Nghiên cứu bài học kinh nghiệm để phát huy tiềm năng di sản văn hóa tại không gian di sản văn hóa thế giới Thành Nhà Hồ và Khu di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh - Pdf 30

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỂ PHÁT HUY TIỀM
NĂNG DI SẢN VĂN HÓA TẠI KHÔNG GIAN DI SẢN THẾ GIỚI THÀNH
NHÀ HỒ VÀ KHU DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT LAM KINH
Người thực hiện: ThS. Lê Thị Thảo

THANH HÓA 8-2014
1
MỤC LỤC
CH NG 1ƯƠ 3
S C N THI T PH I NGHIÊN C U BÀI H C I CH NG VÀ BÀI H C KINH Ự Ầ Ế Ả Ứ Ọ ĐỐ Ứ Ọ
NGHI M ÁP D NG VÀO KHÔNG GIAN V N HÓA – DU L CH THÀNH Ệ ĐỂ Ụ Ă Ị
NHÀ H VÀ KHU DI T CH L CH S LAM KINHỒ Í Ị Ử 3
1.1. Nh ng yêu c u c p thi t i v i phát tri n du l ch t i Không gian v n ữ ầ ấ ế đố ớ ể ị ạ ă
hóa – du l ch Th nh Nh H v Khu di tích l ch s Lam Kinhị à à ồ à ị ử 3
1.1.2. S c n thi t k t n i phát tri n du l ch i v i Di s n v n hóa th ự ầ ế ế ố ể ị đố ớ ả ă ế
gi i Th nh Nh H v Di tích qu c gia c bi t Lam Kinhớ à à ồ à ố đặ ệ 8
1.1.2.1. Giá tr h p d n c bi t c a Di s n v n hóa th gi i Th nh Nh ị ấ ẫ đặ ệ ủ ả ă ế ớ à à
H v Di tích qu c gia c bi t Lam Kinhồ à ố đặ ệ 8
1.1.2.2. Nh ng h n ch trong phát tri n du l ch t i Di s n v n hóa th ữ ạ ế ể ị ạ ả ă ế
gi i Th nh Nh H v Di tích qu c gia c bi t Lam Kinhớ à à ồ à ố đặ ệ 16
1.2. Yêu c u phát tri n du l ch i v i Di tích qu c gia c bi t Lam Kinh ầ ể ị đố ớ ố đặ ệ
v Di s n v n hóa th gi i Th nh Nh Hà ả ă ế ớ à à ồ 21
1.2.1. Yêu c u phát tri n du l ch i v i Di tích qu c gia c bi t Lam ầ ể ị đố ớ ố đặ ệ
Kinh 21
1.2.2. Yêu c u phát tri n du l ch i v i Di s n v n hóa th gi i Th nh ầ ể ị đố ớ ả ă ế ớ à
Nh Hà ồ 23
1.2.3. Yêu c u liên k t phát tri n du l ch gi a Lam Kinh v Th nh Nh ầ ế ể ị ữ à à à
Hồ 24

TÀI LI U THAM KH OỆ Ả 55
2
CHƯƠNG 1
SỰ CẦN THIẾT PHẢI NGHIÊN CỨU BÀI HỌC ĐỐI CHỨNG VÀ BÀI
HỌC KINH NGHIỆM ĐỂ ÁP DỤNG VÀO KHÔNG GIAN VĂN HÓA –
DU LỊCH THÀNH NHÀ HỒ VÀ KHU DI TÍCH LỊCH SỬ LAM KINH
1.1. Những yêu cầu cấp thiết đối với phát triển du lịch tại Không
gian văn hóa – du lịch Thành Nhà Hồ và Khu di tích lịch sử Lam Kinh
1.1.1. Mục tiêu, yêu cầu phát triển du lịch Thanh Hóa trong hệ thống
du lịch Việt Nam và quốc tế
Chiến lược Phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến
năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số
2473/QĐ-TTg ngày 30/12/2011, theo đó quan điểm phát triển chủ đạo của Du
lịch Việt Nam là: (i) Trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; (ii) Phát triển theo
hướng chuyên nghiệp, hiện đại, có trọng tâm, trọng điểm và chú trọng phát
triển theo chiều sâu; (iii) Phát triển đồng thời cả du lịch nội địa và du lịch quốc
tế; (iv) Phát triển bền vững gắn chặt với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa,
môi trường; và (v) Đẩy mạnh xã hội hóa, huy động mọi nguồn lực cho phát
triển du lịch. Mục tiêu đặt ra với du lịch Việt Nam đến 2020 là đón 7 -7,5 triệu
lượt khách quốc tế và 36- 37 triệu lượt khách nội địa, tổng thu từ khách du lịch
đạt 10 – 11 tỷ USD.
Phương án tổ chức không gian lãnh thổ du lịch cả nước xác định có bảy
vùng là: Trung du miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng và duyên hải
Đông Bắc, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam
Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long. Trong đó có Thanh Hóa nằm trong vùng
Bắc Trung Bộ - là tỉnh cực Bắc của vùng, kết nối vùng Bắc Trung Bộ với
vùng Đồng bằng sông Hồng và đặc biệt là Hà Nội – một trong hai thị trường
khách và điểm trung chuyển khách lớn nhất của cả nước. Đây là vị trí hết sức
quan trọng và có ý nghĩa đối với phát triển du lịch Thanh Hóa.
3

đây việc công nhận Thành nhà Hồ là Di sản thế giới là một minh chứng rõ
ràng nhất. Thành nhà Hồ, cùng với Lam Kinh, cầu Hàm Rồng, di tích khảo cổ
Đông Sơn, Đa Bút góp phần tạo nên thế cạnh tranh mạnh mẽ của Thanh Hóa
đối với thị trường Du lịch – Văn hóa – Lịch sử
Khu vực miền núi phía Tây của Thanh Hóa là nơi sinh sống của đồng
bào dân tộc thiểu số là sự bổ sung hết sức quan trọng đối với hệ thống tài
nguyên du lịch của tỉnh, góp phần tạo điều kiện phát triển các sản phẩm du
lịch phong phú, đa dạng, đáp ứng nhu cầu của nhiều thị trường khách du lịch
khác nhau.
Với hệ thống tài nguyên du lịch hết sức phong phú đa dạng và vị trí địa
lí thuận lợi, du lịch Thanh Hóa đã hình thành từ rất sớm và liên tục có những
bước phát triển mạnh mẽ trong những năm qua.
Năm 2011 Thanh Hóa đón trên 3,3 triệu lượt khách nội địa và 43 nghìn
lượt khách quốc tế. Cả thị trường nội địa và quốc tế đều có tăng trưởng vững
vàng trong những năm qua. Thị trường khách nội địa cảu Thanh Hóa chủ yếu
là Hà Nội và các tỉnh đồng bằng sông Hồng. Thị trường khách quốc tế của
tỉnh chủ yếu là Đông Bắc Á (50%), Đông Nam Á (gần 20%) và Bắc Mỹ (gần
10%). Doanh thu du lịch năm 2011 cũng đạt trên 1500 tỷ đồng, gần bằng
thành tích của Thừa Thiên - Huế là địa phương có hoạt động du lịch phát triển
nhất trong vùng Bắc Trung Bộ.
Chương trình phát triển du lịch Thanh Hóa giai đoạn 2011 – 2015 được
phê duyệt theo Quyết định số 2182/QĐ- UBND của UBND tỉnh Thanh Hóa
ngày 07 tháng 7 năm 2011 xác định việc xây dựng hệ thống điểm du lịch gắn
với các không gian du lịch, đặc biệt nhấn mạnh đến các điểm di tích lịch sử -
văn hóa và vùng sinh thái tiềm năng: Sầm Sơn, Hàm Rồng, Lam Kinh, Thành
Nhà Hồ.
Trong Kế hoạch Phát triển du lịch tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020, thực
hiện Chương trình hành động Quốc gia về du lịch (số 45/KH-UBND ngày
25/4/2014 của UBND tỉnh Thanh Hóa) đặt ra mục tiêu đến năm 2020 phát
5

- Công tác quảng bá, xúc tiến còn chưa được thực hiện chuyên nghiệp,
đặc biệt là chưa thực hiện đánh giá hiệu quả từ đó có những điều chỉnh, bổ
sung cần thiết.
Để khắc phục những khó khăn thách thức trên, du lịch Thanh Hóa cần
những biện pháp, giải pháp phát triển thiết thực, cụ thể nhằm góp phần thúc
đẩy tăng trưởng mạnh, bền vững, cụ thể những vấn đề sau cần được quan tâm
7
giải quyết:
- Đặc biệt chú trọng khắc phục vấn đề mùa vụ của hoạt động du lịch, từ
đó nâng cao hiệu quả kinh doanh, chất lượng dịch vụ, chất lượng đội ngũ
nguồn nhân lực, tăng hấp dẫn đối với các nhà đầu tư
- Chuyên nghiệp hóa công tác quảng bá xúc tiến sản phẩm du lịch
- Cải thiện, nâng cao chất lượng toàn diện sản phẩm du lịch chủ đạo
hiện có của Thanh Hóa: Mạnh mẽ đổi mới, đầu tư cải thiện cơ bản hình ảnh du
lịch Sầm Sơn
- Đầu tư phát triển du lịch biển đảo với những cách tiếp cận mới mà Hải
Thịnh là một trong những ví dụ tiêu biểu
- Đa dạng hóa sản phẩm du lịch: Tăng cường đầu tư mở rộng hoạt động
du lịch về phía Tây nhằm đa dạng hóa sản phẩm du lịch, tăng cường sức hút,
sức cạnh tranh và khắc phục tính mùa vụ của hoạt động du lịch Thanh Hóa.
- Đầu tư phát triển du lịch khu vực Thành nhà Hồ, Lam Kinh, suối cá
Cẩm Lương thành trung tâm du lịch văn hóa - di sản của tỉnh bên cạnh các
trung tâm du lịch nghỉ dưỡng biển Sầm Sơn và du lịch gắn với thương mại tại
Nghi Sơn.
- Xây dựng chương trình hợp tác liên kết thực chất, có hiệu quả với các
địa phương trong vùng Bắc Trung Bộ, với thị trường gửi khách lớn nhất miền
Bắc là Hà Nội, với các tỉnh Tây Bắc như Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên qua
quốc lộ 6 và với Lào qua cửa khẩu Na Mèo.
1.1.2. Sự cần thiết kết nối phát triển du lịch đối với Di sản văn hóa thế
giới Thành Nhà Hồ và Di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh

Lương Giang thì cương vực ngày nay bao gồm những vùng nào vẫn còn phải
nghiên cứu. Hay huyện Lôi Dương với các địa danh như: Mục Sơn sách, Thủy
Chú sách, Phùng Dực sách, Hải Lịch sách, Thụ Mệnh Thôn, Bái Đô trang
Ngoài ra các địa danh khác như: núi Pù Rinh, núi Chí Linh, Mường Mọt,
Mường Nanh, Mường Chính, Mường Thôi, Bồ Mồng, Bồ Thi Lang, Ba Lẫm,
Kình Lộng, Mường Đòn, Thiết Ống, Đồng Tâm. Xuôi xuống các huyện đồng
bằng nhiều địa danh do Lê Lợi đặt tên như: Thôn Tứ Trụ, Dốc Hương (xã Thọ
9
Hải), Làng Xuân Phả, Thôn Chí Cẩn, Đoán Quyết (huyện Thiệu Hóa), Tiên
Nông Cầu Chày, Thung Mai (hay Lũng Nhai – huyện Yên Định), Thung Voi
(Yên Lâm) Làng Miềng, Bãi Lạnh, (Lang Chánh) gắn với chuyện Hồ Ly;
Làng Vân Am có Làng Trò (Ngọc Lặc) gắn với các trò vui của nghĩa quân như
trò Pồn Pôông với đền Bà (tục thờ chiếc dón và dao quéo, liên quan đến Lê
Lợi những ngày bị quân Minh vây hãm). Vùng Tây Nam Lam Sơn là huyện
Thường Xuân có núi Bù Rinh, Bù Chó, Bù Gió và Suối Đá Khao (gắn liền với
chuyện “hòa nước sông chén rượi ngọt ngào", thể hiện tình cảm đồng lòng của
tướng sĩ cùng đồng bào. Tuy nhiên, vùng Lang Chánh cũng có làng Năng Cát
và Huổi Láu (suối rượu) và giai thoại giống như trên . Đây là một vùng rộng
lớn miền Tây Thanh Hóa, bao gồm các huyện Quan Hóa, Quan Sơn, Cẩm
Thủy, Lang Chánh, Thường Xuân, Bá Thước, Ngọc Lạc, Yên Định, Thiệu
Hóa, Đông Sơn Đây cũng là địa bàn hành quân, vừa cầm cự, vừa chống đỡ,
bảo toàn lực lượng trước giặc Minh hung hãn. Nói như thế đủ thấy không gian
văn hóa gian Lam Sơn gắn liền với nghĩa Quân Lam Sơn rộng lớn như thế
nào.
Hệ thống di vật văn hóa đặc trưng chủ yếu hiện còn là Khu lăng mộ nhà
Lê Sơ ở Lam Kinh. Đây là nguồn tư liệu mỹ thuật kiến trúc tiêu biểu thời Lê
sơ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng còn lại ở thế kỷ XV.
Tuy nhiên, hệ thống di sản văn hóa ở không gian văn hóa Lam Sơn
không chỉ có quần thể Khu lăng mộ Vua Lê sơ mà còn có rất nhiều di tích vệ
tinh như đền Tép, đền Tứ Trụ ở xã Thọ Diên, đền Nguyễn Nhữ Lãm, đề Bà ở

ngoại vi thành đá hiện có, đó là phố xá của một kinh kỳ và hoàng thành; Nghĩa
thứ hai được hiểu thành nhà Hồ chỉ là tòa thành bằng đá, vốn là Thành Nội
của vương triều nhà Hồ. Tòa thành nằm lọt trong một thung lũng, phía Tây
Bắc là dãy núi Song Tượng (voi mẹ, voi con), phía Tây và Tây Nam có 5
ngọn núi hợp thành khu Động An Tôn với các núi Kim Ngưu và Kim Ngọ,
điểm hợp lưu của sông Mã và sông Bưởi ở phía Nam kinh thành. Địa thế của
căn cứ quân sự này dễ dàng kết nối với núi rừng và nhanh chóng tiến xuống
đồng bằng, tiếp cận nam- bắc đều thuận tiện, chính đây là yếu tố hết sức hấp
dẫn khiến cho Hồ Quý Lý quyết định xây dựng Tây Đô vào năm 1937.
11
Bốn cổng thành vốn là biểu tượng rất độc đáo không thể nhầm lẫn với
bất kỳ một công trình kiến trúc nào khác, mỗi cổng thành mang theo một hình
thái kiến trúc riêng. Cửa Nam (Cửa Tiền) thuộc đất làng Xuân Giai ngày nay,
nối thẳng đến Đàn Nam Giao trên núi Đún (cách 3,0 km), cửa rộng tới
34,85m, gồm 1 cửa lớn cao 8,5m, rộng 5,85m ở trung tâm, 2 cửa bên cao
7,8m, rộng 5,445m; cả 3 cửa đều xây theo vòm cuốn, đá được đẽo vát hình
thang xết ken khít nhau vững chắc. Cửa Bắc chỉ có một lối đi chính, vòm cuốn
cao 5,425m, rộng của vòm cuốn 5,80m; cửa rộng toàn phần 21,342m, sâu
13,55m, cao đỉnh 8,098m. Cửa Nam và cửa Bắc được kiến trúc hoàn chỉnh,
hiện còn nhiều dấu vết về cối kê, hèm cửa, đặc biệt nhiều chân lỗ cắm lan can,
hàng chân tảng, biểu hiện của một vọng lâu trên gác mái rõ rệt. Cổng Nam và
cổng Bắc hợp thành đường chính đạo xuyên qua công trình. Cửa Tây và cửa
Đông hiện còn cho thấy một đồ án kiến trúc chưa hoàn chỉnh, phản ánh sự thi
công gấp gáp của một pháo đài quân sự, dấu vết dang dở còn lại đến ngày nay.
Kiến trúc cổng Nam thành nhà Hồ là một đồ án cổng có vọng lâu, một thức
kiến trúc rất độc đáo, bao gồm 3 phần đặc trưng theo chiều ngang (3 cửa ra
vào), 3 tầng theo chiều cao (mền móng, cửa thành, vọng lâu), thuộc loại có
sớm nhất, to lớn nhất; Từ sau thế kỷ XV, thức kiến trúc này được áp dụng vào
nhiều công trình khác trong nước và khu vực.
Các di vật bằng chất liệu đá hiện có trên công trình chủ yếu thuộc nhóm

gì còn lại dưới lòng đất. Đồ gốm tại thành nhà Hồ sẽ mang lại nhiều ý nghĩa,
bởi mối quan hệ đặc biệt của việc xây thành một cách gấp gáp, phải tháo gỡ
nhiều vật liệu từ Thăng Long đưa về. Đặc biệt hệ thống gạch bìa, gạch bó, vỉa
mà Chu Quang Trứ đã phát hiện từ 1976 nay khai quật phát hiện thêm nhiều
chủng loại rất đa dạng với số lượng hàng trăm viên. Đây là loại gạch nung
dùng để bó vỉa, xây cống thoát nước, ốp bìa mặt công trình. Mỗi loại gạch
bên cạnh dọc hoặc cạnh ngang có dấu triện chữ Hán - Nôm, nội dung chủ yếu
là ghi địa danh nơi cúng tiến, một số loại ghi nội dung khác. Kỹ thuật nung
gạch đã đạt ở nhiệt độ cao, gạch chín đều, bề mặt gạch mịn, dấu triện đóng lên
13
gạch kiểu âm bản hay dương bản, chữ triện khắc đẹp, tinh xảo. Các minh văn
ghi trên gạch nung cho nhiều thông tin tư liệu lịch sử quý giá. Vùng Vĩnh Lộc
chiếm số lượng địa danh cung cấp gạch nhiều nhất, tuy nhiên có nhiều loại
gạch ghi xuất xứ tận vùng Tuyên Quang, Hải Hưng…Theo Đại Việt sử ký
toàn thư thì: “Vào năm Tân Tỵ (1401) Hán Thương ra lệnh cho các lộ nung
gạch để dùng vào việc xây thành. Trước đây xây thành Tây Đô, tải nhiều đá
tới xây, ít lâu sau bị sụp đổ, đến đây mới xây trên bằng gạch, dưới bằng đá”.
Cứ theo sách Toàn Thư thì gạch xây trên thành sẽ có rất nhiều, nay chỉ có thể
khai quật tìm thấy phần còn dưới lòng đất. Vậy phần kiến trúc gạch xây trên
thành có hình thức kiến trúc như như thế nào? Đó là một bí mật vẫn còn chưa
làm sáng tỏ.
Thành Tây Đô chỉ tồn tại vẻn vẹn 07 năm (1400-1407) với tư cách là
một kinh đô của nhà Hồ, tuy nhiên với ưu điểm đặc biệt của một thành lũy
kiên cố bằng đá, lại ở vào một vị thế rất đặc dụng cho việc dụng binh mà
nhiều thế lực quân sự, chính trị ở các thời kỳ sau đó đã sử dụng thành làm căn
cứ (quân nhà Minh ở TK XV, nhà Hậu Lê ở TK XVI, XVIII ). Nhiều di vật
văn hóa tại đây thu được qua các lần khai quật khảo cổ cho thấy sự đa dạng
của nhiều thể loại phong cách đại diện cho mỹ thuật của các thời kỳ Trần, Lê,
Nguyễn. Mặt khác, do tính chất ly kỳ nửa thực, nửa hư của các câu chuyện
nửa lịch sử, nửa huyền thoại mà thành cổ Tây Đô càng thêm bí hiểm.

nạn. Chuyện về ý chí kiên cường chống trả quân nhà Minh của quân sĩ họ Hồ
không thành công để lại dấu tích là mau An Tôn ngày nay trên đất xã Vĩnh
Yên (phía Tây Bắc thành).
Câu chuyện về việc xây đàn tế Nam Giao năm 1402, sách Đại Việt sử ký
toàn thư viết: “Nhâm Ngọ 1402, tháng 8, Hán Thương sai đắp đàn Nam Giao
ở núi Đốn Sơn để làm lễ tế Giao; đại xá thiên hạ. Ngày hôm lễ, Hán Thương
ngồi trên kiệu Vân Long do cửa nam mà đi ra”. Ngày nay đàn Nam Giao còn
khá nguyên trạng nền móng, như vậy tại đây có hai môc lịch sử liên quan đến
hai sự kiện: một là núi Đốn Sơn ở năm 1399 là đất mà Trần Khát Chân tổ
chức Hội thề và đất mà từ năm 1402 Hồ Hán Thương dùng làm đàn tế Giao.
Tại đây các dấu tích về giếng Vua, nền Thượng, nền Trung, nền Hạ còn khá rõ
ràng. Dân gian vẫn còn đọng ký ức về ngọn núi linh thiêng với các buổi lễ
Giao hàng năm, với nhiều tên xóm, làng mang theo hình thế nghi thức lễ bái
15
xưa như: Dọc Bái, Dọc Sen. Tục lế Giao từ thời nhà Hồ được nhà Lê, nhà
Nguyễn thực hiện thành điển lễ rất quy cũ sau này.
Ngày 27/6, tại Paris (Pháp), Ủy ban di sản thế giới thuộc Tổ chức văn
hóa, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO) đã công nhận di tích
thành nhà Hồ ở Thanh Hóa là di sản văn hóa thế giới. Thành nhà Hồ là một di
sản văn hóa thế giới có nhiều giá trị độc đáo, trên cả bình diện văn hóa vật thể
và phi vật thể. Những điều bí ẩn vẫn còn chờ đợi công tác khảo cổ học tiếp tục
làm sáng tỏ. Nhưng những hiện vật, tư liệu hiện có cũng đủ làm cho di sản văn
hóa thế giới này trở nên hấp dẫn du khách quốc tế và trong nước. Vấn đề là
cần đầu tư cho công tác trưng bầy hiện vật khảo cổ một cách trang trọng tương
xứng với gía trị quý hiếm của hàng ngàn hiện vật đang có. Cần nghiên cứu xác
định rõ quy hoạch thành nội và tổ chức khảo cổ một cách có hệ thống nhằm
làm xuất lộ hình hài của một tòa thành xưa và bảo tồn nó theo kiểu “một bảo
tàng khảo cổ học” phục vụ du khách, thay vì vẫn cho canh tác nông nghiệp
như ngày nay. Cần kết hợp phục dựng một phần đàn tế Giao trên núi Đốn Sơn
cho du khách xem một nghi thức tế Giao ở thế kỷ XV. Cần quyết tâm quy

lịch. Thay đổi loại hình hoạt động để khi nào người đi du lịch đến Thanh Hóa
là muốn xem và khi xem là thực sự thích thú để/hay có thêm hiểu biết vùng đất
này, là để nghỉ ngơi - vui chơi - mua bán và thực sự là nghỉ ngơi - vui chơi -
mua bán ở những địa điểm du lịch này.
- Nhân lực du lịch chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển du lịch
Nhân lực du lịch ở đây không những chưa đáp ứng với yêu cầu hiện tại
mà khó có thể đáp ứng với đòi hỏi cao của người du lịch trong tương lai. Có
thể nói đây là một “yếu diểm” mà du lịch Thanh Hóa cần phải thực sự chú ý
một cách thích đáng. Nếu không, trong khi du lịch Thanh Hóa vẫn “giữ
nguyên tình trạng như đang có” mà những địa phương khác không ngừng thay
đổi thì sự giật lùi của du lịch Thanh Hóa là không tránh khỏi.
17
Chúng tôi nghĩ rằng cái dấu hiệu cho thấy chất lượng nhân lực du lịch
còn quá khiêm nhường thể hiện ở những khâu chủ yếu sau đây. Thứ nhất là
chất lượng tổ chức các hoạt động du lịch địa phương thể hiện sự bất cập của
chất lượng nhân lực quản lý; thứ hai là sự đơn giản hóa về tri thức văn hóa
cũng như sự hiểu biết về địa danh du lịch thể hiện ở sự giới thiệu “nghèo nàn”
của đội ngũ hướng dẫn viên tại các địa điểm du lịch; thứ ba là mức độ còn
thiếu tỉ mỉ và ít chu đáo trong hoạt động ăn và nghỉ ở những địa điểm du lịch
Thanh Hóa thể hiện chất lượng nhân lực nhà hàng - khách sạn ở đây chưa
qua đào tạo còn quá nhiều. Những ai đã có điều kiện tham gia các điểm du
lịch ở phía nam đất nước, nhất là đã đi du lịch nước ngoài, người ta sẽ nhận
thấy rất rõ nhất sự mất cân đối về chất lượng của đội ngũ nhân lực du lịch như
đã nói ở trên của Thanh Hóa. Sự mất cân đối về chất lượng nhân lực du lịch
như thế khó có thể tạo ra bước phát triển mới trong tương lai.
Đến thăm nhiều địa điểm du lịch của Thanh Hóa, người ta nhận thấy
phần nhiều người đi du lịch “tự chiêm nghiệm lấy”. Điều này được nhận thấy
rất rõ khi có dịp nghe hướng dẫn viên giới thiệu di tích ở Thành Nhà Hồ, khu
Lam Kinh, hòn Trống Mái (ở Sầm Sơn) v.v. Những gì người đi du lịch nhận
được từ hướng dẫn viên giới thiệu di tích thường không vượt quá những gì đã

kết hợp được như thế, rõ ràng, là trách nhiệm của đội ngũ nhân lực quản lý.
Nói một cách khác, ngành du lịch Thanh Hóa tương lai phải có những người
có thể nhìn thấy, có thể tổ chức thành công những tua hay chương trình du lịch
có sự kết hợp những địa điểm gần nhau là thành Nhà Hồ, khu Lam Kinh, suối
cá thần Cẩm Lương, khu nghỉ ngới vên biển v.v để đáp ứng như cầu cao của
người đi du lịch trong tương lai. Có như vậy, mới lưu giữ họ nhiều ngày ở
Thanh Hóa, mới khiến họ muốn lần nữa trở lại nơi đây.
- Nhận thức của người dân về phát triển du lịch chưa được nâng
cao
19
Để hướng tới mục tiêu du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng, góp
phần vào phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, chúng tôi nghĩ rằng những
nhà quản lý nhà nước ở Thanh Hóa phải chú ý đến một vấn đề rất hệ trọng
trong đời sống cộng đồng nơi đây. Đó là phải làm sao cho đặt ra mục tiêu và
có cách thức thay đổi nhận thức của người dân ở những địa bàn có tổ chức
hoạt động du lịch. Bởi vì, trên thực tế tuy mấy năm gần đây thái độ của cộng
đồng người dân ở những địa điểm du lịch của Thanh Hóa “dễ chịu” hơn nhiều
nhưng so với những điểm du lịch khác ở Việt Nam thì sự tiến bộ về cách ứng
xử ấy vẫn chưa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của du khách đi du lịch.
Du khách đi du lịch đến bất cứ nơi đâu cũng là bỏ tiền để “mua” sự
thoải mái. Cộng đồng cư dân nơi có địa điểm du lịch khi biết làm du lịch hiệu
quả là biết cách làm sao du khách chi phí càng nhiều để “mua” sự thoải mái
ấy. Chỉ khi du khách vui vẻ tự nguyện “chi tiêu” thì giá trị nơi du lịch mới trở
thành bền vững. Có thể nói rằng vẫn còn những khách du lịch đến “chiêm
ngưỡng” và “nghỉ ngơi” ở những địa danh nổi tiếng của Thanh Hóa chưa đánh
giá cao về “chất lượng hay thái độ” du lịch của cộng đồng dân cư nơi đây.
Một con sâu làm rầu nồi canh. Khi vẫn còn có lời phàn nàn về thái độ ứng xử,
việc lôi kéo được đông đảo tầng lớp khách du lịch đến tham quan nghỉ ngơi
không phải là công việc dễ dàng, nhất là đối với nhóm những “hành khách du
lịch” có đòi hỏi cao về chất lượng.

quy hoạch quan trọng là phải giữ được toàn bộ không gian tự nhiên của núi
rừng, sự thiêng của toàn bộ khu di tích, trân trọng, gìn giữ những vật thờ, đồ
thờ tuy nhỏ bé nhưng đã khoác trên mình tấm áo được chồng dầy lớp bụi của
thời gian, của lịch sử mà nó đã đi qua.
- Ngoài ra, chúng ta có thể lựa chọn một số trích đoạn lễ hội để phục
dựng, trình diễn cho du khách thưởng thức hòa cùng không gian rộng lớn của di
tích như: trích đoạn Lễ nghi Bái yết sơn lăng, lễ tế trời đất, lễ tế tổ, trò Bình
21
Ngô phá trận, Chư hầu lai triều, Trò Tú Huần. Chú ý quá trình xây dựng kịch
bản phải lấy người dân làm chủ thể trình diễn (tổ chức một đội diễn viên
chuyên biểu diễn cho khách du lịch xem). Tìm những nét đặc trưng, độc đáo để
phát huy thế mạnh của lễ hội và trò diễn. Tránh đơn điệu hoá lễ hội hay sân
khấu hoá, trần tục hoá lễ hội, làm cho mất ý nghĩa linh thiêng vốn có của nó.
- Cần mở rộng không gian khu di tích tiếp nối đến đền Lê Lai (cách phía
tây thêm 10km) tạo một không gian văn hoá du lịch hấp dẫn do tính đa dạng
của các giá trị văn hoá và sinh thái.
- Cần tiếp tục tăng diện tích rừng vành đai khu lõi của di tích tạo môi
trường du lịch sinh thái hấp dẫn bao quanh nhánh sông Lương Giang.
- Quảng bá và khai thác tăng cường tính thiêng liêng, niềm tin tín
ngưỡng được cấu thành từ các sử tích và huyền thoại dân gian của đức Lê
Thái Tổ và nghĩa quân Lam Sơn.
- Cần tăng cường các dịch vụ bổ sung tại khu du lịch, chú trọng đến sản
phẩm truyền thống, nâng cao chất lượng lên thành thương hiệu riêng của địa
phương: bánh gai Tứ Trụ, nem nướng, ẩm thực địa phương
- Đầu tư xây dựng, nâng cấp các khách sạn trong vùng. Ở Lam Kinh có
thể xây dựng các khách sạn xếp hạng từ 2 - 4 sao, có đầy đủ các phòng Hội
nghị, hội thảo chuyên đề, hướng đến thu hút khách đi theo loại hình nghiên
cứu - hội thảo (MICE). Bổ sung các dịch vụ viễn thông, ngân hàng, các dịch
vụ giải trí.
- Các cấp quản lý cần thường xuyên tuyên truyền, giáo dục nhân dân,

chùa Thông và Động Hồ Công (Vĩnh Ninh), chùa Giáng (Vĩnh Thành), các
ngôi nhà cổ của người Việt ở hai xã Vĩnh Hùng, Vĩnh Tiến.
- Có thể sử dụng một số đoạn trong lễ hội đền Đún (xã Vĩnh Thành) -
lễ hội tôn vinh Đức Thánh Lưỡng Trần Khát Chân, cách thành Nhà Hồ 1km
về phía Nam. Chính lễ thường được tổ chức từ ngày 23 đến ngày 25 tháng 4
(âm lịch). Tuy nhiên, để đưa toàn bộ nội dung lễ hội vào dòng chảy du lịch là
23
một việc khó khăn. Chúng ta có thể sử dụng một số trích đoạn có hàm lượng
văn hoá đặc sắc tái diễn cho khách du lịch xem liên tục tại di tích như: phần
Diễn xướng chèo chải với âm hưởng mạnh mẽ, thể hiện hồi ức về chiến thắng
oanh liệu của Trần Khát Chân chém đầu Chế Bồng Nga, kéo dài đến tiết mục
dùng 24 bai chèo xếp thành hai chữ Cầu phúc.
Điểm du lịch Thành Nhà Hồ vừa là điểm hạt nhân nối dài, nhưng đồng
thời đây cũng là điểm trung gian, điểm dừng chân để khách tiếp tục cuộc hành
trình đi suối cá thần Cẩm Lương, Pù Luông - Pù Hu hoặc xa hơn là các điểm
du lịch của tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên. Do vậy, trong bán kính 2km
cần xây dựng thêm các cơ sở hạ tầng và dịch vụ bổ sung:
+ Xây dựng các khách sạn xếp hạng từ 2 - 3 sao đáp ứng nhu cầu nghỉ
lại của những khách sang trọng, khách hội nghị, hội thảo chuyên đề.
+ Xây dựng trung tâm mua sắm, dịch vụ vui chơi, giải trí, thông tin,
ngân hàng, trung tâm hội nghị.
+ Khôi phục lại các làng chế biến sản vật truyền thống, nâng cao chất
lượng mẫu mã sản phẩm, tạo sức hấp dẫn đối với khách du lịch: chè lam Phủ
Quảng, báo sâm - loại sâm trên núi Báo xã Vĩnh Hùng, củ ấu xã Vĩnh An.
1.2.3. Yêu cầu liên kết phát triển du lịch giữa Lam Kinh và Thành
Nhà Hồ
- Yêu cầu liên kết các sản phẩm du lịch đặc trưng giữa Lam Kinh và
Thành Nhà Hồ và các điểm du lịch lân cận (suối cá thần Cẩm Lương, các
điểm du lịch vệ tinh…) để du khách có thể thưởng thức nhiều "món ăn" du
lịch trên cùng một tour. Xây dựng các phương án liên kết các điểm du lịch phù

Khu di tích lịch sử Lam Kinh và Di sản văn hóa thế giới Thành Nhà Hồ
là hai di sản văn hóa đặc biệt không chỉ của xứ Thanh mà của cả nước Việt
Nam và thế giới. Đến nay, vấn đề phát triển du lịch tại hai di sản này vẫn còn
nhiều hạn chế cần khắc phục. Việc kết nối hai di tích này với nhau trong hoạt
động du lịch là một giải pháp hữu hiệu, không những phát huy lợi thế của từng
25

Trích đoạn CHƯƠNG 3 CH TRONG VÀ NGOÀI NỊ ƯỚC
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status