BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRƯƠNG QUỐC TÁM
SỬ DỤNG CÁC DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG Ở
TRƯỜNG THPT TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2015
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRƯƠNG QUỐC TÁM
SỬ DỤNG CÁC DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG Ở
TRƯỜNG THPT TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: LL&PPDH Lịch sử
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS TRỊNH ĐÌNH TÙNG
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
PGS-TS: Phó Giáo sư - Tiến sĩ
GS-TS : Giáo sư - Tiến sĩ
THPT: Trung học phổ thông
THCS : Trung học cơ sở
HS : Học sinh
GV : Giáo viên
GDCD : Giáo dục công dân
CTGDPT : Chương trình giáo dục phổ thông
GD : Giáo dục
SL : Số lượng
Cb : Chủ biên
NXB : Nhà xuất bản
ĐHSP : Đại học sư phạm
HĐND : Hội đồng nhân dân
UBND : Ủy ban nhân dân
KHXH : Khoa học xã hội
MỤC LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................86
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh “toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế”, giáo dục lịch sử cho học
sinh trở thành nội dung được tất cả các quốc gia trên thế giới quan tâm. Ở nước ta,
trong tương lai, mà sao nhãng học lịch sử, đặc biệt là tìm hiểu về lịch sử địa phương.
Do vậy, chúng ta cần phải có cách nhìn nhận khách quan và có định hướng đúng trong
trong công tác chỉ đạo dạy học lịch sử địa phương để từ đó lôi cuốn, thu hút và định
hướng đúng cho sự phát triển nhận thức và phát triển năng lực của thế hệ học sinh.
Quảng Ninh là vùng đất có vị trí đặc biệt quan trọng trong cả nước. Từ trước,
nhiều người biết đến nơi đây như; Một vùng vàng đen với ngành khai thác than rất
phát triển; Một vùng đất có biển đảo với cảnh đẹp thiên nhiên hữu tình; Một địa danh
du lịch sinh thái hấp dẫn; Một vùng kinh tế mở sôi động với cửa khẩu quốc tế Móng
Cái… điều đó đôi khi làm người ta quên đi một Quảng Ninh với tư cách là một biểu
tượng cho truyền thống văn hóa lịch sử của dân tộc.
Quảng Ninh không chỉ là một chiếc nôi của người Việt cổ với dấu tích của nhiều
nền văn hóa lớn: như nền văn hóa Hạ Long, nền văn hóa Cái Bèo, nền văn hóa Soi
Nhụ… mà còn có nền văn hóa đa dạng phong phú trên cơ sở hội tụ 21 dân tộc anh em
với nhiều giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể được quốc gia và thế giới ghi nhận. Người
dân nơi đây cũng đã sát cánh cùng nhân dân cả nước, kiên trì bền bỉ trên suốt chặng
đường dài dựng nước và giữ nước. Biết bao thế hệ kế tục nhau viết lên những trang sử
chói lọi của tinh thần anh hùng bất khuất chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc (từ các triều
đại phong kiến phương Bắc tới hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ).
Quảng Ninh cũng là nơi chứng kiến sự ra đời, trưởng thành và đấu tranh của
giai cấp công nhân Việt Nam. Những trang sử rạng ngời của tỉnh Quảng Ninh cần
phải được các thế hệ học sinh biết đến, lấy đó để giáo dục truyền thống văn hóa lịch
sử, tình yêu quê hương đát nước, làm động lực xây dựng quê hương Quảng Ninh phát
triển giầu mạnh.
Quảng Ninh được ví như đất nước Việt Nam thu nhỏ, với phong phú các di
tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng, các di tích cấp tỉnh,
di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt. Tính đến năm 2013, Quảng Ninh đã
được nhà nước công nhận 4 khu Di tích quốc gia đặc biệt, đó là:
Danh lam thắng cảnh Vịnh Hạ Long (Thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả
đến các di tích quôc gia đặc biệt ở Quảng Ninh với góc nhìn của sử học, khảo cổ học, văn
hóa, tâm linh, môi trường, địa chất địa mạo, thiên nhiên... Các nhà lí luận và phương pháp
dạy học lịch sử đã đề cập đến các di tích quốc gia đặc biệt như các di sản dưới góc độ của
một giáo cụ trực quan trong đổi mới phương pháp dạy học. Còn các nhà quản lí xem xét
các di tích quôc gia đặc biệt tại địa phương trên bình diện vĩ mô tức là vấn đề về bảo tồn
và phát triển. Nhìn chung, qua các công trình nghiên cứu các nhà nghiên cứu đều khẳng
định các di tích quốc gia đặc biệt, các di sản văn hóa là kho tư liệu vật chất phong phú,
quý giá của dân tộc được xây dựng từ nền tảng của các địa phương. Trong phạm vi
3
nghiên cứu của luận văn chúng tôi tập trung tìm hiểu những công trình nghiên cứu của các
nhà khoa học nước ngoài và trong nước về sử dụng các di sản văn hóa nói chung và di
tích lịch sử văn hóa nói riêng trong dạy học lịch sử dân tộc và lịch sử địa phương ở trường
THPT tỉnh Quảng Ninh.
Tài liệu nước ngoài
Trong các công ước quốc tế, các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu
nước ngoài về di sản văn hóa hầu hết đã bàn đến di sản văn hóa được bảo lưu từ đời này
sang đời khác và có tác dụng giáo dục con người về truyền thống của mỗi dân tộc.
Trong “Công ước về bảo vệ di sản tự nhiên và di sản văn hóa”(1972) và
“Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể” Pari, 17/10/2003 di sản văn hóa
“được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, đồng thời hình thành trong họ một
ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng
văn hóa và tính sáng tạo của con người”.
Tại hội nghị Quốc tế các khoa học lịch sử lần thứ XVII ở Madrit (Tây Ban
Nha), từ ngày 26/8 đến 2/9/1990 có báo cáo về vấn đề "Các nhà sử học và việc gìn
giữ các di sản văn hóa của nhân loại". Hội nghị đã khẳng định: "Di tích lịch sử - văn
hóa là những di sản văn hóa quý hiếm của nhân loại, cần được bảo vệ và sử dụng
đúng đắn. Di tích lịch sử đã và đang trải qua những hiểm họa đó là thời gian ngày
sử với lịch sử địa phương. GV có thể giao nhiệm vụ cho HS tìm kiếm và phân tích
những cứ liệu lịch sử ở địa phương liên quan đến lịch sử dân tộc để làm sáng tỏ những
nội dung trong bài học…
Trong cuốn “Phát triển tư duy HS” của Aleexep [1], đã khẳng định: “cơ sở
tâm lý của nhận thức trực quan sinh động trong học tập lịch sử khi tạo biểu tượng
trong sáng muôn màu muôn vẻ về các sự vật hiện tượng đang học”. Có thể thực hiện
nhiệm vụ này bằng cách tổ chức cho HS tri giác các di tích lịch sử và các di sản văn
hóa. Các tác giả có chung quan điểm việc tham quan học tập tại di tích lịch sử, di sản
văn hóa là hoạt động quan trọng, là một phương thức dạy cho HS đọc cuốn sách của
cuộc sống. Việc được tri giác các di tích, di sản văn hóa không chỉ bồi dưỡng kiến
thức mà còn góp phần giáo dục các em về truyền thống dân tộc.
Trong cuốn “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào” của Đairi. N.G (NXB GD,
Hà Nội, 1973) cũng đã chỉ ra rằng thầy giáo bắt buộc phải biết rõ những thành tựu của
khoa học lịch sử và các khoa học giáo dục, những vấn đề mà khoa học đang giải quyết,
phải biết tất cả những hiện tượng quan trọng nhất của đời sống chính trị xã hội và văn
hóa... Muốn vậy, phải sử dụng không ngừng và có hệ thống tất cả mọi nguồn tư liệu
muôn hình muôn vẻ: tác phẩm kinh điển, văn kiện của Đảng và Nhà nước, sách
chuyên khảo, sách giáo khoa, sách báo tạp chí, tác phẩm hội họa, những cuộc tham
quan và khẳng định: “toàn bộ công tác dạy học sẽ vô cùng có lợi, nếu thầy giáo hiểu
môn học trên cơ sở tất cả những nguồn tư liệu có liên quan đến sự kiện...” [40; tr. 10]
nhằm xây dựng nên một bức tranh toàn diện, trọn vẹn, rõ ràng, có hình ảnh, gợi cảm
về một biến cố lịch sử hoặc về một quá trình lịch sử [40; tr. 7].
Như vậy, qua tài liệu nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, chúng tôi rút ra một
số kết luận sau: Các tác giả đều nhấn mạnh đến sự cần thiết phải sử dụng tài liệu văn
hóa - lịch sử trong dạy học ở trường phổ thông; Các tác giả củng khẳng định nguồn tài
liệu nếu được sử dụng hợp lý còn góp phần nâng cao kiến thức, bồi dưỡng tư tưởng,
tình cảm và phát huy được năng lực nhận thức độc lập, sáng tạo cho HS; Các tác giả
6
trình xuất bản năm 2009 tiếp tục được trình bày một cách có hệ thống việc sử dụng di
tích trong các nội dung ngoại khóa và được xem xét dưới góc độ là phương tiện trực
quan trong dạy học lịch sử. Thông qua đó, các tác giả cũng nêu lên những hình thức và
biện pháp sử dụng di tích lịch sử có hiệu quả như việc tổ chức bài học tại thực địa,
7
tham quan ngoại khóa, công ích xã hội…Tuy nhiên, giáo trình mới chỉ đề cập đến một
khía cạnh của di sản văn hóa vật thể đó là di tích lịch sử.
Trong cuốn “Các con đường biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở
trường phổ thông” [25] của tác giả Nguyễn Thị Côi, NXB ĐHSP HN, 2006 đã hướng
dẫn thực hiện một hoạt động ngoại khóa với di tích. Qua đó, tác giả đã đưa ra một số
hình thức, biện pháp tổ chức hoạt động ngoại khóa cho HS tại di sản văn hóa tiêu biểu,
tăng cường dạy học tại di tích...
Cục di sản văn hóa đã ra “Tạp chí Di sản văn hóa’’ đề cập đến các vấn đề lý
luận về di sản văn hóa, bảo tồn và phát triển di sản văn hóa vật thể và phi vật thể nói
chung. Như vậy, các công trình khoa học đã từng bước khẳng định vị trí và vai trò của
di sản văn hóa trong lịch sử. Di sản văn hóa địa phương gắn liền với sự phát triển lịch
sử góp phần không nhỏ vào sự phát triển chung của đất nước.
Tác giả Hoàng Thanh Hải viết trong tạp chí “Nghiên cứu giáo dục” số 5, năm 1997
[46] đã nêu ra hình thức, biện pháp để “Giáo dục ý thức tôn trọng và bảo vệ phát huy giá trị
di sản văn hóa cho HS qua môn Lịch sử”. Tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu trên
mới chỉ đề cập đến hình thức và biện pháp sử dụng di tích lịch sử - văn hóa.
Trong “Luận án Tiến sĩ giáo dục” của tác giả Hoàng Thanh Hải viết về: "sử
dụng di tích trong dạy học lịch sử dân tộc ở trường THCS" [47], đã đề cập đến cơ sở
lý luận và những hình thức, biện pháp trong việc sử dụng di tích. Ngoài ra, tác giả đã
có nhiều bài viết bàn về việc hình thức sử dụng di tích trong dạy học lịch sử, giáo dục
ý thức HS qua di sản như "Tổ chức hướng dẫn HS phổ thông tham gia lễ hội xuân tại
các di tích lịch sử văn hóa”.
nhu cầu nâng cao hiểu biết về di sản cho học sinh.
Di sản cần phải sống đúng nghĩa trong cộng đồng dân cư tại chỗ là một yếu tố
thiết thực nhất, có ý nghĩa đối với sự phát triển bền vững. Bảo tồn và phát huy có tác
động qua lại với nhau. Thiên nhiên được ổn định sẽ đảm bảo cho an toàn của di sản
vịnh Hạ Long. Ngày nay, việc bảo tồn, tôn tạo, quản lí, khai thác, sử dụng, phát huy
giá trị di sản là trách nhiệm của toàn xã hội. Cần đẩy mạnh xã hội hóa, công tác quản
lý, khai thác hay tôn vinh di sản vịnh Hạ Long để khuyến khích các thành phần kinh tế
tham gia nhằm tạo ra nguồn lực tài chính phong phú và đa dạng hóa các loại hình dịch
vụ để bảo tồn và khai thác có hiệu quả bền vững.
Trong cuốn “Khu di tích Lịch sử Bạch Đằng” của Ban quản lí các di tích trọng
điểm Quảng Ninh, NXB khoa học xã hội, năm 2011: đã nói lên khu di tích lịch sử chiến
thắng Bạch Đằng có mối quan hệ mật thiết với khu di tích Yên Tử (Uông Bí) - Đông
Triều - Vân Đồn. Bạch Đằng là nơi ba lần ghi dấu chiến công của quân và dân Đại Việt,
trận chiến năm 938 của Ngô Quyền, năm 981 của Lê Hoàn, đặc biệt là chiến thắng năm
1288 của Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Đông Triều - Yên
Tử là kinh đô Phật giáo, là trung tâm Văn hoá tiêu biểu của nước Đại Việt thời Trần. Khu
di tích thương cảng Vân Đồn là trung tâm giao lưu Kinh tế, Văn hoá quốc tế, nơi chiến
lược có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ an ninh vùng Đông Bắc.
Trong cuốn “Di tích Lịch sử - văn hóa nhà Trần tại Đông Triều” của Ban quản
lí các di tích trọng điểm Quảng Ninh – NXB khoa học xã hội, năm 2010: Đông Triều
là vùng đất có nhiều Di tích lịch sử, văn hóa của các thời kỳ lịch sử. Nổi bật nhất là hệ
thống các Di tích lăng mộ, đền, miếu, chùa, tháp thời Trần với kiến trúc độc đáo, bên
trong ẩn chứa một kho tàng tư liệu Hán Nôm quý báu gồm hoành phi, văn bia, câu đối,
đại tự, sắc phong... trong đó có nhiều di tích đã được xếp hạng là di tích lịch sử - văn
hóa cấp quốc gia. Đặc biệt là khu di tích Đền thờ và Lăng miếu các vua Trần đã được
10
Bộ Văn hóa xếp hạng đặc cách là Di tích cấp quốc gia năm 1962. Với nhà Trần, Đông
đặc biệt trong dạy học lịch sử địa phương, luận văn đi sâu vào tìm hiểu nội dung các
di tích quốc gia đặc biệt của Quảng Ninh và đề xuất hình thức, biện pháp sử dụng.
11
- Sử dụng các di tích quốc gia đặc biệt trong dạy học lịch sử địa phương nhằm
tạo ra hứng thú học tập của học sinh, phát triển tư duy độc lập sáng tạo, giáo dục
tư tưởng, đạo đức cho học sinh.
- Góp phần cung cấp cho giáo viên và học sinh cách hiểu đầy đủ hơn về các
di tích quốc gia đặc biệt và giá trị của nó. Từ đó có cách tiếp cận khai thác các di tích
quốc gia đặc biệt trong dạy và học nhằm tạo cho học sinh ý thức gìn giữ, bảo vệ
các di tích quốc gia đặc biệt, góp phần xây dựng quê hương.
3.2. Nhiệm vụ
Luận văn có nhiệm vụ để thực hiện mục đích trên, đề tài cần thực hiện các nội
dung cụ thể về việc sử dụng các di sản văn hóa nói chung, di tích quốc gia đặc biệt nói
riêng trong dạy học lịch sử địa phương.
Tìm hiểu chương trình nội dung lịch sử địa phương và nội dung các di tích quốc
gia đặc biệt ở Quảng Ninh từ đó đề xuất hình thức, biện pháp sử dụng các di tích quốc
gia đặc biệt trong dạy học lịch sử địa phương ở trường THPT tỉnh Quảng Ninh. Nhằm
góp phần từng bước nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn trên địa bàn tỉnh.
Thực nghiệm sư phạm một số bài trong chương trình (nội, ngoại khóa) để làm
cơ sở cho việc rút ra các kết luận khoa học về việc sử dụng các di tích quốc gia đặc
biệt trong dạy học lịch sử địa phương.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.2.Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là qua trình sử dụng các di tích quốc gia
đặc biệt trong dạy học lịch sử địa phương ở trường THPT tỉnh Quảng Ninh
4.2. Phạm vi
Đề tài giới hạn trong việc tìm hiểu về các di tích quốc gia đặc biệt và sử dụng
môn, góp phần bồi dưỡng lòng yêu quê hương đất nước, hình thành nhân cách cho học
sinh. Qua đó các em mới phát huy ý thức gìn giữ, bảo vệ các di tích quốc gia đặc biệt từ
đó tạo cảm nhận đam mê yêu thích lịch sử, nâng cao nhận thức là bước giáo dục tư tưởng
tình cảm, giáo dục truyền thống văn hóa lịch sử cho học sinh rất hiệu quả.
Nêu giáo viên tổ chức cho các các em học sinh tham quan học tập trãi nghiệm
tại các di tích quốc gia đặc biệt ở địa phương sẽ góp phần giáo dục truyền thống văn
hóa cho học sinh trong dạy học lịch sử địa phương nói riêng và giáo dục truyền thống
văn hóa lịch sử cho học sinh nói chung sẽ tạo sự chuyển biến trong nhận thức từ đó
các em có cách nhìn cách nghĩ và dẫn đến hành động có tác động tích cực, góp phần
cho sự phát triển của quê hương đất nước.
7. Đóng góp của luận văn
Góp phần khẳng định vị trí ý nghĩa, tầm quan trọng của việc sử dụng các di tích
quốc gia đặc biệt trong dạy học nói chung, trong dạy học bộ môn lịch sử ở trường
THPT nói riêng.
Phác họa bức tranh thực tiển về sử dụng các di tích lịch sử văn hóa nói chung
13
và di tích quốc gia đặc biệt nói riêng trong dạy học lịch sử địa phương ở trường THPT
tỉnh Quảng Ninh. Xác định nội dung lịch sử thể hiện qua việc sử dụng các di tích quốc
gia đặc biệt trong dạy học. Qua đó đề xuất hình thức, biện pháp sử dụng các di tích
quốc gia đặc biệt trong dạy học lịch sử địa phương ở trường THPT tỉnh Quảng Ninh.
Trên cơ sở của việc khảo sát thực trạng về việc sử dụng các di tích quốc gia đặc
biệt trong quá trình dạy học, có những đề xuất trao đổi cùng các đồng nghiệp trong việc
tổ chức dạy học nói chung, tổ chức sử dụng các di tích quốc gia đặc biệt nói riêng, góp
phần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng “phát huy tính tích cực”, “phát triển
năng lực” của học sinh từ đó mà từng bước nâng cao hiệu quả quá trình dạy học.
Đề tài cung cấp cho học sinh những hiểu biết cơ bản giá trị của các di tích quốc
gia đặc biệt cũng như kiến thức về địa phương nơi mình đang sinh sống học tập. Từ
1.1.1. Các khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài
-Di sản: Theo nghĩa ban đầu di là để lại; sản là tài sản. Vậy nên, di sản là những
tài sản của con người trong quá khứ để lại cho hậu thế. Những tài sản đó gắn với đời
sống của con người đương thời. Thông qua đó, nó phản ánh những hoạt động, đời
sống kinh tế, xã hội, văn hóa của con người qua các thời kì lịch sử.
-Di sản văn hóa là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa
học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. (Di sản văn hóa phi vật thể là sản
phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên
quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không
ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền
miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác. Di sản văn hóa vật thể là sản
phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa,
danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia).
- Di sản văn hoá vật thể là một bộ phận của văn hoá nhân loại, thể hiện dưới hình
thức vật chất; là kết quả của hoạt động sáng tạo, biến những vật và chất liệu trong thiên
nhiên thành những đồ vật có giá trị sử dụng và thẩm mĩ nhằm phục vụ cuộc sống con người.
Di sản văn hóa vật thể bao gồm: Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng,
địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị
lịch sử, văn hóa, khoa học; Danh lam thắng cảnh còn gọi là di sản thiên nhiên là cảnh
quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công
trình kiến trúc có giá trị lịch sử thẩm mỹ, khoa học; Di vật là hiện vật được lưu truyền
lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học; Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị
tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên; Bảo vật quốc
gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước
về lịch sử, văn hóa, khoa học.
- Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện,
biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các
không gian văn hóa có liên quan mà cộng đồng, các nhóm và trong một số trường hợp là
15
trúc, nghệ thuật.”
- Di vật là hiện vật được lưu truyền lại có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học.
- Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại có giá trị tiêu biểu về lịch sử văn hóa,
khoa học có từ một trăm năm tuổi trở lên. Trong mỗi một di tích lịch sử bao gồm
nhiều cổ vật như đồ thờ tự, hoành phi, câu đối, sắc phong ….
16
- Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại có giá trị đặc biệt quý hiếm
tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học. Ví dụ: Tượng Phật bà nghìn tay
nghìn mắt (Chùa Bút Tháp), Tượng Phật A-di-đà (Chùa Phật Tích).
Bảo vật quốc gia gồm các tiêu chí sau: Là hiện vật gốc độc bản; Là hiện vật có
hình thức độc đáo; Là hiện vật có giá trị đặc biệt liên quan đến một sự kiện trọng đại của
đất nước hoặc liên quan đến sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân tiêu biểu; hoặc
là tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng về giá trị tư tưởng, nhân văn, giá trị thẩm mỹ tiêu biểu
cho một khuynh hướng, một phong cách, một thời đại; hoặc là sản phẩm được phát
minh, sáng chế tiêu biểu, có giá trị thực tiễn cao, có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển ở
một giai đoạn lịch sử nhất định; hoặc là mẫu vật tự nhiên chứng minh cho các giai đoạn
hình thành và phát triển của lịch sử trái đất, lịch sử tự nhiên.
-Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa
cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử thẩm mỹ, khoa học.
Di tích quốc gia đặc biệt bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh.
-Lịch sử địa phương: Theo PGS – TS Nguyễn Cảnh Minh và Đỗ Hồng Thái:
Muốn hiểu đúng khái niệm “Lịch sử địa phương” trước hết ta cần hiểu thuật ngữ “địa
phương” trong Tiếng Việt. “Địa phương là những vùng, khu vực trong quan hệ với
những vùng và khu vực khác trong nước”. Như vậy địa phương là những vùng đất
nhất định nằm trong quốc gia có những sắc thái đặc thù riêng để phân biệt với những
vùng đất khác, là bộ phận cấu thành của đất nước. địa phương hiểu theo nghĩa cụ thể,
là những đơn vị chính của một quốc gia, đó là những tỉnh, thành phố, huyện, xã, thôn,
nghĩa rộng đối với quốc gia, thậm chí đối với cả thế giới. Chính vì vậy, có những sự
kiện lịch sử địa phương gắn liền với lịch sử dân tộc hoặc rộng hơn là lịch sử thế giới.
Không chỉ riêng các nhà sử học chuyên nghiên cứu sâu về lịch sử, mỗi con người (ở
mức độ khác nhau) đều có nhu cầu tìm hiểu về cuộc sống và những hoạt động của
chính mình ở những khoảng thời gian và những vị trí không gian khác nhau. Tri thức
lịch sử sẽ làm giàu thêm tri thức của cuộc sống con người. Chính vì lẽ đó, sự am tường
về lịch sử dân tộc còn bao hàm cả sự hiểu biết cần thiết về lịch sử địa phương, hiểu
biết về lịch sử của chính miền quê, xứ sở, nơi chôn nhau cắt rốn của mình, hiểu rõ mối
quan hệ của lịch sử ở địa phương với lịch sử của dân tộc và rộng lớn là lịch sử thế giới.
1.1.2. Các loại di tích, đặc điểm
1.1.2.1. Di tích cấp tỉnh
Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương, bao gồm:
Công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của địa
phương hoặc gắn với nhân vật có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của địa phương
trong các thời kỳ lịch sử;
Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và
địa điểm cư trú có giá trị trong phạm vi địa phương;
Địa điểm khảo cổ có giá trị trong phạm vi địa phương;
Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên
với công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị trong phạm vi địa phương.
1.1.2.2.Di tích quốc gia
18