THựC TRạNG Về HàNG VIệT NAM,
THựC TRạNG Về HàNG VIệT NAM, THựC TRạNG Về HàNG VIệT NAM,
THựC TRạNG Về HàNG VIệT NAM, NGƯời tiêu dùng việt nam,
NGƯời tiêu dùng việt nam, NGƯời tiêu dùng việt nam,
NGƯời tiêu dùng việt nam, cơ chế, chính sách đối với
cơ chế, chính sách đối với cơ chế, chính sách đối với
cơ chế, chính sách đối với ngời tiêu dùng và những vấn đề đặt ra
ngời tiêu dùng và những vấn đề đặt rangời tiêu dùng và những vấn đề đặt ra
ngời tiêu dùng và những vấn đề đặt ra
hóa của các doanh nghiệp Việt Nam bị thu hẹp trên thị trường quốc tế. Nhiều
doanh nghiệp phải hạn chế sản xuất và hàng hóa tồn đọng. Điều này kéo theo
những biến động tiêu cực trong nước, dẫn đến hoạt động sản xuất-kinh doanh
trong nước bị đình trệ, thất nghiệp gia tăng, gây hậu quả khôn lường đến đời
sống kinh tế chính trị xã hội ở Việt Nam. Trước yêu cầu đưa nền kinh tế đất
nước vượt qua khó khăn, thách thức, phát triển nhanh, bền vững, giải quyết tốt
an sinh xã hội, việc hỗ trợ kinh tế và kích cầu tiêu dùng, làm thay đổi nhận thức,
định hướng kinh doanh cho doanh nghiệp trong nước, tạo đà và duy trì tốc độ
tăng trưởng là những vấn đề hết sức quan trọng hiện nay. Tuy nhiên, thị trường
trong nước hiện gặp nhiều khó khăn do lâu nay nhiều doanh nghiệp ít quan tâm
đến thị trường tiêu dùng trong nước và tâm lý "sính ngoại" của người tiêu dùng
Việt Nam hiện vẫn đang ở mức "quá đáng". Nhiều mặt hàng của Việt Nam chất
lượng và giá cả bằng hoặc hơn hàng ngoại, nhưng vẫn không bán chạy bằng
hàng ngoại.
Trước tình hình đó, ngày 31/7/2009, Bộ Chính trị đã ban hành văn bản số
264-TB/TƯ thông báo Kết luận về việc tổ chức cuộc vận động "Người Việt
Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam". Mục đích của cuộc vận động là nhằm phát
huy mạnh mẽ lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc, xây dựng
văn hóa tiêu dùng của người Việt Nam và sản xuất nhiều hàng Việt Nam có chất
lượng, sức cạnh tranh cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
1. Đặc điểm về hàng Việt Nam và người tiêu dùng Việt Nam
1.1. Đặc điểm về hàng Việt Nam
Cho đến nay còn có nhiều cách hiểu khác nhau về thế nào là hàng Việt
Nam. Trước cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” của
Bộ chính trị, nhiều nơi đã đưa tiêu chí hàng Việt là hàng: phải sản xuất tại Việt
Nam, xuất xứ tại Việt Nam; chủ doanh nghiệp là người Việt,…Hàm lượng giá
trị gia tăng trong sản phẩm phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đánh giá.
TRUNG TÂM THÔNG TIN – TƯ LIỆU – SỐ 3/2013
2
đồ nhựa, dụng cụ gia đình phụ thuộc rất lớn vào nguyên phụ liệu nhập ngoại,
do vậy giá cả bấp bênh, không chủ động.
Đa số các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất trên thiết bị và công nghệ lạc
hậu từ những năm 50-60, năng suất lao động của Việt Nam thấp hơn từ 2-15 lần
so với khu vực và thế giới, do đó chất lượng hàng hoá không cao, dẫn tới khó
cạnh tranh với hàng hoá nhập ngoại của các nước có nền công nghiệp phát triển
tiên tiến. Đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật phục vụ cho sản xuất được đào tạo
chưa đầy đủ, chưa chuyên nghiệp, do vậy ảnh hưởng đến năng suất lao động và
chất lượng sản phẩm.
Việc xây dựng thương hiệu đăng ký sở hữu trí tuệ các sản phẩm Việt chưa
được coi trọng. Số thương hiệu nổi tiếng ở trong nước còn rất ít, còn lại đa phần
1
Theo báo cáo của Hội Siêu thị thành phố Hà Nội năm 2009
TRUNG TÂM THÔNG TIN – TƯ LIỆU – SỐ 3/2013
3
không có thương hiệu. Trong số các doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam 96% là
doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, vốn rất ít.
Một khía cạnh khác cần được đề cập, đó là tính cộng đồng, sự liên kết, hợp
tác giữa các doanh nghiệp Việt với nhau. Đa phần mạnh ai người đó làm, nhiều
khi còn cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp Việt với nhau. Sự
kém liên kết còn thế hiện giữa sản xuất và phân phối bán buôn, bán lẻ để tiêu thụ
sản phẩm. Ngoài ra, các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam thiếu chiến lược sản
xuất lâu dài và những phương thức tiếp cận thị trường tiêu thụ một cách khoa
học bài bản.
1.2. Đặc điểm về người tiêu dùng Việt Nam
Người tiêu dùng Việt Nam thường có 3 đặc điểm căn bản
2
TRUNG TÂM THÔNG TIN – TƯ LIỆU – SỐ 3/2013
4
để định hướng doanh nghiệp phát triển phù hợp kỳ vọng và lợi ích cộng đồng.
Triết lý “Tiêu dùng tạo ra Giá trị” cũng đặt ra vấn đề rất mới về mối tương
quan giữa tiêu dùng và sản xuất kinh doanh: mỗi hành vi tiêu dùng thông qua
doanh nghiệp đều gián tiếp đóng góp giá trị cá nhân vào hệ thống giá trị chung
của xã hội.
1.2.2. Tiêu dùng thông minh
Tiêu dùng thông minh là hành vi tiêu dùng dựa trên tư duy nhận thức, tiêu
dùng những gì mình biết, mình hiểu rõ, tập hợp những thông tin đầy đủ của sản
phẩm, của doanh nghiệp để đưa ra quyết định đúng đắn, không bị tác động của
những người tiêu dùng khác để bảo vệ lợi ích bản thân, cộng đồng và xã hội.
1.2.3. Tiêu dùng có trách nhiệm
Tiêu dùng có trách nhiệm là hành vi tiêu dùng mang tính xã hội cao. Người
tiêu dùng có trách nhiệm không chỉ là biết tiêu dùng những hàng hóa, dịch vụ
thỏa mãn nhu cầu đời sống cá nhân, biết lựa chọn những hàng hóa trong nước
sản xuất mà còn biết lựa chọn hàng hóa của những doanh nghiệp có trách nhiệm
với xã hội, đóng góp cho sự phát triển kinh tế cùng với việc nâng cao chất lượng
cuộc sống của cộng đồng và xã hội. Bên cạnh đó, người tiêu dùng còn biết thể
hiện quyền lực tối thượng của mình đối với những doanh nghiệp có hành vi xâm
phạm đến quyền lợi tiêu dùng, vi phạm pháp luật.
Tiêu dùng có trách nhiệm không chỉ là hưởng thụ. Việc tiêu dùng có trách
nhiệm là một phần không thể tách rời của kinh doanh có trách nhiệm. Chính
khách hàng là nhân tố thúc đẩy các nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ thay đổi
quan niệm về thương mại. Chính người tiêu dùng là động lực ủng hộ, định
hướng sản xuất kinh doanh thân thiện với môi trường. Cộng đồng tiêu dùng sẽ
cổ súy tinh thần và phong trào sử dụng sản phẩm sinh thái, thân thiện môi
trường sống của doanh nghiệp và sẽ liên kết lại, chia sẻ thông tin và trừng phạt
nhất ở các vùng nông thôn, xa các trung tâm đô thị, là thích đồ rẻ, không quan
tâm tới thương hiệu cũng như các vấn đề khác. Xu thế thứ 2 là chỉ thích hàng có
thương hiệu, mà phải là thương hiệu ngoại và đắt mấy cũng mua. Còn xu thế thứ
3 là tìm đến các thương hiệu trong nước có tên tuổi, có uy tín và có trách nhiệm
với người tiêu dùng. Chẳng hạn, liên quan đến ngày may mặc, từ năm 1996,
Công ty May 10 đã làm hàng sơ mi cho Pierre Cardin, nhưng phải mất nhiều
năm sau người tiêu dùng trong nước mới biết tới và thích dùng hàng Pierre
Cardin. Từ thực tế, cho thấy rằng người tiêu dùng Việt Nam là những người tiêu
dùng khó tính và khi mua hàng thì đòi hỏi giá sản phẩm không được cao mà chất
lượng lại phải tốt nhất.
1.3. Tình hình tiêu thụ hàng Việt Nam tại thị trường nội địa
Phát triển thị trường nội địa là một trong những giải pháp chiến lược hướng
vào mục tiêu phát triển bền vững, vừa nâng cao mức sống và đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng các tầng lớp dân cư, vừa thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển.
Chính vì vậy mà trong khi hoạch định các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội
trong từng thời kỳ, Chính phủ đều rất quan tâm đến mục tiêu nâng cao mức sống
các tầng lớp dân cư và phát triển thị trường nội địa.
Trong kế hoạch 5 năm 2001-2005, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề
án "Tiếp tục tổ chức thị trường trong nước, tập trung phát triển thương mại
nông thôn đến năm 2010" và đã triển khai thực hiện có kết quả. Bước vào kế
hoạch 5 năm 2006-2010, cùng với mục tiêu phát triển rộng và đều khắp thị
trường nội địa, tạo cơ sở cho phát triển xuất khẩu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của các tầng lớp dân cư, Thủ tướng
Chính phủ đã chỉ đạo nhiều Bộ, ngành xây dựng Đề án phát triển thị trường nội
địa đến năm 2010 với tầm nhìn đến năm 2020.
Việc thực hiện các đề án nêu trên với những cơ chế chính sách khuyến
khích và thúc đẩy đồng bộ đã mang lại những kết quả khích lệ. Thị trường nội
TRUNG TÂM THÔNG TIN – TƯ LIỆU – SỐ 3/2013
6
Thị trường nội địa giữ vai trò liên kết giữa nhà sản xuất và tiêu dùng, nó tác
động trực tiếp đến lợi nhuận của các nhà sản xuất và lợi ích của người tiêu dùng.
Sự phát triển của thị trường nội địa làm cho quá trình chuyển dịch hàng hóa gắn
liền với nhu cầu thực tế của thị trường, giúp cho nhà sản xuất có những điều
chỉnh thích hợp. Việc xây dựng và phát triển thị trường nội địa đã và đang trở
thành nhu cầu bức thiết trong việc ổn định kinh tế.
Từ vai trò và ý nghĩa quan trọng đó, Đảng và Nhà nước đã xác định: “Phát
triển thị trường nội địa là một giải pháp chiến lược hàng đầu hướng vào mục tiêu
phát triển bền vững có tác động nhiều mặt đến thúc đầy sản xuất kinh doanh,
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của toàn dân, nâng cao mức sống và góp phần bảo
TRUNG TÂM THÔNG TIN – TƯ LIỆU – SỐ 3/2013
7
đảm an sinh xã hội”
3
. Trong thời gian qua, chủ trương phát triển thị trường trong
nước để kích thích tiêu dùng nội địa đã được triển khai khá rộng lớn trên cả
nước với sự chỉ đạo điều hành của nhiều bộ, ngành và các cấp từ trung ương đến
địa phương, sự tham gia của các doanh nghiệp và sự đồng thuận của các tầng lớp
nhân dân, nên đã tạo được những kết quả quan trọng.
Nhìn chung, thị trường nội địa đã đạt được những tiến bộ nhất định, được
thể hiện ở các mặt sau đây:
- Thị trường đã được hình thành, từ chỗ bị cắt khúc theo địa giới hành
chính đến nay đã hình thành thị trường tương đối thống nhất, thông suốt trong cả
nước, từ thành thị, nông thôn tới miền núi, hải đảo,… Từ chỗ chỉ có 2 chủ
thể chính tham gia vào thị trường là thương nghiệp quốc doanh và hợp tác
xã buôn bán đến nay thị trường đã có nhiều chủ thể cùng tham gia. Trong đó,
khu vực ngoài nhà nước ngày càng khẳng định vị trí quan trọng của mình. Giá
cả nhiều mặt hàng đã được hình thành theo quy luật giá trị và cung - cầu hàng
8
nhân tố chính khiến thị trường nội địa được coi là thị trường có nhiều tiềm năng,
đó là cơ cấu dân số của Việt Nam. Hiện tại, Việt Nam với dân số trên 90 triệu
người sống trong nước, trong đó khoảng 70% là dân số trẻ. Thu nhập bình quân
đầu người tại Việt Nam hiện nay đã đạt trên mức 1300 USD/người/1 năm. Bên
cạnh đó, sức mua của các tầng lớp dân cư liên tục tăng. Chính sức mua của nhân
dân được kích thích nên đã thúc đẩy thị trường nội địa hoạt động tích cực và sôi
nổi, hiệu quả hơn.
Tại Việt Nam đang hình thành thế hệ khách hàng có sở thích “mua sắm”
ngày càng “sành điệu”. Tỷ lệ tiêu dùng so với GDP của Việt Nam cũng thuộc
loại cao so với các nước trong khu vực. Tỷ lệ này ở Việt Nam hiện nay là trên
70%, trong khi đó Singapore là 55,9%, Malaysia 58,2%, Thái Lan 67,7%. Hơn
nữa, Việt Nam cũng là cửa ngõ để dẫn vào các thị trường Đông Nam Á.
Chính phủ có nhiều chính sách và hành động cụ thể nhằm khuyến khích sự
phát triển của thị trường nội địa. Các gói kích thích kinh tế nhằm tháo gỡ những
khó khăn do tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã
tạo một cú hích và định hướng tiêu dùng nội địa, thúc đẩy mạnh mẽ hơn các
hoạt động kinh doanh, mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường trong nước, kể
cả khu vực nông thôn, nông nghiệp, nông dân. Năm 2009, Bộ Công thương triển
khai Đề án đầu tư 51 nghìn tỷ đồng để xây dựng và phát triển thị trường nội địa
đã có bước tiến mạnh mẽ. Cùng với đó, thì cuộc vận động “Người Việt Nam ưu
tiên dùng hàng Việt Nam” do Bộ Chính trị phát động, đã tạo nên những động
lực mới cho tiêu dùng nội địa.
Các doanh nghiệp đã tiếp cận và nắm bắt nhu cầu thị trường trong từng
vùng, từng nhóm dân cư, kể cả vùng sâu, vùng xa, vùng có khó khăn về giao
thông và triển khai vận chuyển hàng hóa, mở rộng mạng lưới bán buôn, bán lẻ,
nên tổng mức tiêu thụ hàng hóa tăng lên đáng kể. Đây là một tín hiệu tốt cho
việc tiếp tục phát triển thị trường nội địa khi thị trường xuất khẩu bị thu hẹp do
tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu. Tuy chưa có con số đánh giá chính thức,
.
Bảng 3: Điểm số và thứ hạng của thị trường bán lẻ Việt Nam
2007 2008 2009 Quốc gia
Điểm số
Thứ hạng Điểm số Thứ hạng Điểm số Thứ hạng
Việt Nam 74/100 4/185 88/100 1/185 55/100 6/185
Nguồn: A.T Kearney
Trước tình hình khủng hoảng kinh tế thế giới, các doanh nghiệp xuất khẩu
là đối tượng bị ảnh hưởng nhiều nhất và gặp nhiều khó khăn. Một số
doanh nghiệp đứng trước nguy cơ bị phá sản do thị trường xuất khẩu bị thu hẹp,
số lượng khách hàng và hợp đồng bị giảm sút và chắc chắn sẽ không thể
phục hồi nhanh được. Vì vậy, thị trường nội địa chính là cứu cánh, là lối thoát
cho các doanh nghiệp xuất khẩu trong lúc này. Thực tế cho thấy xu hướng quay
về thị trường nội địa của các doanh nghiệp xuất khẩu ngày càng rõ nét. Tuy
nhiên, để chiếm được thị phần và đứng vững tại thị trường này là một thách
thức không nhỏ đối với các doanh nghiệp.
1.3.2. Những thuận lợi khi phát triển thị trường nội địa
- Chính phủ chủ trương duy trì sự ổn định của thị trường nội địa, làm nền
tảng vững chắc cho phát triển kinh tế, xã hội và cho hội nhập quốc tế. Việc xây
dựng mục tiêu phát triển thị trường nội địa từ nay đến 2015 đã và đang được
Chính phủ theo đuổi. Theo đó: Chính phủ sẽ duy trì nhịp độ tăng trưởng tổng
4
Tập đoàn Tư vấn AT Kearney nghiên cứu và công bố xếp hạng thị trường bán lẻ (TTBL)
hấp dẫn nhất thế giới của 30 trong số 185 quốc gia được xem xét. Trong đó, GRDI là chỉ số
được Tập đoàn Tư vấn AT Kearney xây dựng dựa trên thang điểm 100. Thị trường nào có
GRDI càng cao có nghĩa là triển vọng phát triển càng lớn. Trong đó, các tiêu chí hình thành
GRDI được chia thành 4 nhóm lớn gồm: Độ rủi ro quốc gia và rủi ro kinh doanh; Độ hấp dẫn
của thị trường; Độ bão hoà của thị trường; Áp lực thời gian.
- Người tiêu dùng vẫn có xu hướng chọn kênh phân phối truyền thống. Có
tới 85% người Việt Nam vẫn lựa chọn kênh phân phối truyền thống trong khi
các nhà phân phối nước ngoài vào Việt Nam vẫn chủ yếu là phát triển kênh phân
phối hiện đại. Xu hướng mua sắm ở các siêu thị và trung tâm thương mại tăng
lên nhưng chỉ chủ yếu tập trung ở các thành phố và các đô thị lớn. Hơn nữa, theo
đánh giá của các chuyên gia, trong vòng ít nhất là 5 năm tới thì hình thức phân
phối nhỏ lẻ thông qua hệ thống chợ, cửa hàng bán buôn, bán lẻ vẫn giữ được vai
trò của mình ngay cả trong các thành phố lớn do tập quán tiêu dùng của người
Việt Nam và vị trí nắm sát khu vực có nhiều dân cư sinh sống.
Ngoài ra, khi tiếp cận thị trường nội địa, chi phí của các doanh nghiệp trong
nước sẽ thấp hơn về vận chuyển, phân phối tiếp thị, quản lý. Nhờ đó, các doanh
nghiệp có thêm nhiều lợi thế cạnh tranh về giá so với các doanh nghiệp nước
ngoài. Thêm vào đó, thị trường Việt Nam còn rất giàu tiềm năng với quy
mô dân số trên 86 triệu
người sống trong nước, dân số trẻ, tiêu dùng tăng
TRUNG TÂM THÔNG TIN – TƯ LIỆU – SỐ 3/2013
11
trưởng mạnh
5
trong những năm qua với mức tăng trưởng trên 20%. Bên cạnh
đó, khu vực thị trường nông thôn và miền núi chiếm tới 70% doanh số hàng tiêu
dùng nhưng chưa được khai thác nhiều trong khi chí phí cho việc bán hàng ở
nông thôn chỉ bằng 1/10 ở các đô thị.
1.3.3. Những hạn chế của thị trường nội địa
Mặc dù, thị trường nội địa đạt được một số kết quả đáng khích lệ, nhưng
nhìn nhận một cách khách quan thì khả năng tiêu dùng hàng hóa ở thị trường nội
địa của các tầng lớp dân cư, nhất là ở nông thôn nước ta còn rất thấp. Nguyên
nhân có nhiều nhưng có thể thấy rõ là do kinh tế của nước ta còn nghèo, thu
Theo báo cáo đánh giá của hãng tư vấn AT Keaney về thị trường bán lẻ Việt Nam, năm
2008
TRUNG TÂM THÔNG TIN – TƯ LIỆU – SỐ 3/2013
12
- Hệ thống phân phối chưa được đầu tư đúng mức. Kênh phân phối của các
doanh nghiệp Việt Nam còn quá yếu, không chuyên nghiệp như các nước trên
thế giới, trong khi đó hạ tầng còn chưa đồng bộ. Các doanh nghiệp gặp nhiều
khó khăn trong việc xây dựng hệ thống phân phối riêng cho mình. Ngoài ra, do
đã bỏ quên thị trường nội địa quá lâu nên các doanh nghiệp phải bắt tay lại từ
đầu. Đây là việc làm rất tốn kém cả về thời gian và chi phí.
Trong nền kinh tế thị trường, sản xuất ra sản phẩm chất lượng cao, mẫu mã
đẹp là hết sức cần thiết nhưng còn phải qua phân phối thật tốt, thật hợp lý thì
hàng hóa mới tiêu thụ được. Các doanh nghiệp Việt Nam phần lớn đều nhỏ bé,
non trẻ nên một phần là chưa có nhận thức đúng về tầm quan trọng của hệ thống
phân phối, một phần là tài lực quá yếu không đủ sức gây dựng. Nhiều ý kiến cho
rằng, hệ thống phân phối ở Việt Nam còn đang ở bước khởi đầu, còn rất sơ khai;
không gian thị trường, hệ thống kết nối giữa sản xuất – phân phối – tiêu
dùng chưa được hình thành, thậm chí chưa có mô hình một cách hoàn chỉnh và
bền vững. Điều này đã tạo ra những lỗ hổng lớn làm thị trường Việt Nam không
ổn định, các nhà bán lẻ Việt Nam vì thế khó vạch ra chiến lược kinh doanh của
mình.
Ở nhiều nước, hệ thống phân phối sản phẩm được chuyên môn hoá để giảm
chi phí bán hàng và nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng. Đồng thời, đây
cũng là nơi phản ảnh thông tin tốt nhất cho nhà sản xuất những yêu cầu của
người tiêu dùng về mẫu mã, chất lượng của sản phẩm. Về mặt này, đây chính
là điểm yếu kém trong hệ thống phân phối của các doanh nghiệp Việt Nam vì
tính chuyên môn hoá trong việc phân phối sản phẩm thấp và mới chỉ có quy mô
nhỏ.
thành thị. Nhiều hộ gia đình ở nông thôn đã tiêu thụ một số mặt hàng cao cấp
như tivi, đài, xe máy, điện thoại…. Tuy nhiên, hàng hóa của các doanh nghiệp
Việt Nam lại chưa được phủ kín ở thị trường này.
- Hàng hóa của Việt Nam chưa có vị trí vững chắc trong nhận thức của
người dân và phải cạnh tranh khốc liệt với hàng hóa nhập khẩu. Mặc
dù đã có những cải tiến về chất lượng, mẫu mã nhưng nhìn chung hàng hóa của
các doanh nghiệp trong nước vẫn còn đơn điệu, chất lượng hạn chế, giá thành
cao. Giá của một loại hàng hóa có cùng mẫu mã nhưng hàng Việt Nam thường
có giá cao hơn từ 10–20%, về mẫu mã thì mỗi tuần Trung Quốc tung ra 1-3 mẫu
mới, bình quân hàng tháng có thể đưa ra hàng chục mẫu lạ và có thể cho thu hồi
lại các hàng đã lỗi mốt, còn hàng Việt Nam lại ít thay đổi. Chế độ bảo hành
thường không được thực hiện nghiêm túc, chỉ làm qua loa, chiếu lệ. Điều này
cũng góp phần làm cho người tiêu dùng mất lòng tin.
Việc quảng bá sản phẩm của các doanh nghiệp trong nước rất kém, bao bì
sản phẩm không bắt mắt, nên khó thu hút khách hàng. Thiếu thông tin khiến
nhiều mặt hàng có thương hiệu uy tín nhưng khách hành không biết mua ở
đâu. Nhiều mặt hàng khác có chất lượng không thua hàng ngoại, nhưng
thiếu hướng dẫn, hệ thống phân phối chưa phù hợp, chưa bao phủ được thị
trường nên vẫn không bán được hàng.
- Thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao cho hệ thống phân phối. Trong hệ
thống phân phối, nhân viên trình độ cao rất khan hiếm, nhân viên bậc trung cũng
thiếu trầm trọng, đến nhân viên bậc sơ cấp cũng khó tuyển dụng, ít ổn định.
Số nhân viên này cũng chỉ 4–5 % được đào tạo có bài bản, còn nói chung đều
chưa qua đào tạo. Người lao động vẫn coi bán hàng là một công việc tạm bợ,
không lâu dài, nên không gắn bó với công việc.
Các doanh nghiệp Việt Nam có lợi thế am hiểu văn hóa của người Việt
Nam, ít nhiều sẽ có cách ứng xử gần gũi tạo sự thân thiện trong giao dịch bán
hàng, song đa số nhân viên lại ít chú ý đến phục vụ khách hàng một cách chu
đáo. Trên thực tế, nhân viên không hiểu rõ nguồn gốc xuất xứ sản phẩm của cửa
TRUNG TÂM THÔNG TIN – TƯ LIỆU – SỐ 3/2013
chịu bị ép giá, khiến nhiều khi bán hàng rồi không thu hồi lại đủ vốn.
- Tâm lý sính ngoại, thích tiêu dùng hàng ngoại đang trở nên phổ biến, là
cản trở không nhỏ đối với Nhà nước và các doanh nghiệp trong việc phát triển
thị trường nội địa. Tại thị trường Việt Nam, một thực tế được các chuyên gia chỉ
ra là phần lớn người tiêu dùng Việt Nam phải mua hàng ngoại chỉ vì hàng Việt
Nam chất lượng thấp, quá đắt so với giá trị của nó hoặc không có cùng
chủng loại. Người tiêu dùng Việt sẵn sàng ủng hộ hàng Việt nhưng không phải
ủng hộ bằng bất cứ giá nào. Chúng ta không thể kêu gọi Người Việt ưu tiên
dùng hàng Việt một cách chung chung, buộc mọi người phải chấp nhận mua
hàng nội kém chất lượng, mẫu mã xấu, giá cao hơn hàng ngoại cùng loại được.
Trong khi hàng hóa có chất lượng cao, mẫu mã đẹp thì lại đem xuất khẩu, còn
hàng xấu, hàng không đạt tiêu chuẩn lại điều về thị trường nội địa.
TRUNG TÂM THÔNG TIN – TƯ LIỆU – SỐ 3/2013
15
2. Phân tích và đánh giá thực trạng về cơ chế, chính sách đối với người
tiêu dùng Việt Nam
Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới, hệ thống phân phối hàng hóa, kể cả
bán buôn và bán lẻ, ở Việt Nam đã đạt được sự phát triển rõ ràng, nhất là trong
việc phát triển các loại hình phân phối văn minh, hiện đại, và đang dần thích ứng
với nền kinh tế thị trường mở của. Cơ cấu hệ thống phân phối hàng hóa Việt
Nam đã và đang có những biến đổi sâu sắc, từ chỗ chủ yếu do Nhà nước, các
hợp tác xã (HTX) chiếm độc quyền và đơn loại hình (cửa hàng bách hóa bán
hàng theo phương thức truyền thống do thương nghiệp nhà nước nắm giữ, và
cửa hàng HTX do HTX mua bán đảm nhận) với số lượng cơ sở (cửa hàng, điểm
bán lẻ) rất hạn chế đã chuyển sang ngành bán lẻ đa loại hình với nhiều thành
phần kinh tế tham gia và số lượng cơ sở ngày một tăng. Nhờ đó, đã từng bước
tạo ra một thị trường bán lẻ ngày càng cạnh tranh và có nhiều cơ hội lựa chọn
cho người tiêu dùng trong một môi trường mua sắm ngày càng thuận tiện, văn
minh.
độc lập, hộ kinh doanh cá thể) không được định hình phát triển, không được tổ
chức thành đối tượng của quản lý nhà nước. Đa số các chủ thể này hoạt động tự
do và độc lập "ngoài vòng kiểm soát”, làm cho thị trường trở nên manh mún, tản
mạn, lộn xộn và rối loạn, pháp luật của nhà nước và lợi ích của người tiêu dùng
không được tôn trọng.
Xét trên nhiều khía cạnh, cả quy mô doanh số và diện tích bán lẻ hàng tiêu
dùng trên đầu người, nhất là bán lẻ qua các loại hình bán lẻ hiện đại vẫn còn rất
thấp và nhỏ bé so với các nước phát triển và nhiều nước đang phát triển ở châu
Á.
2.1.Thực trạng về cơ chế chính sách bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam
Trong những năm qua, Việt Nam đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách
nhằm bảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng. Ba văn bản cơ bản
để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng do UBTVQH ban hành, Luật Cạnh tranh (2004) và Luật Bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng (2010).
Để Pháp lệnh và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được thực hiện
hiệu quả, với mục đích phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước giải quyết, tham
vấn, bảo đảm, bênh vực lợi ích chính đáng cho người tiêu dùng, còn có hệ thống
hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng gồm: Hội tiêu chuẩn bảo vệ người tiêu
dùng Việt Nam ở cấp trung ương và 26 hội ở các tỉnh và thành phố. Khi bị thiệt
hại, người tiêu dùng có quyền gửi khiếu nại đến nhà sản xuất, kinh doanh, văn
phòng khiếu nại, hội bảo vệ người tiêu dùng, cơ quan nhà nước có thẩm quyền
hoặc khởi kiện ra toà án có thẩm quyền. Trong đó, cơ quan nhà nước về bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng chính là: Bộ Công thương và các Sở Công thương ở
địa phương.
Hội Tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam nguyên là Hội Khoa
học kỹ thuật về tiêu chuẩn hoá đo lường chất lượng, được thành lập năm 1988.
Năm 1990, hội đã đưa nội dung bảo vệ người tiêu dùng vào tôn chỉ mục đích
của hội và đổi tên thành Hội Tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam.
Tuy nhiên, hoạt động của hội còn mang tính hình thức vì ban lãnh đạo thường là
lẫn cho người tiêu dùng thông qua hoạt động quảng cáo hoặc che giấu, cung cấp
thông tin không đầy đủ, sai lệch, không chính xác về một trong các nội dung sau
đây:
a) Hàng hóa, dịch vụ mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
cung cấp;
b) Uy tín, khả năng kinh doanh, khả năng cung cấp hàng hóa, dịch vụ của
tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ;
c) Nội dung, đặc điểm giao dịch giữa người tiêu dùng với tổ chức, cá nhân
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.
2. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ quấy rối người tiêu dùng
thông qua tiếp thị hàng hóa, dịch vụ trái với ý muốn của người tiêu dùng từ 02
lần trở lên hoặc có hành vi khác gây cản trở, ảnh hưởng đến công việc, sinh hoạt
bình thường của người tiêu dùng.
3. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ ép buộc người tiêu dùng
thông qua việc thực hiện một trong các hành vi sau đây:
a) Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các biện pháp khác gây thiệt hại
đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của người tiêu
dùng;
TRUNG TÂM THÔNG TIN – TƯ LIỆU – SỐ 3/2013
18
b) Lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của người tiêu dùng hoặc lợi dụng thiên
tai, dịch bệnh để ép buộc giao dịch.
4. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thực hiện hoạt động xúc
tiến thương mại, đề nghị giao dịch trực tiếp với đối tượng là người không có
năng lực hành vi dân sự hoặc người mất năng lực hành vi dân sự.
5. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ yêu cầu người tiêu dùng
thanh toán hàng hóa, dịch vụ đã cung cấp mà không có thỏa thuận trước với
người tiêu dùng.
6. Người tiêu dùng, tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu
6
Phát biểu của Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng trước Quốc hội về Dự án luật bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng, ngày 3/6/2010
TRUNG TÂM THÔNG TIN – TƯ LIỆU – SỐ 3/2013
19
hình thức bán hàng mới tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại cho người tiêu dùng như:
bán hàng đa cấp, bán hàng tận cửa, bán hàng trực tuyến… Thực tiễn công tác
bảo vệ người tiêu dùng cho thấy, trình độ, nhận thức của người tiêu dùng Việt
Nam vẫn còn nhiều hạn chế.
Những con số trên đây chỉ là sự thống kê một phần rất nhỏ và mới chỉ
phản ánh được phần nào thực trạng xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của
người tiêu dùng. Có thể nói rằng người tiêu dùng Việt Nam hiện đang phải sống
trong một môi trường mà mức độ không an toàn có xu hướng ngày càng gia
tăng, quyền và lợi ích hợp pháp bị vi phạm ngày càng nhiều. Trong khi đó, các
quy định của pháp luật hiện hành còn nhiều bất cập, không tạo thuận lợi cho quá
trình phát hiện và xử lý các vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng.
Theo thống kê của Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam
(Vinastas) trong 2 tháng (5 và 6 của năm 2010), việc tiếp nhận và tư vấn giải
quyết hàng trăm khiếu nại trực tiếp hoặc gián tiếp qua điện thoại và thư điện tử
của người tiêu dùng trên phạm vi cả nước cho thấy, người tiêu dùng khiếu nại về
tất cả các vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của họ. "Chất lượng hàng hóa
dịch vụ được phản ánh không chỉ của trong nước sản xuất mà còn nhập khẩu,
thậm chí là cả các hãng tên tuổi". Hơn 95% "nguyên đơn" trong các vụ này là
người tiêu dùng (cá nhân hoặc thể nhân là tổ chức, doanh nghiệp) đã mua và sử
dụng sản phẩm dịch vụ, còn lại 5% “nguyên đơn” là tập thể khiếu nại về chất
lượng hàng hóa, dịch vụ, gian lận thương mại, ô nhiễm môi trường. Điểm đáng
chú ý "bị đơn"- người bị khiếu nại không phải luôn luôn là thương nhân mà còn
có cả đơn vị hành chính nhà nước, các đơn vị và tổ chức hoạt động phi lợi
trình đổi mới đất nước, chuyển sang nền kinh tế thị trường, mặc dù chưa thật
hoàn chỉnh, nhưng sức hút của cơ chế thị tướng đã làm cho thị trường nội địa
từng bước được phát triển đều khắp. Nhìn lại trong quá trình phát triển, những
yếu tố tác động đến hoạt động tiêu dùng nội địa bao gồm: (l) mặt bằng phát triển
kinh tế- xã hội thể hiện bằng mức tăng quỹ tiêu dùng bình quân đầu người giá cả
và chất lượng hàng hóa; (2) chính sách khuyến khích chi tiêu hiệu quả, nhất là
chi tiêu ngân sách Nhà nước; (3) các chính sách kích cầu của Chính phủ.
3.1. Mặt bằng phát triển và mức tiêu dùng bình quân đầu người có tác
động trực tiếp đến tiêu dùng và phát triển thị trường nội địa
Trên phương diện cầu, mặt bằng phát triển của mỗi quốc gia được đo bằng
mức độ hưởng thụ trong đời sống của các tầng lớp dân cư về vật chất và tinh
thần, bằng mức độ đáp ứng nhu cầu về ăn, ở, mặc, đi lại, học hành, vui chơi, giải
trí… Khi mặt bằng kinh tế phát triển, quỹ tiêu dùng bình quân đầu người sẽ cao
lên, sức mua các tầng lớp dân cư tăng và những yếu tố này đương nhiên sẽ tác
động trực tiếp vào thị trường nội địa làm cho thị trường hoạt động sôi nổi. Nhìn
về dài hạn, khi tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, thu nhập của người dân tăng, khả
năng tiêu dùng dân cư tăng thì quy mô thị trường nội địa cũng sẽ tăng lên.
Tổ chức cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” do
Bộ chính trị phát động nhằm phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước, ý chí tự lực tự
cường, tự tôn dân tộc, xây dựng văn hoá tiêu dùng của người Việt và sản xuất ra
nhiều hàng việt có chất lượng có sức cạnh tranh cao đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
trong nước và xuất khẩu.
3.2. Hội nhập kinh tế và sự xuất hiện của các tập đoàn kinh tế nước
ngoài đang thách thức sự phát triển của doanh nghiệp trong nước
Từ năm 2007 Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tồ
chức Thương mại Thế giới (WTO). Chặng đường đã qua bước đầu mang lại một
số kết quả khích lệ. Các loại hình bán lẻ ở nước ta những năm gần đây đã văn
minh, hiện đại hơn . Theo xếp hạng của Công ty nghiên cứu Thị trường Nielsen,
Việt Nam đứng thứ 9 về chỉ số tự tin của người tiêu dùng toàn cầu và là một
TRUNG TÂM THÔNG TIN – TƯ LIỆU – SỐ 3/2013
cơ quan hữu trách lại tranh cãi “tùm lum”, không hề xác định nguyên nhân từ
đâu, không quy được trách nhiệm cho ai và vấn đề nóng lên xong lại nguội dần
bỏ mặc người tiêu dùng bơ vơ không biết tin vào đâu, dựa vào ai để bảo vệ
quyền “Thượng đế” của mình.
Tại các vùng nông thôn, hàng hoá thoạt đầu nhìn không kém phần “bắt
mắt”, nhưng nhìn kỹ mới thấy hàng chất lượng tốt thì ít, hàng kém phẩm cấp,
hàng rởm thì nhiều. Những nơi hàng Việt Nam còn lưa thưa thì phần lớn là
“hàng lạ”, nhãn mác “nhôm nhoam” chữ in loằng ngoằng, hiếm có người tiêu
dùng thông thái nào hiểu được người ta viết gì về sản phẩm đó, không ai thông
tin hướng dẫn và người tiêu dùng chỉ còn biết mua bằng cảm quan mách bảo.
Người tiêu dùng ở các vùng này bằng lòng với sự lựa chọn hẹp cho nhu cầu của
mình,trong khi doanh nghiệp trong nước ít quan tâm tới nhu cầu của họ. Điều
TRUNG TÂM THÔNG TIN – TƯ LIỆU – SỐ 3/2013
22
này cho thấy vai trò kiểm soát của các cơ quan chức năng có vấn đề, đặc biệt là
chưa kiểm soát được chất lượng và cách kinh doanh của người kinh doanh và sự
thua thiệt người tiêu dùng phái gánh chịu.
Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng xu thế "sính ngoại" trong tiêu dùng ở nước
ta hiện vẫn đang ở mức "quá đáng". Nhiều mặt hàng của Việt Nam chất lượng
và giá cả bằng hoặc hơn hàng ngoại, nhưng vẫn không bán chạy bằng hàng
ngoại. Một thực tế cho thấy, quyền mua là của người mua, không ai có quyền
bắt ép. Vấn đề là phải làm sao để người mua hàng nhận biết và tự giác mua hàng
Việt.
Lòng yêu nước không chỉ có tự hào suông và người tiêu dùng cũng sẽ
không chấp nhận dùng đồ kém phẩm chất lại đắt giá để thể hiện nghĩa vụ tinh
thần đối với tổ quốc. Thực tế, thị trường nông thôn lâu nay thả nổi, nơi có sức
mua tuy không lớn nhưng lại có số lượng người tiêu dùng khổng lồ (chiếm hơn
70% của một quốc gia có dân số đứng thứ 13 thế giới), thì hàng Việt cũng chưa
hẳn có ưu thế khi tiếp cận, vì người nông dân có mức thu nhập thấp, họ càng
hàng hoá Việt Nam sản xuất ra được phân phối qua nhiều tầng nấc trung gian
dẫn tới chi phí cao, giá cả khó cạnh tranh; hạ tầng phân phối yếu kém như đường
giao thông, cảng biển, kho dự trữ… chất lượng thấp làm cho chi phí lưu thông
tăng cao; đội ngũ làm công tác phân phối chưa chuyên nghiệp; quản trị doanh
nghiệp chưa tốt; công tác quảng cáo tiếp thị chưa đựơc bài bản và hiệu quả;
phương thức phân phối hiện đại trong bán lẻ còn ít dẫn tới năng suất lao động
thấp; việc giao dịch giữa nhà sản xuất và thương mại bán buôn bán lẻ chưa
đựơc công khai minh bạch; tầng lớp trung gian trong giao dịch thương mại kiếm
lợi nhuận cao, trong khi người sản xuất và người tiêu dùng đều bị thiệt thòi.
4. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (TNXHCDN) được “du nhập” vào
nước ta thông qua hoạt động của các công ty đa quốc gia đầu tư vào Việt Nam.
Các công ty này thường xây dựng được các Bộ Quy tắc ứng xử và chuẩn mực
văn hoá kinh doanh có tính phổ quát để có thể áp dụng trên nhiều địa bàn thị
trường khác nhau. Do đó, các nội dung TNXHCDN được các công ty nước
ngoài thực hiện có bài bản và đạt hiệu quả cao. Có thể lấy một số ví dụ nổi bật
như Chương trình “Tôi yêu Việt Nam” của Công ty Honda-Việt Nam; Chương
trình giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ em tại các tỉnh miền núi của Công ty
Unilever; Chương trình đào tạo tin học Topic64 của Microsoft, Qualcomm và
HP; Chương trình hỗ trợ phẫu thuật dị tật bẩm sinh và ủng hộ nạn nhân vụ sập
cầu Cần Thơ của VinaCapital, Samsung; Chương trình khôi phục thị lực cho trẻ
em nghèo của Western Union…
Đối với khu vực doanh nghiệp trong nước, các công ty xuất khẩu có lẽ là
đối tượng đầu tiên tiếp cận với TNXHCDN. Hầu hết các đơn hàng từ Châu Âu-
Mỹ, Nhật đều đòi hỏi các xí nghiệp may mặc, giày dép phải áp dụng chế độ lao
động tốt (tiêu chuẩn SA8000) hay đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm (đối với
các doanh nghiệp thủy sản)… Một số công ty chủ động thực hiện TNXHCDN
và tạo được hình ảnh tốt đối với công chúng như các doanh nghiệp Mai Linh,
Tân Tạo, Duy Lợi, ACB, Sacombank, Kinh Đô…
4.1. Chất lượng sản phẩm kém là vấn đề nghiêm trọng nhất
kẹo chứa bột đá với hàm lượng đến hơn một phần ba, nhưng trên bao bì chẳng
có một chữ nào đề cập đến những hóa chất và chất độn này. Thậm chí trong
những trường hợp gian dối bị phát hiện, có không ít doanh nghiệp có tên tuổi,
được nhiều người biết đến.
Theo Bộ Y tế hàng năm Việt Nam có khoảng 200.000 người bị ung thư
trong đó con số tử vong lên đến 150.000 người. Có khoảng 35% số bệnh nhân
ung thư được chẩn đoán mắc bệnh do những nguyên nhân liên quan đến sử dụng
thực phẩm độc hại.
4.2. Trách nhiệm của doanh nghiệp đối với khách hàng
Ở Việt Nam, TNXHCDN mới chỉ tập trung chủ yếu ở ngành da giầy và
may mặc do yêu cầu của các khách đặt hàng nước ngoài. Ngân hàng Thế giới đã
tiến hành nghiên cứu về việc áp dụng TNXHCDN trong ngành da giày và dệt
may Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy một số rào cản và khó khăn sau:
- Có sự khác biệt lớn trong nhận thức và hiểu biết về TNXHCDN trong và
giữa các doanh nghiệp Việt Nam.
- Việc một công ty áp dụng đồng thời nhiều Bộ Quy tắc ứng xử không
mang lại hiệu quả.