế toán chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên
Phương pháp kê khai thường xuyên là phương pháp theo dõi, phản ánh thường
xuyên, liên tục, có hệ thống tình hình nhập - xuất - tồn kho vật tư, hàng hoá trên sổ kế
toán.
Phương pháp kê khai thường xuyên áp dụng thích hợp trong các doanh nghiệp
sản xuất và các đơn vị thương nghiệp kinh doanh mặt hàng có giá trị lớn.
 Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
10
* Nội dung chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

khai thường xuyên
11
Trong đó
(1): Xuất nguyên vật liệu sử dụng cho hoạt động sản xuất sản phẩm
(2): Mua nguyên vật liệu sử dụng ngay (không qua nhập kho) cho hoạt động sản xuất
sản phẩm.
(3): Giá trị nguyên vật liệu không sử dụng hết cuối kỳ nhập lại kho.
(4): Kết chuyển phần chi phí nguyên vật liệu trực tiếp vượt trên mức bình thường
(5): Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
 Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp
* Nội dung chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm các khoản phải trả cho người lao động trực
tiếp sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ thuộc danh sách quản lý của doanh nghiệp và
cho lao động thuê ngoài theo từng loại công việc như: tiền lương, tiền công, các khoản
phụ cấp có tính chất lương (phụ cấp khu vực, đắt đỏ, độc hại, phụ cấp làm đêm, thêm
giờ...) các khoản trích theo lương (Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn).
* Cơ sở hạch toán
TK 111, 331...
TK 152 TK 621
TK 1331
TK 152
TK 154
TK 632
(1)
(2)
(5)
(4)
(3)
12
Để hạch toán chi phí nhân công trực tiếp, kế toán căn cứ vào các chứng từ về lao

* Nội dung chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung phản ánh chi phí phục vụ sản xuất, kinh doanh chung
phát sinh ở phân xưởng, bộ phận, đội... phục vụ sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ
gồm: Lương nhân viên quản lý phân xưởng, bộ phận, đội; khoản trích bảo hiểm xã hội,
bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn được tính theo tỷ lệ quy định trên tiền lương phải trả
của nhân viên phân xưởng, bộ phận, đội sản xuất; khấu hao TSCĐ dùng cho phân
xưởng, bộ phận sản xuất; chi phí đi vay nếu được vốn hóa vào giá trị tài sản đang trong
quá trình sản xuất dở dang; chi phí sửa chữa và những chi phí khác liên quan đến hoạt
động của phân xưởng, bộ phận, tổ, đội sản xuất.
* Cơ sở hạch toán
TK 338
TK 334 TK 622
TK 335
TK 632
TK 154
(1)
(3)
(5)
(4)
(2)
14
Để hạch toán chi phí sản xuất chung kế toán căn cứ vào các chứng từ liên quan
đến các yếu tố chi phí phát sinh phục vụ sản xuất kinh doanh ở phân xưởng, bộ phận sản
xuất như bảng phân bổ tiền lương, BHXH, BHYT, KPCĐ, bảng phân bổ nguyên liệu,
vật liệu, công cụ dụng cụ, phiếu chi, uỷ nhiệm chi, hoá đơn GTGT, hoá đơn bán hàng
thông thường...
* Tài khoản sử dụng
Để theo dõi các khoản chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng tài khoản 627
“Chi phí sản xuất chung”. Tài khoản này cuối kỳ không có số dư và được mở chi tiết
theo từng phân xưởng, bộ phận, tổ, đội sản xuất.

* Phương pháp hạch toán
Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất chung được thể hiện qua sơ đồ sau
Sơ đồ 1.4: Sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất chung theo phương pháp kê khai
thường xuyên
16
Trong đó
(1): Chi phí nhân viên phân xưởng
(2): Chi phí nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ
(3): Chi phí theo dự toán
(4): Trích khấu hao TSCĐ thuộc phân xưởng, bộ phận sản xuất
(5): Các chi phí sản xuất khác mua ngoài
(6): Các khoản thu hồi ghi giảm chi phí sản xuất chung
TK 152, 153
TK 334, 338 TK 627
TK 142, 242, 335
TK 154
TK 632
(1)
(3)
(8)
(7)
(2)
TK 111, 112, 331...
TK 214
TK 1331
(4)
(5)
TK 111, 112,
152, 138...
(6)

(5): Tổng giá thành thực tế sản phẩm, lao vụ hoàn thành (nhập kho, gửi bán, tiêu thụ
thẳng)
1.3.3.2. Kế toán chi phí sản xuất theo phương pháp kiểm kê định kỳ
Theo phương pháp kiểm kê định kỳ, mọi biến động vật tư, hàng hóa không theo
dõi, phản ánh thường xuyên liên tục trên các tài khoản hàng tồn kho. Giá trị vật tư, hàng
hoá mua vào nhập kho được phản ánh trên một tài khoản riêng (Tài khoản 611 - Mua
hàng). Công tác kiểm kê vật tư, hàng hoá được tiến hành cuối mỗi kỳ hạch toán để xác
định vật tư, hàng hoá tồn kho thực tế, trên cơ sở đó kế toán phản ánh vào các tài khoản
hàng tồn kho. Như vậy, khi áp dụng phương pháp kiểm kê định kỳ, các tài khoản hàng
tồn kho chỉ sử dụng ở đầu kỳ hạch toán để kết chuyển số dư đầu kỳ và cuối kỳ hạch
toán để kết chuyển số dư cuối kỳ.
TK 622
TK 621 TK 154
TK 627
TK 155, 157, 632
TK 152, 632...
(1)
(3)
(5)
(4)
(2)
19
Phương pháp kiểm kê định kỳ thường được áp dụng ở những doanh nghiệp nhiều
chủng loại vật tư, hàng hoá với quy cách mẫu mã khác nhau, giá trị thấp và được xuất
thường xuyên.
 Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
* Cơ sở hạch toán
Để hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán căn cứ vào các chứng từ
như hoá đơn GTGT, hoá đơn bán hàng thông thường, phiếu chi, uỷ nhiệm chi, biên bản
kiểm kê vật tư, hàng hoá, phiếu báo vật tư còn lại cuối kỳ...

động tiền lương, chứng từ về các khoản phải nộp cho cơ quan quản lý quỹ và các chứng
từ thanh toán như phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành, bảng thanh toán
tiền lương, bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội...
* Tài khoản sử dụng
Để theo dõi các khoản chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng tài khoản 622
“Chi phí nhân công trực tiếp”. Tài khoản này cuối kỳ không có số dư và được mở chi
tiết theo từng đối tượng hạch toán chi phí
Kết cấu và nội dung phản ánh của tài khoản 622 - Chi phí nhân công trực tiếp
TK 111, 112,
141, 331...
TK 151, 152
TK 611 TK 621 TK 631
(1)
(2) (4) (5)
(3)
21
Bên Nợ:
Chi phí nhân công trực tiếp tham gia quá trình sản xuất sản phẩm bao gồm: Tiền
lương, tiền công lao động và các khoản trích trên tiền lương, tiền công theo quy định
phát sinh trong kỳ.
Bên Có:
- Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào bên Nợ TK 631 “Giá thành sản
xuất”
- Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vượt trên mức bình thường vào TK 632.
Tài khoản 622 không có số dư cuối kỳ.
* Phương pháp hạch toán
Phương pháp hạch toán chi phí nhân công trực tiếp được thể hiện qua sơ đồ sau
Sơ đồ 1.7: Sơ đồ hạch toán chi phí nhân công trực tiếp theo phương pháp kiểm kê
định kỳ
Trong đó

Bên Có:
- Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất chung
- Chi phí sản xuất chung cố định không phân bổ được ghi nhận vào giá vốn hàng
bán trong kỳ do mức sản phẩm thực tế sản xuất ra thấp hơn công suất bình thường.
- Kết chuyển chi phí sản xuất chung vào bên Nợ TK 631 “Giá thành sản xuất”
Tài khoản 627 không có số dư cuối kỳ.
Tài khoản 627 - Chi phí sản xuất chung có 6 tài khoản cấp 2: Tài khoản 6271,
6272, 6273, 6274, 6276, 6278 có nội dung như trình bày ở trên
* Phương pháp hạch toán
Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất chung được thể hiện qua sơ đồ sau
Sơ đồ 1.8: Sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất chung theo phương pháp kiểm kê định
kỳ
23
Trong đó
(1): Chi phí nhân viên phân xưởng
(2): Chi phí nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ
(3): Chi phí theo dự toán
(4): Trích khấu hao TSCĐ thuộc phân xưởng, bộ phận sản xuất
(5): Các chi phí sản xuất khác mua ngoài
(6): Các khoản thu hồi ghi giảm chi phí sản xuất chung
(7): Phân bổ (kết chuyển) chi phí sản xuất chung cho các đối tượng tính giá
TK 611
TK 334, 338 TK 627
TK 142, 242, 335
TK 631
TK 632
(1)
(3)
(8)
(7)

Trích đoạn Đặc điểm tổ chức quản lý và sản xuất Đặc điểm về tổ chức sản xuất Tổ chức công tác kế toán của công ty cổ phần công nghiệp thương mại Sông Đà Đặc điểm về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần Kế toán chi phí sản xuất tại công ty cổ phần công nghiệp thương mại Sông Đà
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status