TRƯƠNG TÚ HẠNH
MSSV: DPN010712
ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH
NHIỄM SÁN LÁ GAN Ở BÒ
TẠI
HUYỆN CHỢ MỚI, CHÂU THÀNH VÀ TRI
TÔN TRONG TỈNH AN GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NGÀNH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Ths. Nguyễn Thị Hạnh Chi
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP- TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
Tháng 6 . 2005
Tháng 6 . 2005
ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH NHIỄM SÁN LÁ GAN Ở BÒ TẠI
HUYỆN CHỢ MỚI, CHÂU THÀNH VÀ TRI
TÔN TRONG TỈNH AN GIANG
Do sinh viên: TRƯƠNG TÚ HẠNH thực hiện và đệ nạp
Kính trình Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xét duyệt
Long xuyên, ngày……tháng….năm ……..2005
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Ths. Nguyễn Thị Hạnh Chi
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP - TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP- TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn đính kèm với tên
đề tài: ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH NHIỄM SÁN LÁ GAN Ở BÒ TẠI HUYỆN
TÓM LƯỢC ii
MỤC LỤC iii
DANH SÁCH BẢNG v
DANH SÁCH HÌNH vi
Chương 1 GIỚI THIỆU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục tiêu đề tài 2
Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1. Điều kiện tự nhiên ở An Giang 3
2.1.1. Vị trí địa lý 3
2.1.2. Địa hình 4
2.1.3. Khí hậu 4
2.1.3.1. Nhiệt độ 4
2.1.3.2. Mưa 4
2.1.3.3. Lượng bốc hơi và độ ẩm không khí 5
2.1.3.4. Nắng 5
2.1.3.5. Thuỷ văn 5
2.2. Tình hình chăn nuôi thú y ở huyện Chợ Mới, Châu Thành và
Tri Tôn trong tỉnh An Giang
6
2.2.1. Tình hình chăn nuôi 6
2.2.2. Tình hình quản lý thú y 7
2.3. Đặc điểm sán lá gan 8
2.3.1. Hình thái 9
2.3.2. Trứng 9
2.3.3. Vị trí ký sinh và vật chủ trung gian 10
2.3.4. Chu trình phát triển 10
2.3.5. Bệnh lý 12
2.3.6. Phòng và trị bệnh 13
2.4 Tóm lược một số công trình nghiên cứu bệnh sán lá gan trên bò 14
Chương 1 GIỚI THIỆU
1.1. Đặt vấn đề
Trong tình hình hiện nay sự cạnh tranh các mặt hàng nông nghiệp trên thị
trường thế giới đang ngày càng diễn ra gay gắt. Vì vậy nước ta đang từng bước
không ngừng phát triển và nâng cao về số lượng lẫn chất lượng các sản phẩm nông
nghiệp. Để thúc đẩy ngành nông nghiệp phát triển, Nhà nước ta đã đề ra rất nhiều
biện pháp trong đó có biện pháp chuyển đổi cơ cấu cây trồng và vật nuôi; cùng với
việc chuyển đổi đó thì chăn nuôi bò thịt và bò sữa đã và đang được phát triển mạnh
mẽ. An Giang là một trong những tỉnh đi đầu trong việc phát triển chăn nuôi bò, vì
tỉnh ta được toạ lạc trên vùng đất có nhiều điều kiện thuận lợi phát triển ngành này.
Để chăn nuôi bò đạt hiệu quả cao, tỉnh đã phát động chương trình Sind hoá
đàn bò, nên đàn bò trong tỉnh không ngừng gia tăng về số lượng và chất lượng. Tuy
nhiên kiến thức của người chăn nuôi còn hạn chế ở nhiều khâu như: chọn con giống,
dinh dưỡng, phương thức chăn nuôi, cách phòng bệnh,….Trong phòng chống bệnh
thì bệnh truyền nhiễm là nguy hiểm, kế đến là bệnh ký sinh. Theo các tài liệu trong
nước cũng như ngoài nước cho biết bệnh ký sinh trùng gây thiệt hại không nhỏ đối
với ngành chăn nuôi. Các bệnh truyền nhiễm do virus, vi khuẩn, … phát ra một cách
dữ dội nhưng cũng mất đi nhanh chóng, còn bệnh ký sinh trùng kéo dài rất lâu gây
tổn thất rất lớn về kinh tế.
Mặt khác, bệnh ký sinh trùng còn làm tổn thương các tổ chức tế bào, mở
đường cho các bệnh truyền nhiễm xâm nhập. Đặc biệt là bệnh sán lá gan do
Fasciola gây ra làm trâu bò có biểu hiện như tiêu chảy, thiếu máu, vàng da, giảm thể
trọng,… Ngoài ra, bệnh còn gây nguy hiểm đến sức khoẻ của con người.
Những nghiên cứu gần đây tổng kết tình hình nhiễm sán lá gan ở trâu bò
ngày càng cao, đặc biệt là khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Qua những vấn đề trên chúng ta thấy bệnh sán lá gan ở bò có tác hại nghiêm
trọng. Trong khi ngành chăn nuôi ở tỉnh ta ngày càng nhân rộng trên nhiều vùng như
vùng cù lao, vùng đồng bằng và vùng đồi núi, nhưng phần lớn người chăn nuôi chưa
đặc biệt quan tâm và chưa có biện pháp phòng trị cụ thể nhằm giảm thiểu tối đa thiệt
hại cho đàn gia súc.
và Đông Bắc giáp tỉnh Kiên Giang, phía Đông Nam giáp tỉnh Cần Thơ.
Hình 1: Vị trí địa lý tỉnh An Giang (Hồ Việt Hiệp, 2002)
Diện tích toàn tỉnh 3.406 km
2
và đứng thứ 4 ở Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Chợ Mới có diện tích tự nhiên là 354,91 km
2
, có 16 xã và 2 thị trấn.
Châu Thành có diện tích tự nhiên là 347,28 km
2
, gồm 12 xã và 1 thị trấn.
Tri Tôn có diện tích tự nhiên là 597,575 km
2
, gồm 13 xã và 2 thị trấn.
2.1.2. Địa hình
Sự hình thành và tồn tại của sông Tiền, sông Hậu ở phía Đông Bắc và chuỗi
đồi núi ở phía Tây Nam đã chia lãnh thổ tỉnh thành 3 vùng với những đặc trưng rõ
nét:
- Vùng cù lao: Gồm huyện An Phú, Tân Châu, Phú Tân và Chợ Mới. Độ
cao trung bình của vùng từ 1,3 – 3 m, tồn tại các sông đê và dãy đất cao
dọc theo các sông và trũng dần vào trong. Dọc theo ven đê về phía đồng
thường có khu trũng cục bộ.
- Vùng đồng bằng thuộc Tứ Giác Long Xuyên: Bao gồm Thành Phố Long
Xuyên và thị xã Châu Đốc, các huyện Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn và rìa phía
Đông các huyện Tri Tôn, Tịnh Biên. Độ cao trung bình của vùng từ 1,2 – 3 m và
nghiêng đều xuống tới giáp Kiên Giang. Theo dãy đất rìa phía đồng huyện Tri Tôn
và Tịnh Biên có nhiều khu vực trũng đến 0,8 m hoặc trũng hơn.
- Vùng đồi núi thấp: Chiếm phần lớn diện tích của hai huyện Tri Tôn và
Tịnh Biên với nhiều núi có đỉnh cao từ 4 – 40 m và độ dốc phổ biến 3 – 8
0
- Tổng số giờ nắng của tháng cao nhất: 282 giờ (tháng 3).
Vào những tháng mùa khô, số giờ nắng bình quân mỗi ngày thường cao hơn
2 giờ so với ngày ở các tháng mùa mưa.
2.1.3.5. Thuỷ văn
An Giang có hệ thống sông chằng chịt, có nguồn nước ngọt quanh năm thuận
lợi cho việc sản xuất nông nghiệp. Do điều kiện địa hình có thể chia ra thành 3 vùng
thủy văn như sau:
- Vùng cù lao:
+ Về mùa lũ, chịu ảnh hưởng lũ từ sông Tiền và sông Hậu, lũ vào nhanh và
sớm. Mực nước lũ ngập từ 1 – 2,9 m và phủ lên hầu khắp lãnh thổ vùng. Riêng Chợ
Mới bị ngập khi mực nước ngập sâu lên mức 2,8 – 3,3 m và mực nước lũ ngập nông
từ dưới 1 – 2,5 m. Phần phía Bắc Vàm Nao phụ thuộc chủ yếu vào lũ sông, phần
phía Nam Vàm Nao còn liên quan đến sự hoạt động của thuỷ triều.
+ Về mùa kiệt, biên độ triều biển Đông tại trung tâm vùng cù lao đạt khoảng
50 – 60 cm, nên có thể lợi dụng triều lên dẫn nước vào ruộng thông qua cống bửng.
+ Chợ Mới là vùng cù lao được bao quanh bởi sông Tiền, sông Hậu và sông
Vàm Nao. Ngoài ra, Chợ Mới còn có các rạch tự nhiên như rạch Ông Chưởng và
rạch Cái Tàu Thượng. Hai rạch này khá dài và sâu. Rạch Ông Chưởng có hình dạng
uốn khúc như mình rồng, lấy nước sông Tiền ngay đầu thị trấn Chợ Mới.
Vùng bằng thuộc Tứ Giác Long Xuyên: là toàn bộ vùng bằng về phía hữu
ngạn sông Hậu.
+ Về mùa lũ, lượng nước lũ sông Hậu theo các kênh, rạch vào nội đồng Tứ
Giác Long Xuyên chiếm khoảng 20 – 25% và lượng nước lũ chảy tràn từ
Campuchia qua các cầu từ Châu Đốc đến Nhà Bàng chiếm khoảng 75 – 80% tổng
lượng lũ vào vùng Tứ Giác Long Xuyên.
+ Về mùa kiệt, lưu lượng và mực nước sông Hậu giảm nhanh, vùng Tứ Giác
Long Xuyên chịu ảnh hưởng triều biển Tây và triều biển Đông, mạnh nhất vào cuối
tháng 4 và sang đầu tháng 5.
- Vùng đồi núi thấp:
+ Thuộc hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, trừ các đồi núi và vùng ven, vùng
chức và thực hiện tốt việc tiêm phòng định kỳ, thực hiện công tác kiểm dịch động
vật, kiểm soát giết mổ nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh, xây dựng phương
án phòng và chống dịch bệnh cho gia súc, quản lý và cung ứng đầy đủ các loại thuốc
thú y, vaccin cho tất cả các địa bàn huyện, xã trong tỉnh.
Trung tâm khuyến nông có vai trò quan trọng trong ngành chăn nuôi, thường
xuyên mở các cuộc họp, hội thảo và tập huấn để cung cấp thông tin về kỹ thuật mới
cho các hộ chăn nuôi.
Hệ thống tổ chức thú y ở An Giang
- Sở NN & PTNT
*
: Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn.
Về tình hình dịch bệnh:
Do tổ chức tốt mạng lưới thú y ở cơ sở nên ngành Thú y đã nắm và quản lý
tốt tình hình dịch bệnh tại địa phương, tuy nhiên dịch bệnh còn xảy ra do ảnh hưởng
của điều kiện tự nhiên, thời tiết, khí hậu, kinh tế xã hội,… Cụ thể những năm gần
đây các bệnh truyền nhiễm lẻ tẻ xảy ra như bệnh lở mồm long móng, bệnh tụ huyết
trùng,… Các cán bộ thú y và người chăn nuôi đang có biện pháp tích cực trong
phòng trị các bệnh này. Bên cạnh đó, những bệnh ký sinh trùng gây ra cho gia súc
cũng đang diễn ra, nhưng hầu như chưa được các cán bộ thú y và người chăn nuôi
quan tâm phòng trị đúng mức về các bệnh này.
2.3. Đặc điểm sán lá gan
Theo Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1978) cho biết sán lá gan có các
đặc điểm sau :
Sán lá gan thuộc lớp sán lá Trematoda, họ Fasciolidae, giống Fasciola gây
ra. Chúng thường ký sinh ở ống dẫn mật, gan, túi mật của trâu, bò, dê, cừu và cả ở
người. Gây viêm gan hoại tử, thời kỳ di hành còn thấy ở phổi, tim, hạch lâm ba và
tuyến tuỵ. Ký sinh ở bò thường do hai loài Fasciola gigantica và Fasciola hepatica.
Hội khuyến nông xã
Thú y xã
Trạm Thú y huyện
Gần song song
Có
Có nhiều và thấy rõ
20 - 30 mm
3 - 13 mm
Tạo vai
Nhọn
Không song song
Có
Ít hơn
2.3.2. Trứng
Trứng có hình bầu dục, hai đầu nhọn đều, đầu hơi nhỏ hơn, có nắp, màu vàng
nhạt, bên trong chứa tế bào phôi xếp kín vỏ trứng.
Kích thước trứng 0,111 - 0,115 mm * 0,063 - 0,078 mm.
Mỗi ngày, một sán lá gan có thể đẻ 120.000 trứng. Sán có thể sống 3 - 11
năm trong cơ thể ký chủ cuối cùng. Do đó mỗi súc vật nhiễm sán, mỗi năm thải một
số lượng trứng khá lớn ra đồng cỏ, bãi chăn.
Trứng sán rất nhạy cảm với khô hanh và chịu tác động trực tiếp của ánh sáng
mặt trời. Nên những nơi khô ráo, không có nước và ký chủ trung gian sống thì trứng
sán lá gan sẽ không tồn tại và phát triển theo các giai đoạn phát dục được.
2.3.3. Vị trí ký sinh và vật chủ trung gian
Vị trí ký sinh: Túi mật, ống dẫn mật và gan.
Vật chủ: Trâu, bò, dê, cừu. Ngoài ra còn có ở heo, ngựa, chó, thỏ, động vật
hoang dã và kể cả người.
Vật chủ trung gian: Là loài ốc nước ngọt thuộc các loài Lymnaea viridis,
Lymnaea swinhoei, L. truncatula, L. modicella, L. viatrix, L. auricularia,…. và 29
loài ốc khác. Trong đó Lymnaea truncatula là quan trọng nhất trong lan truyền
Fasciola gigantica.
Nơi phát hiện: Fasciola gigantica được phát hiện khắp đất nước Việt Nam,
nhưng phân bố nhiều ở vùng ẩm thấp và có nguồn nước mạch phong phú.
huỷ, ấu trùng được giải phóng phát triển thành sán ở ống dẫn mật. Nếu trâu bò ăn
phải kén gây nhiễm, ấu trùng di hành về gan theo hai cách:
- Chui qua màng ruột đi vào xoang bụng về mặt gan, sau đó chui qua tế bào
gan vào ống dẫn mật.
- Đi theo mạch máu về tĩnh mạch cửa của gan, chui qua tĩnh mạch về ống dẫn
mật và túi mật.
Chu trình phát triển của sán lá gan được xác định với các khoảng thời gian
như sau:
- Ở trong môi trường nước (ao, hồ, rãnh, …): trứng sán lá gan nở thành mao
ấu sau 14 – 16 ngày.
- Ở trong ký chủ trung gian:
+ Mao ấu phát triển thành bào ấu trong 7 ngày.
+ Bào ấu thành lôi ấu trong 8 – 21 ngày.
+ Lôi ấu thành vĩ ấu non trong 7 – 14 ngày.
+ Vĩ ấu non thành vĩ ấu già trong 13 – 14 ngày.
- Ở trong nước (ao, hồ, rãnh,…): vĩ ấu rụng đuôi thành kén gây bệnh sau 2 –
24 giờ.
- Ở trong vật chủ trung gian cuối cùng: thời gian sán phát triển trưởng thành
là 79 – 88 ngày.
Hình 2: Vòng đời phát triển của sán lá gan (Clive Bennett, 1999)
2.3.5. Bệnh lý
Triệu chứng:
Gia súc mắc bệnh có biểu hiện chậm lớn, lông xù, khô, xơ xác, gầy và niêm
mạc nhợt nhạt.
- Thể cấp tính: ít xảy ra, con vật thường chết đột ngột, thiếu máu, đôi khi có
triệu chứng thần kinh, con vật uể oải, kiệt sức, thường chết sau vài ngày kể từ khi
xuất hiện triệu chứng.
- Thể mãn tính: thường xảy ra, con vật gầy yếu, da khô, lông xù, phù thủng
dưới cổ và dưới ngực và phân lúc lỏng lúc đặc.