BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC ĐOÀN THỊ THANH TUYÊN
ẨN DỤ TU TỪ TRONG TÁC PHẨM TRUYỆN KIỀU
CỦA NGUYỄN DU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Sơn La, năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
sâu sắc nhất tới cô giáo Thạc sỹ Bùi Kim Tuyến - giảng viên chính giảng dạy bộ
môn tiếng Việt, người đã dành nhiều thời gian, trực tiếp, hướng dẫn nhiệt tình
và tạo mọi điều kiện thuận lợi để em sớm hoàn thành khóa luận một cách tốt
nhất và nhanh nhất.
Tuy nhiên quá trình nghiên cứu và viết khóa luận không tránh khỏi những
thiếu sót, vì thế em kính mong các thầy cô giáo và cùng toàn thể các bạn sinh
viên góp ý kiến để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Cuối cùng em xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn tới Hội đồng chấm khóa luận.
Sơn La, tháng 5 năm 2013
Người viết
Đoàn Thị Thanh Tuyên MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 4
3. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 8
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 8
3.2. Phạm vi nghiên cứu 9
4. Phương pháp nghiên cứu 9
4.1. Phương pháp thống kê phân loại 9
4.2. Phương pháp so sánh đối chiếu 9
4.3. Phương pháp phân tích tu từ học 10
5. Những đóng góp của khóa luận 10
6. Cấu trúc của khóa luận 11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 12
1.1. Một số khái niệm cơ bản 12
2.2.2. Giá trị biểu cảm của ẩn dụ tu từ trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du 41
2.3. Phân tích đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” 49
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 57
KẾT LUẬN 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nền văn học Việt Nam thực sự ra đời cùng với nền độc lập của dân tộc ta.
Từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XVIII, 8 thế kỉ trôi qua lịch sử dân tộc đã xây dựng
cho nền văn học một truyền thống về văn học dân gian cũng như về văn học bác
học, về văn chương chữ Hán cũng như về văn chương chữ Nôm. Đến cuối thế kỉ
XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX, văn học VN vẫn gồm 2 bộ phận văn học chữ Hán
và văn học chữ Nôm. Ngày nay nói đến thành tựu nổi bật của Văn học Việt Nam
nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX chủ yếu là nói đến bộ phận văn học
chữ Nôm, văn học chữ Nôm phát triển trong giai đoạn này cả về số lượng lẫn
chất lượng.
Nguyễn Du là một đại thi hào của dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới.
Có thể nói toàn bộ tác phẩm của ông, chữ Hán cũng như chữ Nôm chan chứa
một tình yêu thương bao la đối với con người, đặc biệt là người phụ nữ. Sáng tác
của Nguyễn Du được lưu hành từ rất sớm, có lẽ ngay từ lúc nhà thơ còn sống.
Phạm Quý Thích, người cùng thời từng có bài thơ nổi tiếng bằng chữ Hán để
vịnh Truyện Kiều. Nhiều nhà Nho ở Thăng Long, nhất là những học trò của
Phạm Quý Thích, trong đó có một số người là danh thần, danh sĩ từng tham gia
vào việc phổ biến Truyện Kiều. Do vậy, những sáng tác của ông có ảnh hưởng
lớn trong xã hội, chí ít là tầng lớp văn hóa cao.
Từ đó tới nay, việc sưu tập, nghiên cứu, phổ biến di sản văn học của
Nguyễn Du không bao giờ bị đứt đoạn, nó luôn phát triển cùng với sự tiến bộ
Như chúng ta đã biết: “Truyện Kiều đã đem lại lòng tin cho mọi người về khả
năng phong phú của tiếng Việt và Truyện Kiều có công khai sáng cho nhiều nhà
văn, nhà thơ đời sau về phương diện sử dụng ngôn ngữ dân tộc trong sáng tác văn
chương” (Nguyễn Lộc). Việc tìm hiểu các phương tiện và biện pháp tu từ trong
“Truyện Kiều” chưa được quan tâm một cách cụ thể. Vì thế khóa luận tiến hành
tìm hiểu: “Ẩn dụ tu từ trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du”. Đây là một
việc làm chúng tôi thiết nghĩ vô cùng quan trọng và thiết thực giúp chúng ta,
những bạn đọc sẽ có những cái nhìn tinh tế, toàn diện hơn ở các phương tiện tu
từ và biện pháp tu từ.
Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta thấy có những sự vật bản chất không
phải là A lại mang tên gọi của A, do giữa A và chúng có một nét nào đó tương
đồng nhau. Đặc điểm này đã kích thích vào khả năng liên tưởng, giúp chúng ta
nhận thức về thế giới khách quan một cách sinh động. Cách liên tưởng này vừa
có tính truyền thống, tính thời đại, vừa mang tính cá nhân chủ quan. Cách liên
tưởng ấy chính là ẩn dụ tu từ - một phương thức chuyển nghĩa phổ biến. Với
việc nắm vững phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ sẽ góp phần làm giàu vốn ngôn
ngữ, làm tiếng Việt thêm phong phú, đa dạng về ý nghĩa và cách diễn đạt hơn.
Để đi vào tìm hiểu sâu hơn nữa “Truyện Kiều” vốn đã được đưa vào giảng
dạy trong chương trình phổ thông và cách tiếp cận tác phẩm chúng ta đi vào
khảo cứu “Truyện Kiều” trong chương trình văn học phổ thông (trong chương
trình lớp 10) chúng ta thấy điều đó qua bảng thống kê dưới đây và chứng tỏ các
tác phẩm của Nguyễn Du được ghi nhận xứng đáng.
3
Số tác phẩm văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX được giảng dạy
trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 cơ bản, tập 2, Nxb Giáo dục năm 2006.
Bảng thống kê
Stt
Tên tác giả
số bài (đoạn trích) đưa
01
Qua bảng thông kê trên, chúng ta nhận thấy được một phần nào vị trí của
nhà thơ Nguyễn Du cũng như việc giảng dạy tác phẩm của ông trong trường phổ
thông và trung học cơ sở.
Hiện nay, ở nhà trường phổ thông tác phẩm “Truyện Kiều” của Nguyễn Du
cũng được đưa vào giảng dạy và có cả trong phần đọc thêm. Với chương trình
cải cách giáo dục hiện nay thì phương pháp giảng dạy tích hợp giữa phân môn:
tiếng Việt, tập làm văn, văn học gọi chung là ngữ văn, ở nhà trường trung học
phổ thông và trung học cơ sở ngày càng được chú trọng nâng cao. Từ đó thấy
được mối quan hệ chặt chẽ giữa văn học và tiếng Việt. Việc ứng dụng các thành
tựu nghiên cứu của tiếng Việt vào việc phân tích các giá trị biểu đạt của các biện
pháp tu từ và phương pháp tu từ trong văn bản, đặc biệt là văn bản nghệ thuật
không phải là việc dễ làm và thường xuyên.
Lí luận và thực tiễn cách nhau một khoảng rất lớn. Chúng ta thấy điều đó ở
các giờ giảng môn ngữ văn trong nhà trường phổ thông. Thường thì học sinh,
sinh viên, giới bạn đọc chỉ thấy được cái hay cái đẹp của câu thơ mà không biết
chúng bắt nguồn từ đâu ? Nếu có thì cũng chỉ là đả động đến mà chưa đi vào tìm
hiểu một cách chi tiết. Điều đó sẽ làm mất đi vẻ đẹp của một tâm hồn nhạy bén,
tài năng trong việc sử dụng ngôn từ. Vì thế khi phân tích, giảng dạy, tìm hiểu
những tác phẩm thơ ca độc đáo của Nguyễn Du giáo viên gần như giúp học sinh
4
cảm nhận và thấy được tác dụng của biện pháp tu từ và phương tiện tu từ trong
đó có ẩn dụ tu từ.
Để khắc phục và giảm bớt tình trạng trên, chúng tôi tiến hành tìm hiểu: “Ẩn
dụ tu từ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du”. Thiết nghĩ đây là một việc làm cần
thiết và quan trọng cho những ai yêu thích tác phẩm “Truyện Kiều” nói chung
và biện pháp ẩn dụ tu từ trong “Truyện Kiều” nói riêng. Đồng thời qua đây góp
thêm tiếng nói khẳng định sức hút mạnh mẽ của biện pháp tu từ trong tác
phẩm“Truyện Kiều” của nhà thơ, để việc dạy thơ ông một cách dễ dàng, sâu sắc
đối tượng, tác giả chia ẩn dụ tiếng việt ra làm 5 loại: Tương đồng về màu sắc,
tương đồng về tính chất, tương đồng về trạng thái, tương đồng về hành động và
tương đồng về cơ cấu. Nhìn chung cách phân chia này phù hợp với chức năng
biểu cảm của ẩn dụ tu từ.
Nguyễn Thái Hòa [17] gọi ẩn dụ là: “Phương thức chuyển nghĩa, có khả
năng gợi hình, gợi cảm”. Về mặt ý nghĩa, tác giả phân ẩn dụ làm 3 loại: “Từ cụ
thể đến cụ thể, từ cụ thể đến trừu tượng và từ trừu tượng đến cụ thể”. Cách phân
loại này dựa vào tính cụ thể của đối tượng chọn làm ẩn dụ, để thấy được mối
quan hệ tương đồng giữa hai sự vật, hai hiện tượng chưa được thể hiện rõ nét và
thấy được tính đa dạng, phong phú của ẩn dụ tu từ.
Như vậy, vấn đề ẩn dụ được nghiên cứu khá kỹ lưỡng và nhiều nhưng ít có
công trình nào tìm hiểu ẩn dụ trong tác phẩm nghệ thuật. Thực tế cho thấy có
những cách hiểu, cách tiếp cận (ẩn dụ tu từ) trong các văn bản nghệ thuật là
khác nhau.
Hoài Thanh khi nghiên cứu văn chương Nguyễn Du đã từng nhận xét rằng:
“Văn chương cụ Nguyễn Tiên Điền dù bằng chữ Hán hay chữ Nôm không bao
giờ là thứ văn chương viết ra để mà chơi”. Như vậy, những sáng tác của cụ
Nguyễn là có mục đích rõ ràng. Cùng với thời gian này có nhiều độc giả, nhiều
công trình nghiên cứu đã xây dựng lên một hình ảnh Nguyễn Du, một chân dung
được khắc họa rõ nét.
Nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Bách Khoa, trong bài viết “Văn chương
Truyện Kiều” đã đề cập đến nhận xét về “Truyện Kiều” của Mộng Liên Đường
chủ nhân, người bạn cùng thời của Nguyễn Du: “Trong một tập thủy chung lấy
bốn chữ tạo vật đố tài tóm cả một đời Thúy Kiều khi lai láng tình thơ, người tựa
án khen tài châu ngọc, khi nỉ non tiếng nguyệt, khách dưới đèn đắm đuối tiêu
tao, khi lầu xanh, khi rừng tía, cõi đi về nghĩ cũng chồn chân, khi kinh lệ, khi
can qua mùi từng trải nghĩ mà tê lưỡi. Vui buồn hợp tan mười mấy năm trời,
trong cuốn văn tỏa ra như hệt không khác gì một bức tranh vậy. Xem đến chỗ
giấc mộng đoạn trường tỉnh dậy mà căn nguyên vẫn chưa gỡ khúc đàn bạc mệnh
gẩy xong mà oán hận vẫn chưa hả”. Và chủ nhân Mộng Liên Đường cũng nhận
đã nhận định: “Cốt cách Truyện Kiều thật là tầm thường, thế mà chỗ thắt, chỗ
gỡ, chỗ chuyển tự nhiên mà quá khéo khiến cho người đọc có hứng thú, ham
mê. Đọc mãi cho đến cùng, cái tài làm tiểu thuyết của cụ thực ngang với những
tay cực phách trong tiểu thuyết thế giới, các nước đại văn hiến của toàn cầu
vậy”. Đây là nhận định có sự nghiền ngẫm tìm hiểu văn chương Truyện Kiều
trong một giai đoạn dài. Nhà nghiên cứu còn rút ra nhận xét: “Thơ cụ Nguyễn
Du viết văn hoa bóng bẩy lắm”, Truyện Kiều ai đọc cũng thích, vì lời văn rất
hay, rất thấm thía, đọc không bao giờ chán”. Với những bài nghiên cứu của
mình tác giả cũng nhận thấy rằng: “Truyện Kiều đã đem lại lòng tin cho mọi
người về khả năng phong phú của tiếng Việt và Truyện Kiều đã có công khai
sáng cho nhiều nhà văn, nhà thơ đời sau về phương diện sử dụng ngôn ngữ dân
tộc trong sáng tác văn chương”.
Nếu nội dung “Truyện Kiều” có nhiều điều bàn cãi thì nghệ thuật văn
chương “Truyện Kiều” lại dễ đi đến thống nhất. Các cây bút ở tạp chí Nam
7
Phong đều gặp nhau ở một điểm: Cùng công nhận Truyện Kiều là một áng văn
tuyệt tác “Không tiền khoáng hậu”. Trần Trọng Kim khi bàn về cái hay của văn
chương Truyện Kiều nêu rõ: “Một tiếng nói hồ đồ và bề bộ như quốc âm ta ngày
trước mà cụ làm thành một tập văn chương rất hay và rất có khuôn phép. Lời văn
thật là thanh nhã, hùng hồn và hàm súc, phép văn thì khai, thừa, chuyển, hợp rất có
quy củ”. Với các bài khảo cứu về Truyện Kiều trên Nam Phong tạp chí những năm
XX của thế kỉ XX đã dánh dấu mốc lưu ý. Đây là giai đoạn giao thời giữa cái cũ và
cái mới, giữa những chuẩn mực văn chương cổ điển và hiện đại, giữa lối khảo cứu,
thẩm bình truyền thống phương Đông và lối phê bình cách tân phương Tây.
Tìm hiểu tác phẩm “Truyện Kiều” theo cách nhìn của mình, giáo sư Trần
Đình Sử trong bài nghiên cứu “Mấy khía cạnh thi pháp Truyện Kiều của
Nguyễn Du” lại thấy rằng: “Trong toàn thiên truyện chữ nào cũng êm, câu nào
cũng thoát, đoạn nào cũng dồi dào ý tứ, tả đến tinh thần, lời nào cũng nhẹ nhàng
mà ý tứ thì bát ngát, càng đọc càng thấy hay, không khi nào chán tai được. Thực
tích đánh giá về biện pháp tu từ trong tác phẩm này.
Trong phạm vi khóa luận này, với sự nỗ lực của bản thân người viết, chúng
tôi mong góp một phần nhỏ trong việc đi sâu tìm hiểu giá trị tu từ và biện pháp
ẩn dụ trong tác phẩm “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Đồng thời qua đây cho
thấy được cái hay, cái đẹp ẩn hiện trong tác phẩm này.
3. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Khóa luận này chúng tôi muốn tìm hiểu hiện tượng chuyển nghĩa mà cụ
thể là phương thức ẩn dụ tu từ trong tác phẩm “Truyện Kiều” của Nguyễn Du,
để từ đó thấy được vai trò, tác dụng của phương tiện này góp phần làm nên vẻ
đẹp, sự thành công của ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Du nói chung và tác phẩm
“Truyện Kiều” nói riêng, cũng như là cách sử dụng những hình ảnh một cách tài
ba và sáng tạo.
Khóa luận nghiên cứu thành công chính là tài liệu tham khảo cho những ai
yêu mến, thích thú, quan tâm tới “Truyện Kiều” của Nguyễn Du nói chung và các
bạn sinh viên ngành Ngữ văn nói riêng trong học tập, nghiên cứu và giảng dạy.
Khi nghiên cứu khóa luận này chúng tôi thực hiện các bước sau:
Thứ nhất: Tìm hiểu chung về phương tiện tu từ, biện pháp tu từ và phương
tiện tu từ ngữ nghĩa: ẩn dụ tu từ, làm cơ sở vững chắc để soi rọi vào trong tác
phẩm “Truyện Kiều” của Nguyễn Du nhằm tìm ra những biện pháp, phương tiện
tu từ này một cách khoa học, chính xác và khách quan.
Thứ 2: Tiến hành khảo sát tác phẩm “Truyện Kiều” để tìm ra những câu
thơ có sử dụng ẩn dụ tu từ, để từ đó đi sâu vào nhận xét đánh giá khái quát về
các phương tiện tu từ và biện pháp tu từ ẩn dụ mà Nguyễn Du đã sử dụng trong
tác phẩm “Truyện Kiều”.
Thứ 3: Phân tích giá trị nghệ thuật của phương tiện và biện pháp tu từ ẩn
dụ trong việc biểu đạt nội dung, tư tưởng của tác phẩm “Truyện Kiều”. Sau đó
đi vào phân tích giá trị cụ thể của các phương tiện tu từ đó trong đoạn trích được
9
Trong quá trình nghiên cứu khóa luận, chúng tôi sẽ cố gắng đối chiếu với
các công trình nghiên cứu của tác giả khác về thơ Nguyễn Du cũng như cách
thức sử dụng các phương tiện, biện pháp tu từ, nhằm xác định sự giống và khác
nhau, vấn đề nào các tác giả đã đề cập tới, vấn đề nào chưa được đề cập tới hay
10
nếu có đề cập tới thì cũng mới chỉ tản mạn trong một số công trình, để từ đó làm
cơ sở nền tảng khách quan hỗ trợ đắc lực cho việc nghiên cứu của khóa luận.
4.3. Phương pháp phân tích tu từ học
Theo Đỗ Việt Hùng [16] cho rằng: “Phương pháp phân tích tu từ học chính
là bước đầu tiên trong quá trình giải mã nghệ thuật” mà văn học lại là nghệ thuật
của ngôn ngữ. Chính vì vậy, khi đi phân tích, khám phá một văn bản nghệ thuật,
chúng ta cần chú ý đến phương pháp này, bởi nó có thể giúp ta giải mã một cách đầy
đủ hơn về những hiện tượng cách tân trong sử dụng ngôn ngữ, lựa chọn hình ảnh, tư
duy nghệ thuật độc đáo của tác giả để làm nên sự biến đổi thể loại trong văn học. Khi
sử dụng phương pháp này, để phân tích các biện pháp nghệ thuật trong tác phẩm
“Truyện Kiều” cần chú ý đến các thao tác phân tích tu từ học sau:
- Xác định thành phần thông tin cơ bản của văn bản ngôn từ
- Tìm ra những hình thức biểu đạt gần nghĩa hoặc đồng nghĩa của hình thức
biểu đạt được lựa chọn tiến hành so sánh đối chiếu dựa trên mối quan hệ ngữ
cảnh tu từ để thấy được những đặc điểm đồng nhất và đối lập từng yếu tố.
- Từ đó đưa ra nhiều phán đoán về giá trị, hiệu quả của hình thức nghệ thuật
được biểu đạt trong việc biểu đạt nội dung.
Tuy nhiên, cần thấy rằng sự phân tích tu từ học chỉ là chất xúc tác cho tác
động của nghệ thuật, cho tư tưởng và cảm xúc thẩm mĩ. Sự phân tích này không
thể tách rời quá trình tổng hợp để khôi phục tính chỉnh thể của tác phẩm văn
học, nhằm xác định rõ giá trị của mỗi phương tiện, biện pháp tu từ trong cái toàn
thể đó là tác phẩm.
Ngoài 3 phương pháp trên chúng tôi còn nghiên cứu các tài liêu khoa học
để bổ sung kiến thức, hoàn thiện khóa luận một cách đầy đủ hơn.
hữu cơ giữa hình thức con chữ, ngôn ngữ. Theo M.Goki, ngôn ngữ là “Yếu tố
đầu tiên của văn học”, vậy sự kì diệu của ngôn ngữ khởi phát từ đâu ? điều gì
đã làm nên sự kỳ diệu của ngôn ngữ ? Do đâu mà ngôn ngữ lại mang cá tính
sáng tạo của tác giả ? Những hiệu ứng này là do các phương tiện tu từ và biện
pháp tu từ, phương thức diễn đạt được sử dụng, thể hiện rất phong phú và đa
dạng trong mỗi văn bản nghệ thuật: “Cái làm nên sự kì diệu của ngôn ngữ đó
chính là phương tiện và biện pháp tu từ”. Chính vì thế khi tìm hiểu, nghiên
cứu tác phẩm “Truyện Kiều” của Nguyễn Du chúng tôi chú trọng tới nhiều
hình thức diễn đạt đặc biệt là các phương tiện tu từ và biện pháp tu từ ẩn dụ
trong tác phẩm .
Trong chương này chúng tôi sẽ tìm hiểu cơ sở lí thuyết của phương tiện tu
từ và biện pháp tu từ làm cơ sở cho chương sau.
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Màu sắc tu từ
Theo Giáo sư Đinh Trọng Lạc [12] thì phương tiện tu từ là những phương
tiện ngôn ngữ mà ngoài ý nghĩa cơ bản (ý nghĩa sự vật logic) ra còn có ý nghĩa
bổ sung mà tu từ học còn gọi là màu sắc tu từ.
Màu sắc tu từ là một trong những khái niệm của phong cách học. Từ đó chúng ta
đi đến những khái niệm khác như: Phương tiện tu từ và biện pháp tu từ
Nói tới màu sắc tu từ là người ta nghĩ đến một kiểu nói cụ thể mang tính cá
nhân. Còn các nhà phong cách học thống nhất với nhau ở chỗ: “Màu sắc tu từ là
khái niệm phong cách chỉ phần thông tin có tính chất bổ sung, bên cạnh phần
thông tin cơ bản cuả một thực từ”. Nói cách khác màu sắc tu từ là khía cạnh biểu
cảm - cảm xúc của ý nghĩa thuộc từ (diễn đạt những tình cảm, những sự đánh
giá, những ý định ) bên cạnh sự vật logic của ý nghĩa. 13
Ví dụ:
1. Cháu mời bác “ xơi” cơm ạ ! thái độ của người nói mang màu sắc tôn
trong sự diễn đạt vừa chính xác, vừa sinh động của sự việc, của thực tế khách
quan lẫn tình cảm, thái độ chủ quan của mình.
14
Vì vậy, các phương tiện ngôn ngữ dùng để giao tiếp trong xã hội không thể
không có màu sắc tu từ.
1.1.2. Phương tiện tu từ
Phương tiện tu từ thường được gọi là phương tiện diễn cảm, nhưng gọi như
vậy là để gây hiểu lầm là chúng chỉ diễn đạt cảm xúc. Thực ra những phương tiện
tu từ là những phương tiện ngôn ngữ, mà ngoài ý nghĩa cơ bản (ý nghĩa sự vật -
logic) ra, chúng còn mang ý nghĩa bổ sung, còn màu sắc tu từ. Người ta gọi chung
là phương tiện tu từ súc về mặt tu từ hay những phương tiện được đánh dấu về mặt
tu từ. Còn màu sắc tu từ nhiều khi gọi là sắc thái tu từ (cốt để nhấn mạnh sự đối lập
giữa phần nghĩa cơ bản và phần nghĩa bổ sung). Đinh Trọng Lạc (1995) [6], nhìn
trên cấp độ tu từ, có nhà nghiên cứu tách ý nghĩa ra làm 2 loại:
+ Loại ý nghĩa chỉ xuất gắn với phần thông tin cơ bản.
+ Loại ý nghĩa hàm chỉ gắn với phần thông tin bổ sung được hình thành các
yếu tố cảm xúc bình giá tu từ học.
Hay màu sắc tu từ chính là khía cạnh biểu cảm, cảm xúc của ý nghĩa.
Ví dụ: Màu sắc cảm xúc có những sắc thái: hống hách, hách dịch, quan
liêu, gia trưởng
Ví dụ: Khi nói về sự chết của con người, người ta có thể dùng một số từ
ngữ khác: “hi sinh”, “qua đời”, “toi” thì mỗi từ thì mang sắc thái biểu cảm khác
nhau rất riêng biệt:
Từ “Hi sinh” mang màu sắc cao quý, trang trọng
Từ “Qua đời” mang màu sắc tôn kính
Từ “toi” mang màu sắc khinh thường coi nhẹ
Từ “chết” mang sắc thái trung hòa
Ta có thể thấy rõ điều này cụ thể qua ví dụ sau:
Ví dụ: “Bác ấy vừa qua đời” thì thái độ của người nói ở đây mang sắc thái
huyền diệu của lời khen giảm sút nhiều.
Như chúng ta đã biết: Chính những biện pháp tu từ đã góp phần làm nên
những câu văn, câu thơ. Bởi cái hay của tác phẩm nghệ thuật không chỉ hay ở
mặt nội dung mà còn hay do sự đóng góp của mặt hình thức diễn đạt mới mẻ,
đặc sắc có thể khẳng định rằng: đọc một câu thơ, một câu văn ta thấy nó hay
nhưng không biết hay ở chỗ nào (tức không biết tác dụng ra sao) của biện pháp
tu từ nào thì có nghĩa là chỉ mới thấy được cái hay của một nửa tác phẩm. Khi ta
hiểu về biện pháp tu từ và tác dụng của nó một cách kỹ lưỡng thấu đáo thì ta sẽ
cảm thấy được vẻ đẹp trọn vẹn, toàn bích của tác phẩm văn chương một sáng tạo
ngôn từ độc đáo của người nghệ sĩ.
Căn cứ vào cấp độ ngôn ngữ, các biện pháp ngôn ngữ được phối hợp sử
dụng, các biện pháp tu từ chia thành các cấp độ khác nhau: 16
+ Biện pháp tu từ vựng
+ Biện pháp tu từ ngữ nghĩa
+ Biện pháp tu từ cú pháp
+ Biện pháp tu từ văn bản
+ Biện pháp tu từ ngữ âm - văn tự.
Để rèn luyện kỹ năng xây dựng và lĩnh hội văn bản, nhất là đánh giá được
giá trị thẩm mĩ của văn bản nghệ thuật thì cần phải nhận diện được, sử dụng
được, phân tích được những phương tiện, biện pháp tu từ. Cái làm nên sức lôi
cuốn kỳ diệu, vẻ hấp dẫn tươi đẹp của tác phẩm văn chương.
Chúng ta biết rằng: Tiếng Việt là một thứ tiếng có nhiều biện pháp và
phương tiện tu từ ngữ nghĩa. Đó là cách kết hợp có hiệu quả tu từ theo trình tự
tiếp nối của các đơn vị từ vựng thuộc một cấp độ trong phạm vi của một đơn vị
khác thuộc bậc cao hơn. Điều mà chúng ta cần chú ý đến và tìm hiểu ở đây trong
phạm vi có liên quan đến vấn đề từ ta đang tập trung nghiên cứu là biện pháp tu
từ ẩn dụ và biện pháp tu từ ngữ nghĩa ẩn dụ trong những phương tiện, biện pháp
sắc cao quý, bác học và thường bắt nguồn từ các lớp từ như: từ thi ca, từ cũ, từ
hán Việt.
+ Những từ ngữ có điệu tính tu từ thấp: Là những từ ngữ được ưu tiên sử
dụng trong lời nói hội thoại, tự nhiên trong sinh hoạt hằng ngày. Đó là những
từ mộc mạc, bình dị, bắt nguồn từ các lớp từ như: Khẩu ngữ, từ lóng, từ nghề
nghiệp, từ địa phương. Còn những từ ngữ không có nghĩa tương liên, từ
không nằm trong dãy đồng nghĩa, không đi vào hệ thống từ vựng tu từ. Tuy
không phải là phương tiện tu từ ở cấp độ thấp từ vựng, nhưng chúng ta có thể
sử dụng để tạo ra các biện pháp tu từ các lớp như: Thuật ngữ từ ở trong danh
mục, từ lịch sự, từ ngoại lai.
Còn các biện pháp tu từ vựng: Là một cách phối hợp sử dụng các đơn vị từ
trong phạm vi của một đơn vị khác thuộc bậc cao hơn (trong câu, trong chỉnh
thể câu) có khả năng đem lại hiệu quả tu từ do mối quan hệ giữa các đơn vị
trong ngữ cảnh. Mối quan hệ có tính chất cú đoạn này đứng ở góc độ tu từ học
thì rất phong phú và đa dạng. Song nếu sử dụng cách phân loại chức năng này
do L.Hjelmev đưa ra thì có thể tách ra thành 3 dạng chính: Quan hệ quy định,
quan hệ hòa hợp, quan hệ tương phản.
Trong quan hệ quy định: Yếu tố được đánh dấu về tu từ học ở điệu tính cao
hay ở điệu tính thấp, được sử dụng trên cái nền của các đơn vị trung hòa tu từ
học đã quy định màu sắc tu từ của toàn bộ phát ngôn.
Trong quan hệ hòa hợp: Những đơn vị được đánh dấu về tu từ học trong cùng
một lớp tu từ thuộc một hay nhiều cấp độ ngôn ngữ kết hợp một cách hài hòa với
nhau dẫn đến hiện tượng liên tưởng có sức biểu hiện mạnh mẽ.
18
Trong quan hệ tương phản: Những yếu tố được đánh dấu về tu từ học thuộc
các lớp tu từ học khác nhau bề ngoài tưởng đối chọi, mâu thuẫn với nhau, nhưng
thực ra lại thống nhất với nhau một cách biện chứng, có khả năng gợi liên tưởng
đến bản chất của những hình tượng, sự vật, hiện tượng phức tạp.
1.1.4.2. Cấp độ ngữ nghĩa
19
Ví dụ:
Tố Hữu đã sử dụng lối so sánh trong câu thơ sau:
Sống trong cát, chết vùi trong cát
Những trái tim như ngọc sáng ngời
[18]
Trong hai câu thơ trên, Tố Hữu đã sử dụng lối so sánh giữa “trái tim” (cái
so sánh) với tính chất “sáng ngời” (cơ sở so sánh) của “ngọc” (cái được so sánh)
qua (từ so sánh) là “như”. Do đó, ta thấy được trái tim - tình yêu thương của
người mẹ bao la trời biển được ví như ngọc sáng ngời.
1.1.4.3. Cấp độ cú pháp
Các cấp độ tu từ cú pháp là những kiểu câu mang màu sắc tu từ do được cải
biến từ những kiểu câu cơ bản (chủ - vị) như kiểu câu rút gọn, mở rộng thành
phần hay đảo trật tự.
Ví dụ: Kiểu câu đảo trật tự.
Đó là một con dao nhỏ nhưng rất sắc
(Chí Phèo - Nam Cao)
Nếu đảo trật tự thành: “Đó là một con dao sắc nhưng nhỏ” thì giá trị biểu
cảm về một con dao sắc sẽ giảm đi.
Còn các biện pháp tu từ cú pháp là những cách phối hợp sử dụng các kiểu
câu để đạt được hiệu quả tu từ trong phạm vi của một đơn vị thuộc bậc cao hơn
(Trong chỉnh thể trên câu, trong đoạn văn, trong cả văn bản) như sóng đôi, đảo,
lặp đầu, lặp cuối, câu hỏi tu từ, tách biệt liên kết tu từ học.
Ví dụ: Phép dùng cú pháp lặp đầu được dùng để cấu tạo những câu thơ sau:
Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Buồn trông ngọn nước mới xa
Hoa trôi man mác biết là về đâu
Buồn trông nội cỏ dầu dầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Mặc dù giữa các phương tiện tu từ và biện pháp tu từ có những điểm khác
nhau như vậy nhưng giữa chúng vẫn có mối quan hệ biện chứng. Một mặt, việc sử
dụng các phương tiện tu từ sẽ tạo ra biện pháp tu từ. Mặt khác việc sử dụng một số
biện pháp tu từ nào đó trong lời nói cũng có thể chuyển hóa nó thành một phương
tiện tu từ. Đây chính là trường hợp của cái gọi là so sánh phóng đại đã mòn đi trong
thời gian. Hơn nữa, cùng một phương tiện tu từ có thể được cùng để xây dựng nên
những biện pháp tu từ khác nhau. Và ngược lại, những phương tiện tu từ khác nhau
có thể cúng tham gia vào việc xây dựng một biện pháp tu từ duy nhất.