Thực trạng thụ tinh nhân tạo lợn, bò tại miền bắc, trung, nam và các đề xuất nhằm thúc đẩy nhanh công tác thụ tinh nhân tạo trong nhân giống lợn, bò - Pdf 14



THỰC TRẠNG THỤ TINH NHÂN TẠO LỢN, BÒ TẠI MIỀN BẮC, TRUNG, NAM VÀ
CÁC ĐỀ XUẤT NHẰM THÚC ĐẨY NHANH CÔNG TÁC THỤ TINH
NHÂN TẠO TRONG NHÂN GIỐNG LỢN, BÒ
Đào Đức Thà, Phan Văn Kiểm, Nguyễn Thạc Hoà, Phan Lê Sơn, Phan Trung Hiếu,
Đào Đức Kiên, Đỗ Hữu Phong
Bộ môn Sinh lý, Sinh hoá và Tập tính Vật nuôi
Tóm tắt
Thụ tinh nhân tạo (TTNT) cho lợn, bò ở nước ta đã có những thành công nhất định trong những năm qua.
Tuy nhiên tỷ lệ TTNT cho đàn nái trong nhân giống gia súc còn thấp (29,1% ở lợn và chỉ có 12-15% ở bò) và chưa
tương xứng với tiềm năng sẵn có. Mục đích của đề tài nhằm điều tra thực trạng thụ tinh nhân tạo lợn, bò tại ba
miền Bắc, Trung, Nam và nêu các đề xuất nhằm thúc đẩy nhanh công tác TTNT trong nhân giống lợn, bò. Kết quả
cho thấy trong các tỉnh điều tra, Hải Dương là tỉnh có tỷ lệ TTNT lợn cao nhất. Bình Định là tỉnh có tỷ lệ TTNT lợn
thấp nhất. Phần lớn các dẫn tinh viên (DTV) không được hỗ trợ về dụng cụ phối giống và không ghi chép đầy đủ.
Trang thiết bị phòng sản xuất tinh lợn còn thiếu và cũ kỹ. TP HCM tiêu thụ số liều tinh bò đông lạnh nhiều nhất. TP
Hà Nội tiêu thụ liều tinh bò đông lạnh tăng mạnh qua các năm. Từ đó đề tài cũng đề xuất một số giải pháp nhằm
thúc đẩy nhanh công tác TTNT trong nhân giống lợn, bò.
1. Đặt vấn đề
Thụ tinh nhân tạo cho lợn, bò ở nước ta đã được ứng dụng từ lâu, góp phần cải tiến phát
triển số lượng - chất lượng đàn lợn, đàn bò trong nước. Hơn nữa công tác TTNT đã giúp tăng
nhanh về tiến bộ di truyền, góp phần nâng cao năng suất chất lượng thịt, sữa và hiệu quả kinh
tế trong chăn nuôi mà phương pháp giao phối tự nhiên không thể có được.
Kỹ thuật thụ tinh nhân tạo gia súc là biện pháp hiệu quả nhất trong nhân giống, cải tạo
đàn giống và sử dụng ưu thế lai trong chăn nuôi thương phẩm. Tuy nhiên ở nước ta hiện nay,
tỷ lệ TTNT cho đàn nái trong nhân giống gia súc còn thấp (29,1% ở lợn và chỉ có 12-15% ở
bò). Một câu hỏi được đặt ra là: Hiện trạng TTNT lợn, bò ra sao?, trong những năm qua có bị
xuống cấp không ? Các chính sách cho TTNT lợn, bò có phù hợp và được áp dụng hay không?.
Để trả lời vấn đề này, trong khuôn khổ đề tài: “Nghiên cứu giải pháp kỹ thuật và chính sách
thúc đẩy nhanh công tác thụ tinh nhân tạo gia súc trong nhân giống lợn, bò” chúng tôi tiến
hành điều tra thực trạng thụ tinh nhân tạo lợn, bò tại ba miền Bắc, Trung, Nam và nêu các đề

(con)
Số liều tinh sử dụng
(liều/năm)
Tỷ lệ TTNT
(%)
Hà Nội
1.681.000
207.000
144.000
40,00
Hải Dương
700.000
135.000
273.700
85,71
Thái Nguyên
547.000
96.000
150.000
45,00
Bình Định
664.817
131.035
128.000
27,44
TP HCM
304.989
42.288
136.000
33,00

1.000
376 Tiến hành điều tra qua hình thức phỏng vấn và phiếu điều tra
Số DTV được
phỏng vấn
22
5

10
15
Tỷ lệ đã qua
đào tạo (%)
95
100
30
80
93
Cơ quan quản

1 số do hợp
tác xã quản
lý, 1 số hành
nghề tự do,
kiêm nhiệm
Thuộc sự
quản lý
hợp tác xã,
kiêm

Bán kính
hoạt động
55km – 60km
Số liều
tinh/DTV/năm

1260 liều

965 liều

1368 liều

Hỗ trợ dụng cụ
Không hỗ trợ

Hỗ trợ 1
phần
Hỗ trợ chưa
đầy đủ
Hỗ trợ 1 phần

Không hỗ trợ Ghi chép
Các DTV ghi
chép không
đầy đủ hoặc
không ghi
chép

DTV hoạt động theo 7 tuyến vận chuyển tinh, 92 điểm cụm bán tinh kết hợp với phạm vi hoạt động rộng nên việc cung cấp các liều tinh cho các trang trại chăn nuôi, hộ chăn nuôi luôn kịp
thời. Bên cạnh đó chất lượng tinh dịch kiểm soát tốt đảm bảo TTNT đạt kết quả cao. Vì vậy được
sự ủng hộ và tin tưởng của hộ chăn nuôi lợn nái, qua đó thúc đẩy tỷ lệ TTNT lợn trên địa bàn
tăng nhanh và một số vùng lân cận.
3.1.3. Tình hình dụng cụ, trang thiết bị sử dụng trong các cơ sở sản xuất tinh lợn
Để có chất lượng tinh dịch tốt tại các cơ sở, trung tâm sản xuất tinh lợn thì ngoài yếu tố
con giống, kỹ thuật thì dụng cụ, trang thiết bị sử dụng cũng đóng một vai trò quan trọng, Sau đây
là thực trạng dụng cụ, trang thiết bị tại các Trạm, Trung tâm khai thác và sản xuất tinh dịch lợn
(bảng 3)
Bảng 3. Dụng cụ, trang thiết bị tại các Trạm, Trung tâm khai thác và sản xuất tinh dịch

Trang thiết bị
Thời gian sử
dụng
Tình trạng thiết
bị

Hà Nội
- Phòng lấy tinh lợn nhỏ, vệ sinh môi trường
chưa cao. Phòng pha chế tinh cách xa phòng
lấy tinh.
- Các loại trang thiết bị đang sử dụng
* Thiếu máy đếm tinh trùng và bình nước ấm
(35 - 36ºC)

y
y
ê
ê
n
n- Hệ thống trang thiết bị tương đối đầy đủ,
đang sử dụng.
* Thiếu máy đếm tinh trùng và bình nước ấm
(35 - 36ºC) -
-S
S

ửd
d


n
n

h
h
i
i
ế
ế
t
tb
b

ịc
c
ũ
ũ
,
,m
m


t
t
- Đơn giản và chưa được trang bị đầy đủ
* Thiếu máy đếm tinh trùng và bình nước ấm
(35 - 36ºC)
5-14 năm
- Sử dụng lâu
năm, cũ và hỏng
nhiều. Hoạt động
không ổn định T
T
P
PH
H
C
C
M
M- Số trạm sản xuất tinh lợn điều tra có đầy đủ
điều kiện trang thiết bị, nhà xưởng và phòng
thí nghiệm đạt tiêu chuẩn là 56%.
* Thiếu máy đếm tinh trùng và bình nước ấm

Thái Nguyên
Hải Dương
Bình Định
TP HCM
Số trạm sản
xuất tinh (trạm)
2 trạm
3 trạm
1 trạm
20 trạm
13 trạm
Số liều tinh sản
xuất/năm
180.000
150.000
322.000
160.000
136.000
Tỷ lệ tiêu thụ
(%)
80
100
85
80
85
Số liều tinh tiêu
thụ/ngày
394,52
369,86
749,86

450,750
169,632
289,810
518,593
513,940
429,555
0
60,000
120,000
180,000
240,000
300,000
360,000
420,000
480,000
540,000
600,000
2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Năm
0
60,000
120,000
180,000
240,000
300,000
360,000
420,000
480,000
540,000
600,000

18.660
20.000
Thỏi Nguyờn
7.210
4.500
4.500
Hi Dng
1.645
1.450
2.400
(Ngun: Trung tõm Ging gia sỳc ln Trung ng - Vin Chn nuụi)
Qua bảng 6 cho thấy, hàng năm TP. HCM tiêu thụ số liều tinh bò đông lạnh nhiều nhất và
theo điều tra TP. HCM tiêu thụ số liều tinh bò đông lạnh nhiều nhất cả nước và có xu hướng ổn
định tăng dần.
TP Hà Nội tiêu thụ liều tinh bò đông lạnh tăng mạnh qua các năm đồng nghĩa với tỷ lệ
TTNT bò trên địa bàn thành phố tăng nhanh.
Bình Định tiêu thụ tinh bò đông lạnh hàng năm cao, nhưng số lượng không biến động nhiều
qua các năm.
TP.HCM, Hà Nội và Bình Định là ba tỉnh thành có số lượng đàn bò nhiều, tăng dần qua các
năm, công tác TTNT bò phát triển mạnh, là những tỉnh thành chăn nuôi bò phát triển nhất cả
nước. Vì vậy có điều kiện thuận lợi phát triển đàn bò về số lượng cả bò sữa và đàn bò thịt.
Thái Nguyên và Hải Dương là hai tỉnh sử dụng số liều tinh bò hàng năm thấp và thấp hơn
nhiều so với TP.HCM, Hà Nội và Bình Định. Chăn nuôi bò ở hai tỉnh này cần được quan tâm để
phát triển.
4. Kết luận và đề nghị
4.1. Kết luận
- Thụ tinh nhân tạo lợn của Hải Dương chiếm tỷ lệ khá cao (85,71% ), các dẫn tinh viên

2. Cục Chăn nuôi (2009a). Tình hình thụ tinh nhân tạo trong chăn nuôi lợn và sơ kết 3 năm thực hiện Quyết
định 07/2005/QĐ-BNN quy định về quản lý và sử dụng lợn đực giống. Hội nghị thụ tinh nhân tạo gia súc
các tỉnh phía Nam. Ngày 15/5/2009 tại TP Hồ Chí Minh.
3. Cục Chăn nuôi (2009b). Báo cáo tình hình thụ tinh nhân tạo bò và định hướng phát triển. Hội nghị thụ tinh
nhân tạo gia súc các tỉnh phía Nam. Ngày 15/5/2009 tại TP Hồ Chí Minh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status