Đề tài tài thực tập tốt nghiệp
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài:
Núi Thành không chỉ là huyện có tiềm năng kinh tế, có khu kinh tế mở Chu Lai, mà còn là
huyện có những giá trị văn hoá phong phú và đặc sắc như những trầm tích quý giá lắng đọng qua
các đời, từ xưa đến nay. Đây chính là nền tảng và động lực tinh thần của nhân dân huyện Núi Thành
trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ tổ quốc, phát triển kinh tế - xã hội.
Dù không phải là nơi “chôn nhau cắt rốn”, nhưng Núi Thành là nơi đã cưu mang mẹ con tôi suốt
20 năm qua!
20 năm không phải là quá dài, song không quá ngắn để tôi hiểu, yêu và gắn bó với mảnh đất này
như một “quê hương thứ hai” của mình!
20 năm không đủ để tôi có thể thấu hiểu một vùng đất nhưng đủ để tôi biết rằng: mình phải làm
một điều gì đó cho quê hương!
Những ngày thực tập ở phòng Văn hoá Thông tin huyện Núi Thành, được tìm hiểu về văn
hoá Núi Thành, được nghe phổ biến Nghị Quyết Trung ương V khoá VIII về “ xây dựng và phát
triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, tôi đã thấy được vai trò nền tảng và
động lực của văn hoá trong sự phát triển kinh tế - xã hội.
Tình cảm sâu đậm, khát khao muốn tri ân mảnh đất Núi Thành ân tình, cùng với tác động của
Nghị quyết Trung Ương V khoá VIII là lý do khiến tôi chọn đề tài: “Bước đầu khảo sát một vài di
sản văn hoá Núi Thành” làm đề tài thực tập tốt nghiệp của mình với hi vọng rằng mỗi một con người
của mảnh đất Núi Thành, trong tương lai, sẽ nhận ra giá trị văn hoá của quê hương mình và góp
phần làm cho nó ngày càng hay hơn, đẹp hơn.
II. Mục tiêu của đề tài:
Trong khuân khổ của một đề tài thực tập tốt nghiệp, dung lượng vừa phải, đề tài hướng đến
những mục tiêu sau:
• Thứ nhất: Vẽ được bức tranh tổng quan về di sản văn hoá Núi Thành.
• Thứ hai: Khơi dậy tình yêu thương, niềm tự hào, ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá
Núi Thành cùng với bản sắc văn hoá dân tộc trong mỗi người dân Núi Thành.
2
Đề tài tài thực tập tốt nghiệp
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HUYỆN NÚI THÀNH
3
Đề tài tài thực tập tốt nghiệp
Ngày 03 tháng 12 năm 1983, Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định
144/NĐ-HĐBT thành lập huyện Núi Thành (tách ra từ huyện Tam Kỳ). Phía bắc giáp thành phố
Tam Kỳ, phía Nam giáp huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi, phía đông giáp biển Đông, phía tây giáp
huyện Bắc Trà My; diện tích tự nhiên 53.300ha, dân số 145000 người, có 2 dân tộc Kinh và Cor. Cả
huyện có 1 thị trấn Núi Thành và 16 xã: Tam Trà, Tam Sơn, Tam Thạnh, Tam Mỹ Đông, Tam Mỹ
Tây (5 xã vùng núi); Tam Quang, Tam Tiến, Tam Hải, Tam Hoà, Tam Giang (5 xã vùng biển); Tam
Xuân 1, Tam Xuân 2, Tam Anh Bắc, Tam Anh Nam, Tam Hiệp, Tam Nghĩa (6 xã đồng bằng).
Núi Thành có quốc lộ 1A, đường sắt Bắc - Nam, cảng biển Kỳ Hà, cảng hàng không Chu Lai,
có hệ thống sông ngòi, hồ biển, hồ đập thủy lợi lớn nhỏ; có cả vùng ven biển, vùng đồng bằng và
vùng núi cao tạo nên một dáng vẻ rất riêng, như một "Việt Nam thu nhỏ". Ngược dòng lịch sử, Núi
Thành là mảnh đất con người xuất hiện ở đây rất sớm (8 đến 10 ngàn năm), những di tích do con
người tạo nên còn hiển hiện đến ngày nay như di tích Bàu Nê, Bàu Dũ, tháp Chàm Khương Mỹ, Bàu
Trám, các khu mộ chum đã chứng minh các nền văn hóa Chăm Pa, văn Hóa Sa Huỳnh, văn hóa
Đại Việt nối tiếp nhau và phát triển theo dòng lịch sử cho đến tận bây giờ.
Từ khi mở cõi phương nam, hình thành đạo Thừa Tuyên Quảng Nam (1471), Núi Thành là
một phần của huyện Hà Đông, vào khoảng cuối thế kỷ XIX huyện Hà Đông đổi thành phủ Tam Kỳ,
năm 1962 chính quyền Sài Gòn đổi phủ Tam Kỳ thành huyện Tam Kỳ.
Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, mảnh đất và con người Núi Thành đã
chịu nhiều hi sinh mất mát, chỉ mong sao góp phần giải phóng quê hương, đất nước. Năm 1932, chi
quốc gia, đặc biệt là tại các kỳ Sea Games.
Có thể nói Núi Thành hội đủ các yếu tố tự nhiên, con người văn hóa lịch sử để đầu tư và khai
thác du lịch trong thời kỳ hội nhập. Trong những năm đến, sự phát triển của Núi Thành luôn gắn
chặt với sự phát triển của khu Kinh tế mở Chu Lai và Khu kinh tế Dung Quất. Những mục tiêu chủ
yếu đã được nghị quyết đại hội XIX Đảng bộ huyện xác định là:
Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân hàng năm là 50%, trong đó công nghiệp
do địa phương quản lý là 30%.
Giá trị ngành dịch vụ thương mại tăng bình quân hàng năm là 40%.
Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp tăng bình quân hàng năm 6 - 6,5%.
Đến năm 2010, tỉ trọng giá trị Công nghiệp, Dịch vụ, Thương mại chiếm 90% trong
cơ cấu kinh tế của huyện.
Qui hoạch và xây dựng thị trấn Núi Thành lên đô thị loại 4, xây dựng thị trấn Cây
Trâm, hoàn thành xây dựng khu dân cư đô thị mới, giải phóng mặt bằng đáp ứng yêu
cầu xây dựng Khu kinh tế mở Chu Lai.
Thu ngân sách tăng bình quân hằng năm là 18-20%.
Duy trì tốt phổ cập giáo dục Tiểu học, Trung học cơ sở; phổ cập trung học phổ thông
ở 8/12 xã vùng trọng điểm Khu KTM.
100% số xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về Y tế.
100% cơ quan, 50% thôn khối phố, 80% gia đình đạt danh hiệu văn hóa.
Tỉ lệ hộ nghèo còn dưới 7% (theo chuẩn mới), hoàn thành chương trình xóa nhà ở
tạm cho đối tượng chính sách, hộ nghèo.
Chuyển dịch 70% lao động sang phi nông nghiệp.
Do đặc thù về địa lý - lịch sử, địa lý - nhân văn quảng Nam nói chung, Núi Thành nói riêng
có một kho tàng văn hoá địa phương đậm đà, đặc sắc. Nó vừa mang dáng dấp chung của Quảng
Nam, vừa có cái riêng của Núi Thành.
Chính bản sắc ấy đã hun đúc nên cốt cách của con người Núi Thành đi đầu trong chống giặc
ngoại xâm, ngày nay tiếp tục đi đầu trong xây dựng kinh tế mở.
5
Đề tài tài thực tập tốt nghiệp
xương cá, cộng với các công cụ như đã nêu ở trên giúp chúng ta có thể hình dung phần nào sự phát
triển của nền sản xuất người cổ Bàu Dũ, biết chế tác công cụ lao động, biết săn bắt thú rừng, đánh
bắt hải sản, sống quần cư tạo nên cộng đồng…
Theo thời gian, sau người cổ Bàu Dũ với những đặc trưng như trên, trên địa bàn Núi Thành
đã có các di tích khảo cổ học Bàu Trám (thôn Đức Bố - xã Tam Anh). Dựa vào hơn 200 tiêu bản
công cụ lao động và đồ trang sức đã khai quật được tại đây, các nhà khảo cổ học cho rằng di tích
Bàu Trám cơ bản có niên đại trước văn hoá Sa Huỳnh - chuyển sang Sa Huỳnh có niên đại cách
ngày nay từ 2500 năm đến 3000 năm.
6
Đề tài tài thực tập tốt nghiệp
Di tích mộ chum Phú Hoà (Mỹ Tân An, Tam Xuân 1): các di vật đồng thau mang dáng dấp
di vật văn hoá Đông Sơn, có đặc trưng riêng của văn hoá Bàu Trám (tỉ lệ, kích thước, chi tiết khác
hơn ở di vật văn hoá Đông Sơn). Tuy không có công cụ bằng sắt nhưng qua nghiên cứu các di vật,
các nhà khảo cổ cho rằng di tích Bàu Trám ở vào giai đoạn sơ kì thời đại Sắt. Ngoài ra ở làng Tam
Mỹ (xã Tam Xuân 1), thôn Đông Xuân (xã Tam Giang) cũng có mộ chum…Quá trình nghiên cứu
mộ chum cho chúng ta nhận biết sự phát triển nền sản xuất của người cổ đại gắn với sự phát triển
của một nền văn hoá. Từ văn hoá Bàu Dũ đến văn hoá Bàu Trám (văn hoá Sa Huỳnh ở Quảng
Nam), sản xuất đi từ hái lượm đến săn bắn, đánh bắt hải sản; từ quần cư cộng đồng cho đến phân
tầng xã hội. Xã hội thời văn hoá Sa Huỳnh đã phân hoá giàu - nghèo, xuất hiện tầng lớp thống trị và
bị trị, đã có sự giao lưu với bên ngoài, đã xuất hiện sự lai tạp của nền văn hoá Ấn Độ - Trung Hoa
(qua Ấn Độ giáo). Trong đời sống cư dân Sa Huỳnh cổ, tôn giáo, chính trị, quân sự, kinh tế mà giới
quý tộc Sa Huỳnh cổ lựa chọn đã manh nha xác lập một nhà nước chuyên chế ở những năm đầu của
công nguyên - vương quốc Chămpa.
Ngành Bảo tàng (Bảo tàng Việt Nam, bảo tàng Quảng Nam- Đà Nẵng) đã tiến hành khai
quật được nhiều hiện vật cổ có giá trị về cả lịch sử lẫn văn hoá (kiến trúc điêu khắc, kỉ vật nung,
trình độ chế tác các công cụ lao động), đã đưa các hiện vật quí này trưng bày ở các bảo tàng
Chămpa, bảo tàng Việt Nam, bảo tàng Quảng Nam- Đà Nẵng (nay là bảo tàng thành phố Đà Nẵng).
I.2.Tháp Chăm Khương Mỹ:
Cùng với khu thánh địa Mỹ Sơn (Duy Xuyên), tháp Chăm Chiên Đàn (Tam Kỳ), tại làng Khương
do đó, các nhà nghiên cứu đã xếp chúng vào phong cách riêng: phong cách Khương Mỹ - đầu thế kỷ
X. Trong đợt gia cố, tu bổ tháp Khương Mỹ cuối năm 2000, những người làm công tác trùng tu đã
tìm thấy nền sân tháp nguyên thủy ở độ sâu từ 1,5m đến 1,7m cùng nhiều mảng trang trí chân tường
bằng sa thạch có điêu khắc.
I.3 . Di tích lịch sử cách mạng:
I.3.1. Tượng đài chiến thắng Núi Thành :
“Đài chiến thắng Núi Thành
Tạc vào non sông lồng lộng
Cái trát việt huy hoàng anh giải phóng
Cái trường tồn bất biến nhân dân
“Đài chiến thắng Núi Thành
Thêm một cột mốc đường xuyên Việt
Biển chỉ đường lịch sử ở khúc quanh,
8
Đề tài tài thực tập tốt nghiệp
Từ điển cho những tâm hồn lãng quên…”
(Hồ Anh Tuấn)
Nằm trên một đồi cao 43 mét ở xã Tam Nghĩa - huyện Núi Thành, tiếp giáp với tuyến đường
sắt Bắc - Nam và quốc lộ 1A, cách sân bay Chu Lai 4 km về phía tây, tượng đài chiến thắng Núi
Thành là một trong những tượng đài có quy mô lớn nhất của tỉnh Quảng Nam, là minh chứng hùng
hồn cho tinh thần yêu nước và ý chí, nghị lực phi thường của con người đất Quảng.
Núi Thành, thời kì Hường Hiệu cầm quân giết giặc gọi là Thủ Thành (có tài liệu gọi là Sơn
Thành) bao gồm nhiều đồi nối nhau từ đồi Yên Ngựa đến núi Ao Vuông như là một bức tường
thành là nơi án ngự kiểm soát đường Bắc - Nam, cũng là nơi tiền đồn của căn cứ Chu Lai về hướng
tây.
Tháng 3/1965 khi Mỹ đổ quân vào cảng Kỳ Hà đồng thời tiến hành xây dựng căn cứ Chu
Tên gọi Chùa Hang có từ lâu, không rõ năm nào. Theo truyền thuyết dân gian, từ xa xưa, khi
còn ít người biết đến hang động này, có một nhà sư không rõ danh tánh và nguyên quán đã đến lập
chùa để tu hành, cũng từ đó nhân dân gọi là chùa Hang và mãi đến bây giờ tên gọi chùa Hang vẫn
lưu truyền.
Vì chùa Hang là một hang động nằm ẩn mình trong một ngọn núi xung quanh bao bọc bởi
nhiều cây rừng rậm rạp, xa khu dân cư, nơi đây rất vắng vẻ, ít người lui tới, nên các đồng chí cách
mạng chọn làm điểm hoạt động rất thuận lợi cho việc hội họp và liên lạc. Tháng 11 năm 1940, một
cuộc Hội nghị Tỉnh ủy Quảng Nam mở rộng được tổ chức tại chùa Hang, dưới sự chỉ đạo của Xứ
ủy, có sự tham dự của các đồng chí: Lê Chưởng, Hồ Tỵ, Trương An là những người Xứ ủy cử đến
dự Hội nghị và triển khai công tác. Hội nghị diễn ra trong không khí vui tươi, phấn khởi, các đồng
chí trong Tỉnh ủy lâm thời và đại biểu của 8 phủ, huyện về dự.
Hội nghị chùa Hang tháng 11 năm 1940 có ý nghĩ lịch sử rất quan trọng, làm cho Quảng
Nam chuyển cơ bản về các mặt: đường lối, tổ chức và phương pháp hoạt động. Qua Hội nghị bồi
dưỡng ý vì dân, vì nước chiến đấu đến cùng để dành độc lập tự do cho nhân dân. Di tích chùa Hang
được xếp hạng cấp tỉnh.
I.3.3. Các di tích cách mạng khác:
I.3.3.1 . Di tích Khương Mỹ:
Tại tháp ba Khương Mỹ thuộc xã Tam Xuân là nơi tập trung lực lượng quần chúng tổ chức
mít tinh và kéo về tỉnh đường Quảng Nam cướp chính quyền vào ngày 19/09/1945. Nhà nước đã
xếp hạng di tích lịch sử cách mạng cấp tỉnh, đã xây dựng trụ chiến công, gắn bia di tích. Nơi đây rất
thuận lợi cho thăm quan vì địa điểm này gắn liền với khu tháp Chămpa.
I.3.3.2. Di tích đồi Hóc Tú, thuộc thôn Tịnh Sơn xã Tam Mỹ:
Nơi đây đã diễn ra rất nhiều trận đánh giữa quân lính, bộ đội địa phương với quân Mỹ-
ngụy. Qui mô các trận đánh lên đến cấp trung đoàn của Mỹ - ngụy có cả xe tăng, máy bay, pháo
hạng nặng yểm trợ, nhưng quân Mỹ - ngụy đều thất bại. Đặc biệt là tại khu vực này, Anh hùng lực
lượng vũ trang nhân dân Võ Phố đã mưu trí dùng lựu đạn hạ được máy bay lên thẳng của Mỹ. Di
tích này được xếp hạng cấp tỉnh.
I.3.3.3. Di tích thờ cụ Nguyễn Kế, thuộc thôn Khương Bình xã Tam Hiệp:
Khen ai khéo dựng núi Bàn Than
Dãi gió dầm nưa với thế gian
Khom lưng, ông Đụn vờn mây nước
Nhắm mắt, bà Che tẩy bụi trần
Triều dâng bãi Bấc, cao vờn thấp
Sóng vỗ bên Nồm, duỗi dọc ngang
An Hòa thiện tục còn hay mất
Nỡ để hố Đùng đắm nỗi oan
11
Đề tài tài thực tập tốt nghiệp
(Một bài thơ Nôm khuyết danh)
Núi Bàn Than (mũi Bàn Than) thuộc thôn Thuận An, xã Tam Hải là một thắng cảnh đầy
hấp dẫn, với cảnh đá rạn “Ông Đụn, Bà Che”, “bãi Bấc, bãi Nồm” ôm giữ những câu chuyện tình rất
đẹp, xa xa là những hòn đảo lớn nhỏ.
Núi Bàn Than là một dải đá đen tuyền, lấp lánh như than. Trải dài trên bờ cát trắng bao
quanh mũi An Hoà khoảng 3km. Ở Bàn Than, ớp đá xếp chồng lên nhau, đó là loại phiến thạch có
nguồn gốc trầm tích, biển - nước và sóng đã xâm thực vào đá đã tạo ra những hình thù lạ mắt, kết hp
với những vân đá hình thành nên những tác phẩm điêu khắc độc đáo của tạo hoá. Trên mũi Bàn
Than có hai bãi biển, đó là bãi Bấc ở phía Bắc và bãi Nồm ở phía Nam. Trên bãi Nồm có hai mỏm
đá nhô ra biển, nhân dân đặt tên là “Ông Đụn, Bà Che”.
Bàn Than gắn với cụm đảo nhỏ ở về phía Đông nam là hòn Dứa, hòn Mang, hòn Mú (cách
Bàn Than từ 500 đến 1000m). Dưới chân núi Bàn Than là rừng dừa dày đặc, mát rượi, suốt ngày
"không tìn ra ánh nắng".
Đây là vùng cửa biển có hải sản, động vật biển, san hô rất đa dạng, phong phú: con nha, ốc
đụn, ốc vú nàng, tôm hùm, cá mú, cá hồng, cá thia, rau sói, rau mứt, các rặng san hô
Với tất cả những đặc điểm trên, Bàn Than là nơi du lịch lý tưởng, bên cạnh đó các nhà đầu tư
đã xây dựng khu du lịch sinh thái biển và đang thu hút khách du lịch. Đây là nơi rất có lợi thế làm du
lịch sinh thái, nơi nghỉ mát phục vụ cho khu kinh tế mở Chu Lai.
dựng nước và giữ nước, có công mang lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho nhân dân.
Thường thì lễ hội có hai phần: phần lễ và phần hội. Phần lễ là những nghi thức cúng bái, tạ
ơn, cầu xin thần linh mang đậm bản sắc tín ngưỡng. Phần hội là những sinh hoạt văn hóa trước hay
sau lễ như hát hò, diễn xướng, các trò chơi dân gian, thi đấu thể thao mang tinh thần thể thao và
thượng võ.
Là một loại hình di sản văn hóa phi vật thể khá đặc sắc, lễ hội Núi Thành cũng tương tự như
lễ hội ở các địa phương khác trong tỉnh Quảng Nam. Thường thì lễ hội diễn ra vào mùa xuân, đầu
hay cuối mùa sản xuất. Dưới đây là những lễ hội tiêu biểu của Núi Thành cần được nghiên cứu chấn
hưng, gìn giữ, lưu truyền, làm cho đời sống văn hóa tinh thần được phong phú, làm nổi bật bản sắc
văn hóa địa phương.
II.1.1. Lễ hội cầu ngư của cư dân vùng biển :
Đây là lễ hội xuất phát từ tục thờ cúng cá ông (có nhiều loại như Ông Chuông, Ông Mực,
Ông Bằng, Ông Nhồng ) nó có nguồn gốc từ cư dân Chămpa thờ thần biển Pô- riaka, sau là thần
Pô- inưgar (hóa thân của cá voi). Các cư dân Việt lại cho rằng cá Ông (vị thần Nam Hải) từng chỉ
huy các loài cá hiền lành chống lại các loài cá dữ do cá mập cầm đầu và cuối cùng, tuy chiến thắng
nhưng ông bị chết, do đó phải thờ Ông thì ông sẽ phù hộ khi đi biển; cũng có vùng cho rằng khi gặp
bão tố các thuyền thường được cá Ông nâng đỡ dìu vào bờ, vào đảo và nhiều người thoát nạn do
vậy chuyện thờ cúng cá Ông là việc tất nhiên (mang đầy màu sắc tâm linh).
Lễ hội cầu ngư được tổ chức ở mỗi vạn chài (thường gắn với địa bàn thôn) và đó là ngày
truyền thống của từng vạn chài đó: vạn Xuân Hải (thôn Đông Xuân, Tam Giang) vào mồng 4 tháng
giêng Âm lịch; vạn An Hải (thôn Sâm Linh và An Hải, Tam Quang) vào mồng 6 tháng giêng Âm
lịch; vạn Thuận An (thôn 1, Tam Hải) vào ngày 20 tháng giêng Âm lịch Mỗi vạn đều có lăng thờ
cá Ông. Ngày xưa các lăng có qui mô và kiến trúc khá độc đáo, song do chiến tranh tàn phá gần như
không còn.
Ngày nay tùy thuộc vào điều kiện kinh tế một số vạn đã phục hồi lại lăng để tổ chức lễ hội.
Lễ hội thường tổ chức ở lăng ông, cửa biển và những khu vực liên quan, thành phần chính
trong buổi lễ là dân trong vạn chài. Lễ vật thường là hương đèn, vàng mã, rượu, trầu cau, nước chè
khô sắc đậm, gạo muối, đầu heo hoặc gà, một số vùng có làm bè bằng bẹ chuối để các vật cúng và
thả trên biển Tùy theo quy mô mà vạn chài che rạp để che nắng mưa. Lễ phục vạn trưởng, chủ bái
con vật nào.
Đối tượng cúng đều là các nữ thần, tức các Moh: Moh Huýt là thần giữ giống lúa, Moh Crai
là thần phù hộ cho lúa tốt, Moh Pút là thần phù hộ cho lúa hình thành hạt gạo ngon, Moh Lúp phù hộ
cho sự gom góp lúa đầy đủ, Moh Pnel phù hộ cho con người ăn được nhiều cơm gạo, lại có Moh hỏi
( như là hai chữ vân vân, có nghĩa là các Moh khác nữa mà người cúng vái có thể không biết được
hết). Cúng lễ ăn cơm mới thường trong phạm vi gia đình, mỗi gia đình tổ chức cúng riêng. Nhưng
mọi người chỉ cúng sau khi ông chủ nóc bắt đầu cúng. Các nhà có thể cúng lễ ăn cơm mới cùng một
ngày, có thể cúng vào những ngày khác nhau, tuỳ theo nóc.
Nghi thức hiến tế các con vật nuôi ( heo, gà, vịt) đều phải qua hai công đoạn cúng sống
( cúng tươi) và cúng chín. Cúng sống nếu là heo thì cột heo ngoài sân, chủ lễ bưng cái đík thúc ( cơi
thờ đan bằng tre, đựng tro, chén gạo nhỏ, đốt trầm và thắp đèn sáp ong) cầm sâu lục lạc ra sân cúng
vái, dùng dao phép đâm phép vào con heo, dùng cây phép gõ phép vào heo, rung lục lạc gọi hồn, sau
đó làm thịt heo và chuẩn bị cúng chín. Phẩm vật cúng được bày biện trong nhiều “mâm” ( có thể từ
10 đến 40 “mâm”). Trong đó “mâm” lớn đặt ở giữa, có đầu heo, gan lòng heo, con gà, gan gà,
“mâm” nhỏ đặt trên lá chuối rừng theo hàng xung quanh, theo nguyên tắc mõi “mâm” tối thiểu phải
có chén cơm mới với con cá suối nhỏ, chén nước, chén rượu, lá trầu chấm vôi, ít cau xé nhỏ, tí thịt, tí
gan. Trong mâm cúng cũng không thể thiếu chai rượu trắng. Chủ lễ bưng cái đík thúc ngồi vái từng
14
Đề tài tài thực tập tốt nghiệp
vị thần, mỗi lần vái lại bốc ít gạo rải vào các mâm, cầm xâu lục lạc đặt ở mâm lớn nhất rung gọi hồn.
Cúng lễ xong, người chủ lễ bốc ít cơm bỏ lên đầu mình, rồi lần lượt bốc cơm bỏ lên đầu vợ, con
trong nhà, biểu thị sự hàm ơn các thần đã phù hộ cho lúa tốt, bội thu. Sắp kết thúc lễ cúng, ông lại
bốc ít cơm trong chén bỏ lên đầu, lên hai vai, hai bên hông mình và cuối cùng bốc ít gan gà bỏ lên
đầu bà vợ. Lễ cúng đơn giản nhưng trang nghiêm. Có khách đến chủ nhà sẽ lấy các thức cúng đãi
khách ăn uống thật vui vẻ; đem ít thịt đến biếu bà con trong làng. chỉ sau khi làm lễ ăn lúa mới xong
gia đình mới lên rẫy suốt lúa.
Lễ ăn cơm mới ở đây có ý nghĩa như lễ cúng cáo thần linh đã phù hộ cho mùa màng tươi tốt,
bội thu và xin được đưa lúa về.
Người Cor không chỉ làm lúa, nhưng lúa là một phần quan trọng quyết định tới sự no đói,
15
Đề tài tài thực tập tốt nghiệp
Trong lễ hội Cầu Ngư, hát múa bả trạo là một phần quan trọng, nó làm cho xã hội vừa hấp
dẫn, quấn hút công chúng đồng thời tăng thêm yếu tố tâm linh. Nội dung thể hiện nguyện vọng của
dân chài: cầu mong sự bình yên trước phong ba bão táp, gửi gắm sinh mệnh cho thần "Nam Hải".
Đây là một hình thức diễn xướng tập thể múa hát (ước lệ chèo thuyền trên hồ, trên sân
đình ). Một đội chèo thuyền gồm 3 tổng: tổng Mũi (chỉ huy), tổng Khoang (kiêm tát nước) và tổng
Lái (chỉ huy). Trình tự nội dung bao gồm: hát rước linh ông, hát bái lạy, hát ca ngợi ông và hò đưa
linh. Nhịp điệu là theo nhịp chèo khoan. Về âm nhạc, đây là tổng hợp của nhiều loại hình ca hát, nó
vừa là lối tác dụng của đạo Phật (sư sãi) vừa có lối của người hát bội, vừa có hát bè, hát Bài Chòi
Có những màn diễn hấp dẫn như tái hiện cảnh thuyền gặp bão tố, ngư dân cố sức chống chèo để
vượt lên cầu mong có Ngư Ông phù hộ, rồi có màn đố kể các loài tôm cá trên biển
II.2.3. Hát Bài Chòi :
Hát Bài Chòi đi với trò chơi Bài Chòi nhưng không mang tính cờ bạc mà chỉ là một sinh
hoạt dân gian vui xuân vào ngày tết. Trò chơi dựa trên 30 quân bài của bộ bài với cái tên gọi rất dân
gian như: bạch huê, đỏ mỏ, ba gà Người ta dựng một cái chòi trung tâm, xung quanh dựng từ 6 đến
9 chòi con. Người hát hô ở chòi trung tâm, xóc ống thẻ cho trồi lên một thẻ rồi rút ra và hát dân ca
ứng tác. Người ngồi trong các chòi con, chọn (mua) từ ống tre của người hát hô ba thẻ bài, theo dõi
người hô hát dò bài. Dò đến khi đủ ba thẻ thì hô to, rung cờ, đánh trống báo hiệu trúng và được
thưởng.
Nội dung của câu hát Bài Chòi rất dí dỏm, dễ thương, vui nhộn, không dài lắm. đặc biệt là
làm sao chêm vào được các tên của thẻ bài vừa rút ra.
Ví dụ:
+ Ông Ầm:
- Hai tay bưng dĩa mắm dầm
Vừa đi vừa húp té ầm xuống mương
- Có thằng cha nghênh ngang trời đất
giả : “Thủ Thiệm - Tiếng cười dân gian độc đáo xứ Quảng”.
Nói là công phu hơn, không phải đề cập số lượng mẩu chuyện cười Thủ Thiệm được giới
thiệu (75 mẩu, so với tổng cộng 104 mẩu sưu tầm được của Nguyễn Văn Bổn), mà là cách tác giả
“gia công” trong việc hệ thống lại, bình luận, giới thiệu về bối cảnh lịch sử, thân thế, hành trạng
nhân vật cùng “chỗ đứng” trong dòng chảy truyện cười dân gian Việt Nam.
Mộ Thủ Thiệm
17
Đề tài tài thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Văn Bổn cũng thừa nhận, thông qua công trình này, ông “cố gắng lý giải những
diễn biến tâm lý đưa đến việc bày tỏ thái độ sống và những hành động chống đối lại xã hội cũ bằng
tiếng cười châm biếm, đả kích cay độc và đầy sức chiến đấu của Thủ Thiệm”. Tác giả cũng bàn về
sự xuất hiện của “cái tục” trong truyện cười Thủ Thiệm và đưa ra nhận xét rằng “ có bộc lộ “cái
tục”, khi mỉa mai, giễu cợt, hoặc khi đả phá, châm chích thì trước sau vẫn để lộ một bản ngã vững
vàng, lành mạnh, một ý thức đả phá để xây dựng”, thể hiện rõ tính nhân văn trong các câu chuyện
cười. Với khoảng 180 trang sách, tác giả dành hết phân nửa cho phần này. Tất cả cũng chỉ để khẳng
định sức sống Thủ Thiệm và ngầm bày tỏ niềm tự hào đối với người con xứ Quảng.
Có thể nói đây là công trình đầy đủ nhất, đa chiều nhất về một nhân vật văn hóa dân gian độc
đáo, có thật và là sở hữu chủ của nhiều giai thoại như Thủ Thiệm. Việc nhà nghiên cứu Nguyễn Văn
Bổn có điều kiện tìm đến mộ, đọc được gia phả và gặp những hậu duệ trực hệ của Thủ Thiệm (mà
trước đó ông chưa làm được) cũng đã giúp ông có thêm thông tin, có cái nhìn quán xuyến, đầy đủ
hơn. Và độc giả cũng tiếp cận “sát” hơn về nhân vật Thủ Thiệm. 75 mẩu chuyện cười Thủ Thiệm
được tác giả phân thành 3 nhóm : những truyện thể hiện ý thức chống cường quyền; những truyện
thể hiện ý thức chống lại những suy đồi của xã hội; những truyện bộc lộ thái độ tự trào. Đã 87 năm
ngày Thủ Thiệm mất, tiếng cười của ông vẫn còn được lưu giữ trong trí nhớ nhiều người, nhiều thế
hệ. Thủ Thiệm xứng đáng được xếp “ngồi cùng chiếu” với những nhân vật hiếm hoi, đặc sắc trong
kho tàng truyện cười dân gian Việt Nam như Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, Ông Ó, Ba Phi
II.4. Ẩm thực:
muối ớt xanh (muối sống là hay nhất) sẽ có một hương vị đậm đà, thịt cá vừa dai, vừa thơm lại vừa
ngọt.
I I.4.3 . Mỳ Quảng:
Đây là món ăn khoái khẩu của dân Quảng Nam nói chung. Bây giờ mì Quảng được chu du
"khắp từ Bắc chí Nam" và kể cả "xuất cảnh”. Ngoài kĩ thuật chung về làm lá mì, rau sống, mỳ
Quảng bà Tường Cây Trâm rất nổi tiếng là nhờ kĩ thuật làm nước nhưn (nước chan) và con tôm bấy,
cua ghẹ cớm (sắp thay vỏ). Mỳ bà Tường nhờ kĩ thuật làm nước nhưn và các loại như kể trên lại vừa
sang, lại vừa ngon, lại vừa rẻ tiền, nhờ thế ai đã từng ăn mì bà Tường Cây Trâm thì nhớ mãi.
Ngoài mỳ Quảng Cây Trâm, người Quảng đi đâu xa về cũng không thể không ghé lại một
địa chỉ mỳ khá nổi tiếng : mỳ Long Bình. Tôi không thể nào quên câu chào của ông chủ tiệm mỳ với
khách: " Chào mừng khách ghé quán mỳ thương Long Bình". Vào quán mỳ Long Bình, khách
không chỉ được thưởng thức những tô mì ngon, đúng chất mì Quảng, mà khách còn được thư giãn
vui vẻ với những câu chuyện vãn không đầu không cuối của ông chủ vui tính. Với giọng biển đặc
sệt, cử chỉ thân thiện, nhiệt tình với khách (không kể khách lạ hay khách quen), ông chủ mỳ Long
Bình đã khiến khách thưởng mì không muốn rời quán!
II.4.4 . Rau sói:
Núi Thành có rất nhiều loại rau ở biển, ở sông nước lợ như là rau câu lạch, rau câu cồn, rau
mứt, rau đá, đặc biệt là rau sói.
Rau sói mọc từ đá ở Bàn Than, có màu nâu đỏ, sợi rau tựa như sợi rau câu cồn. Đem rau sói trộn
với một vài vị rau thơm thì được một món ăn tuyệt vời (nếu là rau khô thì đem ngâm trong nước độ
khoảng một giờ sau đó vớt ra).
Ngoài ra, ở Núi Thành là vùng sông nước, biển cả cho nên thủy hải sản thì đa dạng và
phong phú, chất lượng cao: tôm sú. tôm hùm, các loại cá như cá cồi, cá chình, cá dìa, cá mú là
những đặc sản có giá trị cao. Ở đây còn có các món thịt chim mà hầu như các nơi khác không có
như: chim gù ghì, chim xanh.19
Năm 1786, khi Hoàng đế Quang Trung cưỡi voi tiến quân ra Phú Xuân - Thăng Long, trong
đoàn quân Bắc tiến ấy có hai cơ quân bộ người Hà Đông, những người đã góp phần giúp Hoàng đế
Quang Trung làm nên nghiệp lớn, “Nếu ta gặt hái được nhiều thành quả như ngày hôm nay cũng là
nhờ vào lòng quả cảm của các đạo quân cơ xứ Bình Định và Quảng Nam” (lời Quang Trung -
Nguyễn Huệ). Không chỉ có thế, để mở đường hành quân cho các đạo quân của người anh hùng áo
vải, người dân Thác Diết (Tam Sơn, Núi Thành) đã hô nhau lên đèo Ba Vi, ngày đêm phá đá, mở
đường xuyên núi để cho nghĩa quân tiến nhanh ra kinh thành. Kì tích hành quân của nghĩa quân Tây
Sơn đã đi vào huyền thoại, nhưng có lẽ lịch sử cũng chưa biết được ở trong đó, có một phần đóng
góp của người dân miền sơn cước Tam Sơn.
Cái khí chất anh hùng của con người Núi Thành cũng hiển hiện trong cái chết oanh liệt của
người thủ lĩnh phong trào Cần Vương - An Phổ Phan Bá Phiến - người con, người anh hùng của quê
20
Đề tài tài thực tập tốt nghiệp
hương. Ly rượu thuốc độc cuối cùng ở căn cứ Tân Tỉnh như một lời nguyền tâm giao gởi cụ Hường
Hiệu và các nghĩa binh đất Quảng rằng: “Sống hiếu, chết trung, vì nước sống hiếu, vì nước chết
sáng … là một tấm gương sáng bất khuất” (văn bia do cụ Phan Bộ Châu ghi lại tại mộ Phan Bá
Phiến).
Có lẽ phải nhắc lại lịch sử, Bởi Núi Thành không chỉ là miền đất đi đầu đánh Mỹ, mà ngay
cả trong thời kì tiền khởi nghĩa, Núi Thành đã có những cái nhất Quảng Nam như lịch sử Đảng bộ
huyện Tam Kỳ ghi lại: ngay trong những năm đổ vỡ của phong trào cách mạng ( 1930- 1931), trong
khi các phủ, huyện trong tỉnh chưa có nơi nào xây dựng lại các tổ chức Đảng thì ở An Hoà, bên
ghềnh đá lô nhô của Bàn Than, chi bộ An Hoà của ba người trẻ tuổi giàu nhiệt huyết cách mạng: Võ
Minh, Trần Học Giới, Lương Hợp Phố được thành lập và giữ vững, thắp sáng ngọn lửa cách mạng
cho quê hương. Đất nơi đây cũng chính là “cái nôi, bàn đạp của cách mạng” trong những thời khắc
khó khăn nhất khi phong trào cách mạng của cả nước và Quảng Nam bị đàn áp nặng nề, nhiều tổ
chức cơ sở Đảng tan rã, lòng dân nao núng thì phong trào ở đây vẫn tự mình vực dậy và mạnh mẽ
đứng lên. Rừng Định Phước (6 - 1933), cửa lở An Hoà (6 - 1940), bến sông Diên Trưởng ( 5 - 1944)
đã ba lần chứng kiến việc thành lập tỉnh uỷ Quảng Nam, tổ chức lãnh đạo và chỉ đạo phong trào
cách mạng tỉnh nhà vùng lên cho đến ngày toàn thắng. Điều đặc biệt lưu ý là, Tỉnh uỷ lâm thời được
Chánh xuống đường bị địch chặn lại ở đầu cầu Tam Kỳ, 70 người ngã xuống cho sự kết tinh của
mùa xuân tranh đấu; rồi trận Núi Thành, trận Kỳ Hoà, núi Miễu, Nổng Chai… Qua 21 năm chống
Mỹ, quân và dân Núi Thành đa thực hiện tác chiến và phối hợp tác chiến với 10.575 trận đánh lớn,
nhỏ, tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu 41.679 tên địch, trong đó có 10.566 lính Mỹ và chư hầu,
bắt sống 179 tên địch, 217 ác ôn, san bằng 86 chốt điểm, bắn rơi 121 máy bay, làm bị hỏng 17 chiếc.
bắn cháy 236 xe quân sự, bắn chìm hàng chục tàu chiến, phá hàng trăm khu đồn, ấp chiến lược, trại
tập trung… Để có những chiến thắng đó, 4600 người con Núi Thành đã ngã xuống, 1000 người là
thương binh.
Làm sao có thể nói hết được chiến tích của người và đất Núi Thành. Điều rất dễ hiểu, dễ
giải thích là vì sao đã có nhiều tác phẩm văn học đã viết rất hay về miền đất này, ngay ở trong cuộc
chiến nóng bỏng. Có lẽ anh Bê chiến sĩ, cô Út Sâm và gia đình má Bảy, Mẫn và Thiêm là hoá thân
của chị Thanh, chị Một, của anh hùng liệt sĩ Lê Văn Tâm, anh Sơn “Tam Hoà” mà Phan Tứ đã từng
sống bên họ ở cái lán nhỏ dưới chân đèo Mộc (Tam Mỹ); cũng có lẽ những con người của “Tam
Giang thứ ba” là ẩn chìm của những tấm lòng một mực trung hiếu, kiên trinh cách mạng của bao
người dân bên dòng sông Trường Giang.
II. Những người con ưu tú của Núi Thành:
II.1 . Phan Bá Phiến:
Nhà chí sĩ yêu nước, một trong những lãnh tướng của phong trào Nghĩa Hội chống Pháp
nữa sau thế kỷ 19.
Phan Bá Phiến, tự là Dương Nhân, Ông sinh năm 1839, mất năm 1887. Từ nhỏ ông mồ côi
cha mẹ, với tư chất thông minh hiếu học, ông đỗ cử nhân năm Nhâm Ngọ, đời Tự Đức thứ 35
(1882), làm quan đến chức tri huyện Phù Cát tỉnh Bình Định. Hưởng ứng chiếu Cần Vương chống
Pháp của vua Hàm Nghi, Phan Bá Phiến cùng với các chủ tướng Trần Văn Dư và Nguyễn Duy Hiệu
thành lập nghĩa hội Quảng Nam, một tổ chức yêu nước chống Pháp ở ba tỉnh Quảng nam, Quảng
Ngãi và Bình Định. Từ năm 1885 đến tháng 6 - 188, phong trào nghĩa hội đã nắm quyền kiểm soát
và điều hành công việc nội trị ở khắp tỉnh Quảng Nam và trở thành phong trào yêu nước lớn mạnh,
có tiếng vang lúc bấy giờ. Khâm sứ Trung kỳ lúc bấy giờ là Jean Baille đã ví: phong trào này như
đã dựng Quảng Nam thành một nước.
Trước sự lớn mạnh của phong trào nghĩa hội, thực dân Pháp và triều đình nhà Nguyễn đã
Đảng Cộng sản vào năm 1932, rồi dần dần trở thành một trong những người lãnh đạo chủ chốt trong
vùng những năm sau đó. Mật thám địa phương xem ông là phần tử cực kì nguy hiểm, đã nhiều lần tổ
chức vây bắt. Tháng 6 - 1943, do có sự phản bội, chỉ điểm, ông đã bị mật thám Pháp bắt đầy lên nhà
lao Buôn Ma Thuật với mức án 25 năm tù cầm cố. Sau khi Nhật đảo chính Pháp, ông được tha và
trở về tham gia lãnh đạo phong trào cách mạng, được tỉnh uỷ giao nhiệm vụ chủ trì công việc của Uỷ
ban bạo động khởi nghĩa giành chính quyền ở Quảng Nam - Đà Nẵng. Ông đã cùng các đồng chí
lãnh đạo đề ra kế hoạch hành động một các sáng tạo và hết sức linh hoạt, đã nhanh chóng giành
thắng lợi trong cuộc khởi nghĩa này.
Gần cả cuộc đời cách mạng của đồng chí Võ Chí Công gắn liền với quê hương Quảng Nam
- Đà Nẵng và khu V từ ngày đầu hoạt động cách mạng
cho đến mùa xuân toàn thắng năm 1975.
Sau khi cách mạng tháng tám thành công,
đồng chí Võ Chí Công trở thành một trong những nhà
lãnh đạo chủ chốt của Quảng Nam - Đà Nẵng phụ
trách tư pháp và bắt đầu gắn liền sự nghiệp cách mạng
của mình với sự nghiệp xây dựng chính quyền và lực
lượng vũ trang ở khu V.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm
lược, liên khu V được Đảng và Bác Hồ giao nhiệm vụ
giúp đỡ cách mạng Lào và cách mạng Campuchia. Võ
Chí Công và những người đồng đội của mình đã hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ được Trung ương giao phó. từ
kinh nghiệm quí của hoạt động giúp bạn, trong kháng
23
Đề tài tài thực tập tốt nghiệp
chiến chống Mỹ, khu V đã hơn một lần được Trung ương chỉ định giúp đỡ cách mạng các nước anh
em. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Bộ chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
đồng ý cử đồng chí đang tham gia cải cách ruộng đất ở Việt Bắc, bí mật trở lại khu V, trên một
chuyến bay của Pháp, cùng đồng chí Lê Đức Thọ vào Nam bộ, tổ chức cuộc chiến đấu của khu V
Về cùng em thăm lại Chu Lai
Cát cựa mình bâng khuâng nỗi nhớ
Viên đá cuội thì thầm biết nói
Gió Kỳ Hà trăn trở chuyện nghìn năm
…
Về Núi Thành hồi ức tuổi hai mươi
Cháy bỏng trong tôi, nghe từng nhịp thở
Đi bên em anh thấy mình mắc nợ
Một miền quê gắn bó nửa cuộc đời
( Vầng sáng Chu Lai - Phạm Phú Hưng)
Về với Núi Thành là về với nơi mà đại tướng Chu Huy Mân, đồng chí Tố Hữu đã từng băng
qua lửa đạn về nằm lót ổ chỉ đạo phong trào trong kháng chiến. Về với Núi Thành cũng là về với
một rẻo đất nhỏ nằm trong trảng Bà mù, với một tấm bảng đá nhỏ như một chứng tích giản đơn bên
cát. Và bây giờ, trên cái trảng cát mênh mông năm ấy, một vóc dáng công nghiệp đã được tạo dựng,
một tương lai rạng rỡ đang mở ra cho mảnh đất này khi Khu kinh tế mở Chu Lai - Khu kinh tế mở
đầu tiên của cả nước - đang đi vào hoạt động. Các dự án đã và đang được triển khai với sự nỗ lực
của cả tỉnh, huyện cùng với sự giúp đỡ của Trung ương để thực hiện mục tiêu của Khu kinh tế mở
Chu Lai. Có thể hi vọng rằng, không bao lâu nữa, nơi đây sẽ trở thành khu công nghiệp hiện đại, một
vùng du lịch hấp dẫn và một thành phố biển đàng hoàng, to đẹp, góp phần vào sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ta.
Cùng với sự chuyển mình về kinh tế, trong những năm gần đây, Núi Thành nói riêng,
Quảng Nam nói chung đang diễn ra một cuộc phục hưng trong lĩnh vực văn hoá. Những giá trị
truyền thống đang được khôi phục. Các di sản văn hoá vật chất đang được chính quyền và nhân dân
chú trọng tu bổ, gìn giữ, tôn tạo (Ngành văn hoá - thông tin phối hợp cùng huyện Núi Thành lập dự
án tôn tạo xây dựng khu di tích chiến thắng Núi Thành thành khu du lịch gắn với tour du lịch biển
Rạng - chùa Hang - hố Giang Thơm; Ngành Bảo tàng đã tiến hành khai quật nhiều hiện vật cổ có giá
trị tại khu Bàu Dũ, Bàu Trám, Bàu Nê, khu mộ chum, đưa về trưng bày ở các bảo tàng Quảng Nam -
Đà Nẵng, nay là thành phố Đà Nẵng;…). Những hình thức hoạt động văn hoá đa dạng, phong phú,