1. MỞ ĐẦU
1. 1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Hơn 2000 năm trước, Khổng Tử (551 – 479 TCN) đã nói “Những gì tôi
nghe, tôi sẽ quên. Những gì tôi thấy, tôi sẽ nhớ. Những gì tôi làm, tôi sẽ hiểu”.
Còn nhà triết học Hy Lạp, Xôcrat (470 – 399 TCN) cũng nêu quan điểm “Người
ta phải học bằng cách làm một việc gì đó; với những điều bạn nghĩ là mình biết,
bạn sẽ thấy không chắc chắn cho đến khi làm nó”. Những tư tưởng của các nhà
giáo dục, các nhà triết học thời cổ đại có thể được coi là nguồn gốc tư tưởng đầu
tiên của học qua trải nghiệm. Tư tưởng này thực sự được đưa vào giáo dục hiện
đại từ những năm đầu của thế kỉ XX. Đến năm 1977, học qua trải nghiệm đã
chính thức được thừa nhận bằng văn bản và được tuyên bố rộng rãi khi Hiệp hội
giáo dục trải nghiệm được thành lập. Ngày nay, học qua trải nghiệm đang được
tiếp tục triển khai trên phạm vi toàn thế giới và được nhìn nhận như là một triển
vọng tương lai tươi sáng cho giáo dục.
Ở nước ta, trong giáo dục luôn có hai hoạt động cơ bản là hoạt động dạy
học (thường thực hiện ở các giờ trên lớp) và một hoạt động khác gọi là hoạt
động giáo dục (thường thực hiện song song bên cạnh các hoạt động dạy học). Cụ
thể, hoạt động giáo dục thường thể hiện trong chương trình hiện hành chính là
hoạt động tập thể ngoài giờ lên lớp như tham quan dã ngoại. Tuy nhiên ở các
nhà trường của chúng ta hầu như rất ít tổ chức các hoạt động này. Có thể nói là
đa số các trường không chú ý lắm, thường làm theo kiểu có cũng được, không
có cũng được.Vì vậy, mặc dù chương trình hiện hành của chúng ta vẫn có hoạt
động trải nghiệm nhưng không yêu cầu một cách chính thống nên trường thực
hiện cũng tốt mà không thực hiện cũng chẳng sao.Vì nó không được đánh giá,
không có điểm nên ít người quan tâm. Ngay chuyện giám sát và quản lý các
trường có thực hiện hay không cũng không quá chặt chẽ nên các trường coi đó
như một giá trị gia tăng, trường nào làm tốt thì có thêm giá trị gia tăng cho học
sinh, không làm cũng chẳng sao, không hề bị đánh giá. [6]
Ngày nay, một trong những quan điểm đổi mới giáo dục và đào tạo được
nêu trong Nghị quyết Hội nghị trung ương 8 khóa XI của BCHTW là: “Tiếp tục
đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính
khá mới mẻ. Các tài liệu nghiên cứu, tác phẩm, luận văn…chưa trình bày cụ thể
chi tiết việc tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm sáng tạo trong dạy học Lịch
sử, đặc biệt đối với dạy học lịch sử địa phương trên địa bàn Thọ Xuân; trong khi
đồng nghiệp, nhà trường chưa có kinh nghiệm để giải quyết, khắc phục.
Như vậy, trong bối cảnh nền giáo dục thế giới, từ quan điểm đổi mới dạy
học của Đảng và từ thực tế dạy học Lịch sử địa phương Thọ Xuân; tôi lựa chọn
đề tài “Một vài biện pháp tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm sáng tạo
cho học sinh trong dạy học Lịch sử địa phương ở trường THPT Lam Kinh Thọ Xuân” là cấp thiết.
1. 2. Mục đích nghiên cứu.
Khẳng định vai trò và ý nghĩa của hoạt động học tập trải nghiệm sáng tạo,
từ đó đưa ra một vài biện pháp tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm trong dạy
học Lịch sử địa phương ở trường THPT Lam Kinh, Thọ Xuân, Thanh Hóa.
1. 3. Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài chính là một vài cách thức tổ chức hoạt
động học tập trải nghiệm sáng tạo cho học sinh trong dạy học Lịch sử địa
phương ở trường THPT Lam Kinh, huyện Thọ Xuân.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
+ Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: đọc và phân tích, tổng hợp các tài liệu
chuyên khảo, tài liệu lịch sử, phương pháp dạy học lịch sử, chương trình, sách
giáo khoa lịch sử phổ thông và các tài liệu khác có liên quan.
+ Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: tiến hành quan sát, điều tra bằng phiếu đối
với giáo viên và học sinh, trải nghiệm thực tế tại địa bàn, đối chiếu với kết quả
điều tra.
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.1.1. Khái niệm về học tập trải nghiệm sáng tạo
2
2. 1. 2. Cơ sở xuất phát của vấn đề tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo
trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông.
2.1.2.1. Xuất phát từ mục tiêu, chiến lược đào tạo con người trong bối cảnh mới
Hội nghị lần thứ 8 của BCH TƯ Đảng khóa XI đã xác định mục tiêu
chung là “Bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ
của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN, bảo vệ sự
nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc,
bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa Việt Nam, giữ
vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để phát triển đất nước theo định
hướng XHCN”. [1]
Đứng trước xu thế phát triển của đất nước, giáo dục - đào tạo đóng vai
trò quan trọng nhằm phát huy nguồn lực con người, phục vụ cho sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Giáo dục trong xã hội mới, thời đại
3
mới phải là “đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri
thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc
và CNXH, hình thành và bồi dưỡng phẩm chất, năng lực của công dân, đáp ứng
yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. [4]
Như vậy, đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới phương pháp dạy học
nói riêng trong đó có bộ môn Lịch sử là con đường duy nhất từng bước nâng cao
chất lượng giáo dục, đặc biệt là giáo dục phổ thông bởi "giáo dục phổ thông là
nền tảng văn hóa của một nước là sức mạnh tương lại của một dân tộc". Trong
giáo dục, bằng các phương pháp đạo tạo thích hợp, phải khơi dậy được năng lực
tự học, tự tư duy độc lập nhận thức, hình thành và phát triển nhân cách sáng tạo
của học sinh nhằm đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
2.1.2.2. Xuất phát từ đặc trưng của việc nhận thức lịch sử.
Khác với tri thức của nhiều bộ môn khoa học khác, tri thức lịch sử có
những đặc trưng nổi bật như: mang tính quá khứ, tính không lặp lại, tính cụ thể,
các hoạt động trải nghiệm sáng tạo và từ đó đề xuất ý kiến nhằm nâng cao hiệu
quả của việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình Lịch
sử THPT.
2.2.2. Phương pháp khảo sát.
Trao đổi trực tiếp với giáo viên và học sinh; phát phiếu khảo sát cho giáo viên và
học sinh.
2.2.3. Kết quả khảo sát
- Quan niệm của GV về tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm sáng tạo trong
dạy học Lịch sử
+ Kết quả điều tra khảo sát cho thấy tất cả các giáo viên (100%) được chọn khảo
sát thống nhất cho rằng cần thiết phải tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm
sáng tạo trong dạy học Lịch sử. Điều này chứng tỏ các giáo viên đã ý thức được
tầm quan trọng của việc tổ chức các hoạt động học tập trải nghiệm sáng tạo
trong dạy học Lịch sử.
+ Mặc dù ý thức được vai trò của hoạt động học tập trải nghiệm sáng tạo nhưng
các GV lại có quan niệm, nhận thức khác nhau về hoạt động trải nghiệm sáng
tạo: Có 1/3 thầy cô (chiếm khoảng 33,3%) cho rằng là hình thức tổ chức cho học
sinh tham gia các hoạt động tham quan dã ngoại hoặc là hình thức hoạt động
ngoài giờ lên lớp, nhằm bổ sung hỗ trợ các hoạt động học tập trên lớp. Trong khi
đó 2/3 thầy cô (chiếm khoảng 66,7%) cho rằng đó là hình thức học tập học sinh
được trực tiếp trải nghiệm, tham gia vào các hoạt động. Không có giáo viên nào
quan niệm khái niệm hoạt động trải nghiệm sáng tạo trùng với khái niệm hoạt
động ngoại khóa.
- Quan niệm của học sinh với môn học:
+ Kết quả cho thấy nhiều học sinh không yêu thích môn Lịch sử. Chỉ có 36/92
học sinh tỏ ra yêu thích (chiếm khoảng 40%). Trong khi đó số học sinh tỏ ra thờ
ơ và không yêu thích môn học này là 56/92 học sinh (chiếm khoảng 60%).
+ Tuy nhiên, đa số học sinh đều đánh giá được tầm quan trọng của môn học. Có
Bước 1. Chọn đề tài (đặt tên) và xác định mục tiêu của bài trải nghiệm sáng tạo.
Công việc của giáo viên: Giáo viên phân chia lớp thành các nhóm, hướng
dẫn người học đề xuất, xác định chủ đề, định hướng cho học sinh về mục đích
bài học.
Công việc của học sinh: Học sinh lắng nghe và tiếp thu những gợi ý, định
hướng về đề tài của giáo viên, của nhóm làm việc.
Bước 2. Xây dựng đề cương bài lịch sử.
Công việc của giáo viên: hướng dẫn cho học sinh xác định: nội dung,
phương pháp, phương tiện, hình thức trải nghiệm, thời gian dự kiến, nguồn tài
liệu, kinh phí thực hiện. Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh xây dựng “bộ câu
hỏi khung” liên quan đến những vấn đề của bài trải nghiệm.
Công việc của học sinh: Sau khi đã được phân công vào các nhóm, các
nhóm thống nhất kế hoạch cụ thể thực hiện nhiệm vụ. Giáo viên hướng dẫn, gợi
ý học sinh cách thức thu thập thông tin (lấy ở đâu, lấy bằng cách nào, phương
tiện gì), cách xử lý thông tin (lựa chọn thông tin có giá trị phải đảm bảo độ tin
cậy và có ý nghĩa), cách tổng hợp và trình bày kết quả.
Bước 3. Thực hiện hoạt động.
Công việc của giáo viên: Gặp gỡ thường xuyên các nhóm để biết rõ tiến
trình làm việc của từng nhóm, kịp thời giúp đỡ và điều chỉnh những vướng mắc.
Công việc của học sinh: Thực hiện hoạt động theo nội dung
Bước 4. Trình bày sản phẩm.
Kết quả của việc học tập trải nghiệm sáng tạo có thể được viết dưới dạng
ấn phẩm (bản tin, tập san, báo, áp phích, thu hoạch, báo cáo…) và có thể được
trình bày trên power point, được thiết kế thành các đoạn phim, video…
Bước 5. Đánh giá kết quả hoạt động trải nghiệm.
Công việc của học sinh: Các nhóm trình bày kết quả thực hiện của nhóm
mình. Các nhóm khác theo dõi, thảo luận, trao đổi, nhận xét, đóng góp ý kiến về
kết quả làm việc của nhóm bạn. Học sinh các nhóm đánh giá lẫn nhau và tự
đánh giá kết quả của nhóm mình.
Công việc của giáo viên: Giáo viên nhận xét quá trình thực hiện hoạt động
các nhóm nhỏ và yêu cầu học sinh quản lý và làm việc theo nhóm.
Xây dựng kế hoạch buổi trải nghiệm sáng tạo đền Nguyễn Nhữ Lãm (tại lớp học
trước khi trải nghiệm sáng tạo). (Xem phần phụ lục 2)
Kế hoạch cụ thể.
- Lập chương trình (Xem phần phụ lục 3)
- Xây dựng nội quy buổi trải nghiệm sáng tạo.
+ Lớp chia thành các nhóm nhỏ 6-7 học sinh. Mỗi nhóm cử ra nhóm trưởng
quản lý các thành viên trong nhóm.
+ Các nhóm thành viên phải tuân thủ theo sự quản lý của trưởng nhóm và giáo
viên chủ nhiệm.
+ Phải đi theo đoàn, không tách đoàn đi một mình.
+ Không vứt rác bừa bãi. Thực hiện qui định của khu di tích.
+ Thực hiện theo nhiệm vụ được phân công và tuân thủ thời gian quy định.
- Xác định thời gian: 1 buổi sáng
Xây dựng phiếu học tập dành cho học sinh. (Xem phần phụ lục 4)
Bước 3: Thực hiện buổi trải nghiệm
a. Thu thập thông tin:
7
- Giáo viến hướng dẫn học sinh đi thực địa thu thập thông tin thông qua quan
sát, phỏng vấn trực tiếp Ông Nguyễn Mậu Phú – Trưởng ban trị sự Chi đại tôn
dòng họ Nguyễn Mậu toàn quốc.
- Nhận thông tin về khu di tích đền trên các phương tiện như báo, đài….
- Tìm hiểu vị trí địa lí và lịch sử của đền Nguyễn Nhữ Lãm.
- Phương tiện thực hiện: máy ảnh, máy quay phim, vở ghi chép.
- Sau khi thu thập thông tin xong, các nhóm tập trung lại, ghi vào phiếu học tập
xem mình đã học tập được những gì qua buổi trải nghiệm.
b. Xử lí thông tin.
- Qua việc thu thập những dữ liệu trên, học sinh phân tích, tổng hợp và đưa ra
những người có công lao to lớn trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước, đưa đất
nước Đại Việt phát triển bền vững và hưng thịnh. Không những thế, Thịnh Mỹ
còn là nơi sinh ra Cung từ Quốc Thái mẫu Trần Thị Ngọc Trần (vợ vua Lê Thái
8
Tổ, mẹ vua Lê Thái Tông) và cũng là quê hương của Linh từ Quốc thái mẫu
Trịnh Thị Ngọc Lung (bà là chính phi của Tây vương Trịnh Tạc). Một vùng đất
văn hoá lâu đời, nhiều nơi không thể có được:
" Cảnh quan di tích một làng quê
Thịnh Mỹ hậu Lê sự tích đề
Bia đá lịch sử vang vọng mãi
Lịch truyền văn hoá nét son phê".
Nguyễn Nhữ Lãm sinh năm 1378 chính quán xã Văn Xá, huyện Thanh
Liêm, phủ Lý Nhân, trấn Sơn Nam. Theo gia phả họ Nguyễn thì thân sinh của
Nguyễn Nhữ Lãm tên là Công Thân làm quan cuối thời Trần, vì cảnh đời nhiễu
nhương nên ông đã từ quan về quê, mẹ là Lê Thị Lịch một người phụ nữ hiền
thục được nhiều người quý mến. Khi Lãm lớn lên dáng người cao đen, học giỏi,
có tài biện luận, gặp lúc vận suy, quân Minh xâm lược đất nước, muốn tìm nơi
ẩn thân dấu tiếng, Nhữ Lãm bí mật đem cả gia quyến đến dựng nhà, mở trại tại
Thịnh Mỹ, huyện Cổ Lôi. Ông xin nhập tịch làm dân địa phương và bỏ tiền giúp
đỡ dân nghèo, những người gặp cảnh khó khăn, cơ nhỡ vùng Lương Giang
không kể dân cày hay chài lưới đều được nương nhờ họ Nguyễn Nhữ. Được ít
lâu, Nhữ Lãm mới tìm đến Lam Sơn cầu thân Lê Lợi, ông gia nhập lực lượng
nghĩa quân và dự hội thề Lũng Nhai. Năm 1418, ông trong số những người tham
gia khởi nghĩa Lam Sơn cùng Lê Lợi từ những ngày đầu, phụ trách việc rèn vũ
khí và quân lương cho nghĩa quân.
Ngày mùng 2 tháng giêng năm Mậu Tuất (1428) Lê Lợi dựng cờ khởi
nghĩa ở Lam Sơn, Nguyễn Nhữ Lãm là một trong những người được phong
chức thừa tướng chia nhau đốc xuất quân ra đối địch với quân Minh. Trong
theo lối nhà dân gian truyền thống.
Trước cổng có hai trụ đá gần vuông, bốn chiều tương đối bằng nhau, được
khắc chữ Hán hai mặt. Hai pho tượng võ sỹ được tạo tác trang phục võ quan, mũ
giáp trụ. Mỗi pho tượng có chiều cao 1,03m, rộng 0,85m được tạo tác bằng một
khối đá nguyên, đứng trên một đế cao 30cm, rộng 60cm; cùng với sập đá, chó
đá, voi đá, long ngai, bài vị bằng đá xanh.... được chạm khắc tunh xảo, là những
tác phẩm nghệ thuật đặc biệt có giá trị, giúp các nhà nghiên cứu mĩ thuật tìm
hiểu một giai đoạn phát triển của nền mĩ thuật Việt Nam thời Lê sơ.
Với những giá trị to lớn về lịch sử và nghệ thuật, khu di tích đền thờ và
lăng mộ Nguyễn Nhữ Lãm đã được Nhà nước xếp hạng là di tích quốc gia.
Nhóm 3: Trực tiếp quay một đoạn video, nhóm trưởng Lê Thị Ngọc Anh
đóng vai là một hướng dẫn viên du lịch giới thiệu về di tích đền Nguyễn
Nhữ Lãm
Kính thưa quí khách!
Đến với vùng đất Thọ Xuân – Thanh Hóa, tìm về cội nguồn lịch sử không
thể không nhắc đến khu di tích Lam Kinh, gắn liền với chiến công chống giặc
Minh oanh liệt một thời của vị anh hùng Lê Lợi. Nhưng cũng là thiếu sót nếu
như chúng ta không nhắc đến các vị khai quốc công thần, góp sức không nhỏ
vào trang sử vẻ vang đó. Hôm nay quí khách sẽ được tới thăm một ngôi đền nằm
bên bờ sông Lương Giang thờ một trong số các vị khai quốc công thần, đó là
Thứ quốc công Nguyễn Nhữ Lãm.
Đền thờ Nguyễn Nhữ Lãm nằm trên địa bàn làng Thịnh Mỹ, xã Thọ Diên,
huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá. Cách khu di tích lịch sử Lam Kinh khoảng
6km về phía Đông Nam, theo Quốc lộ 47 cũ (nay là Quốc lộ 506). Từ huyện lỵ
Thọ Xuân theo hướng Tây đi gần đến km9 rẽ phải khoảng 500m là đến đền thờ
Nguyễn Nhữ Lãm.
Nguyễn Nhữ Lãm chính quán người xã Vân Xá, huyện Thanh Liêm, phủ
Lý Nhân, trấn Sơn Nam (nay thuộc tỉnh Hà Nam). Theo gia phả dòng họ
Nguyễn, ông thân sinh Nhữ Lãm là công thần làm quan cuối đời Trần, vì chán
cảnh đời nhiễu nhương nên từ quan về quê. Là gia đình giàu có, vợ ông là Lê
vương, thừa nhận Đại Việt là quốc gia độc lập. Đây là một thắng lợi của vua tôi
nhà Lê. Sau sự kiện này Nguyễn Nhữ Lãm được thăng Hữu bộc xạ - một chức
quan đại thần tham dự triều chính, hàm ngang Thượng thư. Vua còn ban cho
Nguyễn Nhữ Lãm chữ Mậu, từ đó dòng họ Nguyễn Mậu ra đời.
Đến thời Thái Tông năm Ất Mão (1435), Nguyễn Nhữ Lãm lại có công
trong việc bình thường hóa quan hệ với Chiêm Thành, củng cố uy tín của vương
triều Lê. Trong thời gian này, vua Lê Thái Tổ còn sai Nguyễn Nhữ Lãm đến
Lam Kinh dựng miếu thờ Thái Mẫu.
Kính thưa quí khách!
Có thể nói, Nguyễn Nhữ Lãm không những là nhà chính trị ngoại giao đại
tài mà còn là một kiến trúc sư giỏi, được coi là người đầu tiên vẽ bản thiết kế
xây dựng điện miếu Lam Kinh.
Nguyễn Nhữ Lãm được mang họ vua, lúc mất (1437) khi đang giữ trọng
trách Thượng thư lệnh, Tham Tri Chính sự, Tri Bắc đạo quân dân bạ tịch sự, tước Đình Thượng Hầu. Do có công lao, ông đã được truy tặng Nhập Nội Thái
Bảo, thuỵ là Trung Tín, tước Thàng Quốc Công. Đến đời vua Lê Thánh Tông
năm Hồng Đức thứ 15 (1448), ông lại được truy phong Khang Tế Hầu.
Sau khi Nguyễn Nhữ Lãm mất, nhà vua đã sắc dụ cho dân phường Đa Mỹ
cùng các làng lân cận của ba tổng Diên Hào, Bất Náo, Kiên Thạch và con cháu
dòng họ Nguyễn Mậu an táng và xây đền thờ, lăng mộ ở chính quê ông.
11
Là kiến trúc thời Nguyễn, Tự Đức năm thứ 3 (1851), được di chuyển từ
bờ sông Chu vào địa điểm hiện nay (thuộc làng Thịnh Mỹ, xã Thọ Diên). Đền
thờ Nguyễn Nhữ Lãm có diện tích 62,4m2, gồm tiền đường và hậu cung. Kiến
trúc vì kèo ở tiền đường được tạo bởi 4 hàng chân cột, với "vì kèo suốt". Ngăn
cách giữa nhà từ đường và hậu cung là sân "thiên tỉnh". Nhà chính tẩm được
chia thành 2 cung: Cung trong cùng là cung cấm - nơi đặt bàn thờ, long ngai và
bài vị của Nguyễn Nhữ Lãm. Cung ngoài là nơi thờ hội đồng gia tộc.
việc bảo tồn và quảng bá di tích lịch sử.
2. 3. 4. Hoạt động học tập trải nghiệm sáng tạo tại làng nghề bánh gai Tứ
Trụ - Thọ xuân” theo phương pháp dạy học dự án.
Giáo viên xây dựng dự án “Những giải pháp bảo tồn và phát triển làng bánh
gai Tứ Trụ - Thọ Xuân”.
2. 3. 4. 1. Mục tiêu
12
- Kiến thức:
+ Biết được nguồn gốc của làng nghề.
+ Biết được qui trình làm ra một chiếc bánh gai.
+ Biết được thực trạng sản xuất của làng bánh gai hiện nay.
+ Đưa ra được các giải pháp để bảo tồn và phát triển làng nghề.
- Kĩ năng:
+ Điều tra, khảo sát về làng nghề.
+ Phân tích, đánh giá, tổng hợp tài liệu.
+ Viết và trình bày báo cáo về thực trạng của làng nghề
+ Rèn luyện kĩ năng giao tiếp: làm việc tập thể, ngoại giao để tìm kiếm thông
tin, kĩ năng trình bày, diễn thuyết trước tập thể từ đó rèn luyện tính tự tin.
- Thái độ:
+ Có ý thức gìn giữ và phát huy những giá trị của làng nghề truyền thống.
+ Trân trọng những thành quả của người lao động.
+ Tự hào về quê hương Tứ Trụ - Thọ Xuân.
- Định hướng phát triển năng lực: tự học, giải quyết vấn đề, giao tiếp.
Đối tượng thực hiện dự án: học sinh lớp 12 A5, sĩ số 47.
Thời gian dự kiến: 2 tuần
Ý nghĩa của dự án: Giúp học sinh hiểu được vai trò của làng nghề đối với
đời sống của nhân dân địa phương, từ đó nâng cao ý thức về việc bảo tồn và
phát triển làng nghề.
giả”(là các thành viên trong lớp). Sản phẩm của các nhóm được khuyến khích
làm theo nhiều hình thức thể hiện sự sáng tạo riêng.
Bước 4: Giới thiệu sản phẩm trước lớp.
Thành phần tham gia: Ban tổ chức (mỗi nhóm có một đại diện), báo cáo
viên, người tham gia hội thảo. Mỗi nhóm cử một đại diện trình bày vấn đề đã
tìm hiểu và các giải pháp đề xuất. Cả lớp thảo luận, góp ý.
Bước 5: Đánh giá hoạt động
- Tổ chức cho học sinh tự đánh giá hoặc đánh giá lẫn nhau về kết quả làm việc
của từng nhóm.
- Giáo viên tổng kết, đánh giá về phương pháp tiến hành, nội dung và kết quả
của các vấn đề đã được nghiên cứu và trình bày của từng nhóm.
2. 3. 4. 3. Kết quả cụ thể của từng nhóm:
Nhóm thứ nhất. Tìm hiểu về lịch sử hình thành và phát triển của làng bánh
gai Tứ Trụ và vai trò của chiếc bánh trong cuộc sống.
Đất nước Việt Nam có muôn nghìn hoa lá, cây trái khác nhau và cũng có
vô vàn loại bánh khác nhau. Hoa quả bánh trái cũng phong phú diệu kỳ như
thiên nhiên vậy. Trong số đó có loại bánh gai thường được làm ở nhiều nơi,
nhưng thơm ngon mang đậm hương vị quê hương, người khắp vùng gần xa ai
cũng khen ngợi, được ăn một lần sẽ nhớ mãi đến già là bánh gai làng Mía, xã Tứ
Trụ, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Để truy tìm nguồn gốc ra đời của món quà ngon bánh gai Tứ Trụ là điều
không dễ. Nhưng có một điều chắc chắn, món ăn này từng là đặc sản tồn tại gần
600 năm trước, dùng để dâng lên vua Lê. Trong mỗi dịp giỗ, tết những cặp bánh
gai gói bằng lá chuối khô bên ngoài buộc lạt đỏ là vật phẩm cúng tế không thể
thiếu của người dân địa phương.
Bánh gai Tứ Trụ cùng với chè Sánh, chè Lược và cá rô Đầm Sét đã tạo
nên thứ đặc sản của vùng đất Thọ Xuân. Bánh gai thường được làm để thết đãi
khách sau mỗi lần giỗ tết, đình đám. Sau khi ăn cỗ người ta mang các loại bánh
ra để mời khách “tráng miệng”, thời phong kiến mỗi khi có việc làng, nhà nào
sang phải có sáu loại bánh tráng miệng: bánh khoai, bánh cốm, bánh gai, bánh
bàn tay, lấy nhân cho vào giữa, vê lại sao cho nhân nằm gọn giữa lòng chiếc
bánh. Khi đã xoa cho bánh tròn thì lăn bánh trên mâm đồng đã rải đều hạt vừng.
Dùng lá chuối khô vuốt phẳng gói lại cho khéo thành từng chiếc bánh
vuông vắn, quấn một chiếc lạt giang bên ngoài. Gói bánh cũng đòi hỏi nghệ
thuật. Gói bánh gai nhất thiết phải bằng lá chuối khô, nhà cầu kỳ phải lên rừng
lấy cho được loại lá chuối tiêu già thì bánh mới thật thơm ngon. Lá chuối phải
được đệm nhiều lượt một phần để tạo mùi thơm đặc trưng của bánh, một phần
để cho bánh định hình. Đây cũng là cách tốt nhất để bảo vệ bánh được lâu và giữ
được hương vị. Người thưởng thức thấy bánh nhiều lá mà hiểu rằng họ độn lá
vào cho bánh to để chiêu khách, nói vậy là phụ công người làm bánh nhiều lắm.
Sau cùng là phần hấp bánh (người làng Mía gọi là đồ bánh) cũng là công
đoạn đòi hỏi thực tiễn. Thứ thực tiễn được trả giá bằng quyết tâm sống chết với
nghề. Bánh gai hấp không chín, đem hấp lại sẽ không được nữa. Bánh chín được
vớt ra nia rồi mở ra (mở chứ không phải bóc) cho ráo, để cho bánh nguội tự
nhiên và ráo nước. Công đoạn này còn phải làm động tác vuốt lại bánh để bánh
nhẵn và đẹp (bánh có hình gộp rùa là đẹp). Khi bánh nguội hẳn dùng lạt giang
đã nhuộm phẩm đỏ thay cho lạt khi luộc, gói từng bó 5 chiếc một cho vuông
vắn, rồi xếp hai bó loại 5 chiếc lại thành 10 chiếc để tiện lợi khi dùng hoặc khi
trao đổi mua bán.
Người làm bánh đã rất công phu, người thưởng thức bánh cũng phải sành
điệu. Thường ăn bánh sau khi hấp khoảng 10 tiếng đồng hồ. Lần lượt nhẹ nhàng
bóc hết các lần lá bên ngoài, ở lần lá trong cùng, người ăn phải xé nhỏ từng sợi
lá, kiên trì cho đến khi còn lại một phần lá, ta cuốn lại cầm bánh ăn, có như vậy
bánh mới không dính vào tay, ăn đến đâu xé và bóc đến đấy cho đến lúc ăn hết.
Các cụ ta khi xưa dạy “học ăn học nói, học gói học mở” vận vào với bánh gai
thật đúng là vậy. Khi ăn người ta ăn từ tốn nhấm nháp, thưởng thức; phần có
nhiều nhân bánh người ta nhai chậm, miệng khép, như vậy hương vị của bánh
mới có điều kiện lan tỏa, tác động vào khứu giác, tạo cảm giác thú vị khi thưởng
thức.
Bánh gai thành phẩm phải mịn và thơm ngon, phải có được vị dẻo thơm
Ông Lê Hữu Lâm, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề bánh gai Tứ Trụ, chia sẻ:
“Làng nghề làm bánh gai không biết có từ bao giờ, chỉ biết khi tôi sinh ra đã
thấy ông cha hàng ngày giã gạo, giã đậu xanh để làm bánh. Và rồi đam mê và
gắn bó với nghề bao giờ không ai hay, hiện mỗi nhân công có thu nhập 4- 4,5
triệu đồng/tháng”. Còn theo ông Lê Hữu Tùng, Chủ tịch UBND xã Thọ Diên,
thu nhập của làng nghề chiếm 1/3 tổng thu nhập của toàn xã (50 - 60 tỉ
đồng/năm).
Nhóm thứ tư: Tìm hiểu những giải pháp bảo tồn làng nghề.
Trải qua gần 600 năm, bánh gai Tứ Trụ đã thể hiện thế mạnh của mình khi
ngày càng có nhiều người tiêu dùng trong nước biết đến. Để phát triển bền vững
làng nghề, chính quyền cũng như các cấp, ban ngành cần có chính sách phù hợp,
ngăn chặn vấn nạn hàng nhái, hàng giả làm mất uy tín, thương hiệu của làng
nghề.
Nguồn nguyên liệu tại chỗ không đảm bảo được nhu cầu. Các nguyên vật
liệu chính đều phải thu mua từ nơi khác về như: gạo nếp mua từ Lào, lá gai từ Nam
Định, lá chuối từ Nghệ An… với giá không ổn định. Từ đó đội chi phí sản xuất lên
cao, dẫn lợi nhuận thấp. Theo tính toán của Phòng Công Thương huyện Thọ Xuân,
mỗi chiếc bánh gai có chi phí trung bình là gần 3.900 đồng, với giá bán 4.500 đồng
hiện tại, thì lợi nhuận mang lại rất thấp, chỉ khoảng 600 đồng/chiếc. Huyện cần có
những cơ chế chính sách để tạo điều kiện tốt nhất cho người dân tham gia chuyển
đổi cây trồng truyền thống sang trồng cây nguyên liệu.
Thị trường đầu ra. Thị trường đầu ra của bánh gai Tứ Trụ lâu nay chủ yếu
“dò dẫm đi” thông qua kênh “quà biếu” mà chưa có một kênh tiêu thụ, phân
phối cố định nào. Cần mở rộng thị trường qua nhiều kênh khác nhau: quảng cáo,
trưng bày, hội chợ….
Giải pháp thương hiệu. Mặc dù sản phẩm bánh gai Tứ Trụ đã có mặt trên
17
thị trường từ rất lâu, nhưng đến nay vẫn chưa được bảo hộ thương hiệu để bảo
hỗ trợ. Các em biết chia sẻ, biết hợp tác và mạnh dạn, tự tin hơn. Các em có thái
độ tôn trọng hơn với người lao động, nhận ra nhiều điều về giá trị sống sau khi
“tiếp xúc” với thực tiễn cuộc sống.
2. 3. 5. Kết quả đối chứng.
Cũng với 92 học sinh đã được điều tra, tôi lại tiếp tục phát phiếu điều tra
sau khi các em được học tập trải nghiệm sáng tạo qua hai buổi (câu hỏi điều tra
về cơ bản như câu hỏi ban đầu).
Kết quả thu được là đa số học sinh đều có một câu trả lời chung: rất hứng
thú với học tập trải nghiệm và rất mong muốn được tiếp tục học tập bộ môn Lịch
sử dưới hình thức trải nghiệm. Vì hình thức học tập này làm cho bài học trở nên
nhẹ nhàng, hấp dẫn, các em được làm việc, được thiết kế tự tìm ra cách tiếp cận
18
riêng để hoàn thành nhiệm vụ học tập. Ngoài ra những kiến thức thực tế giúp ích
rất nhiều cho các em trong việc giải quyết những vấn đề của cuộc sống.
Cụ thể:
+ Kết quả cho thấy phần lớn học sinh ở hai lớp 10C9 và 12A5 đều yêu thích
môn Lịch sử. Số học sinh tỏ ra chưa thực sự yêu thích môn học này chỉ chiếm
khoảng 10%).
+ Đa số học sinh đều đánh giá được tầm quan trọng của môn học. Có tới 92% số
học sinh được khảo sát cho rằng Lịch sử là môn học quan trọng, không có ý kiến
nào cho rằng đây là môn học không quan trọng.
+ Về mức độ cần thiết khi tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm sáng tạo trong
học tập lịch sử thì kết quả thu được là 95% học sinh đồng ý cần thiết và chỉ có
5% học sinh cho rằng không cần thiết.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
2.4.1. Đối với hoạt động giáo dục:
Học tập trải nghiệm sáng tạo trong dạy học Lịch sử ở trường Lam Kinh
chủ yếu được tổ chức dưới hình thức ngoại khóa hay ngoài giờ lên lớp theo chủ
Qua đề tài này, mỗi cán bộ giáo viên trong nhà trường đều nhận thấy ưu
điểm rất lớn cũng như những khó khăn của hoạt động học tập trải nghiệm sáng
tạo. Đều có nhận thức đúng về bản chất của hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Với
nội dung và phương thức tổ chức như trên, mọi người đều hiểu là không cần
phải có giáo viên chuyên "dạy" trải nghiệm sáng tạo, bởi chủ thể trải nghiệm là
học sinh và không "dạy" được. Giáo viên chỉ đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn
học sinh thực hiện, đánh giá kết quả thực hiện của học sinh.
Mỗi giáo viên và tổ, nhóm bộ môn đều có thể và có trách nhiệm tham gia
xây dựng và tổ chức thực hiện các chủ đề hoạt động trải nghiệm sáng tạo phù
hợp với yêu cầu của bộ môn. Trên cơ sở đó nhà trường căn cứ vào yêu cầu của
chương trình giáo dục phổ thông xây dựng được các chủ đề hoạt động tích hợp,
liên môn để tổ chức cho học sinh thực hiện.
Như vậy có thể hình dung với cơ cấu giáo viên như hiện nay, việc thực
hiện các hoạt động trải nghiệm sáng tạo đã có thể được thực hiện tốt. Trong đó
giáo viên các bộ môn tham gia xây dựng các chủ đề hoạt động, chịu trách nhiệm
đưa ra mục tiêu, nội dung, phương thức và sản phẩm hoạt động; tham gia đánh
giá kết quả hoạt động của học sinh.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận.
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là một mô hình học tập hiện đại, có ưu thế
rất lớn trong việc phát triển năng lực học sinh, giúp các em liên hệ kiến thức đã
học vào hoạt động thực tế. Thông qua các hoạt động như đóng vai, dự án, tham
quan, tình huống…. sẽ phát triển được khả năng sáng tạo, tự lực học tập của học
sinh, qua đó tạo cho các em niềm say mê, hứng thú trong học tập lịch sử.
Đối với hoạt động trải nghiệm sáng tạo khi học tập Lịch sử địa phương
Thọ Xuân ở trường THPT Lam Kinh, ngoài những hiệu quả đạt được nói chung
thì các em còn được bồi đắp thêm kiến thức về quê hương bằng chính sự khám
phá của bản thân. Từ đó, các em yêu mến hơn, tự hào hơn khi được sinh ra trên
mảnh đất với bề dày truyền thống lịch sử.
giáo dục và đào tạo, Đảng Cộng sản Việt Nam (2013).
2. Kĩ năng xây dựng và tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong
trường trung học. Bộ giáo dục và Đào tạo (2015), tài liệu tập huấn.
3. Quan niệm về Hoạt động trải nghiệm sáng tạo và một số hình thức tổ chức
hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh phổ thông, Nguyễn Thị Hằng,
Nguyễn Thị Kim Dung, Hà Nội, tháng 8 năm 2014.
4. “Luật Giáo dục”, Bộ giáo dục và Đào tạo (2005), NXB Giáo dục, Hà Nội.
5. Nguồn internet.
6. “Thiết kế các bài học lịch sử địa phương ở trường THPT bằng phương pháp
DHDA”, báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp trường,
ĐHSPHN, Phạm Thị Kim Anh (2012).
22
DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Đoàn Thị Hương
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên, Trường THPT Lam Kinh – Thọ Xuân.
Cấp đánh
Kết quả đánh
giá xếp
Năm học
giá xếp loại
TT
Tên đề tài SKKN
loại
đánh giá
X đến thế kỉ XV, lớp 10.
Một số biện pháp giáo dục lòng
yêu quê hương thông qua tiết
dạy Lịch sử địa phương “Vị thế
của thần phi Trịnh Thị Ngọc Lữ
trong lịch sử dân tộc” cho học
sinh Trường THPT Lam Kinh.
* Liệt kê tên đề tài theo thứ tự năm học, kể từ khi tác giả được tuyển dụng vào
Ngành cho đến thời điểm hiện tại.
----------------------------------------------------
23