nghiên cứu bài học kinh nghiệm về quản lý chất lượng tín dụng từ ngân hàng tmcp nhà hà nội - Pdf 22

TRƯờNG ĐạI HọC KINH Tế QUốC DÂN

TRầN THANH TùNG
NGHIÊN CứU BàI HọC KINH NGHIệM Về QUảN Lý CHấT LƯợNG
TíN DụNG TạI NGâN HàNG TMCP NHà Hà NộI
Chuyờn ngnh: Qun lý kinh t v chớnh sỏch

Ngi hng dn khoa hc: PGS. TS. PHAN KIM CHIN
H NI 2013
MỤC LỤC
MỤC LỤC
+ Công tác tổ chức bộ máy: Nhân tố này không chỉ tác động đến
CLTD mà còn tác động đến mọi hoạt động của Ngân hàng. Một ngân hàng có
cơ cấu tổ chức được sắp xếp khoa học, sự phân công công việc một cách cụ
thể, rõ ràng có sự gắn kết giữa các bộ phận thì việc đáp ứng các yêu cầu của
khách hàng sẽ được thực hiện kịp thời, công tác quản lý tín dụng trở nên hiệu
quả và an toàn hơn. Những quyết định đúng đắn của cấp lãnh đạo sẽ giúp
hoạt động tín dụng phù hợp với khách hàng và nền kinh tế 24
+ Chất lượng nhân sự của ngân hàng: Chất lượng nhân sự là yếu tố
quyết định đến sự thành bại trong hoạt động kinh doanh nói chung và đặc
biệt trong hoạt động NH. Cán bộ nhân viên là bộ mặt của NH, là hình ảnh
của ngân hàng đối với khách hàng. Hơn nữa nghiệp vụ NH càng ngày càng
phát triển đòi hỏi chất lượng nhân sự ngày càng cao. Việc tuyển dụng nhân
viên có đạo đức tốt, giỏi chuyên môn nghiệp vụ sẽ giúp phòng ngừa tối đa sai
phạm trong quá trình kinh doanh, đem lại sự tin tưởng về chất lượng từ phía
khách hàng 24
+ Hệ thống công nghệ ngân hàng: trong lĩnh vực tài chính – ngân
hàng là ngành có mức độ ứng dụng công nghệ thông tin cao. Hệ thống công
nghệ thông tin hiện đại sẽ đáp ứng yêu cầu về độ chính xác, khối lượng giao
dịch của khách hàng, tìm kiếm thông tin khách hàng, giúp NH ra các quyết
định và xử lý khoản vay… 25

cơ cấu tổ chức được sắp xếp khoa học, sự phân công công việc một cách cụ
thể, rõ ràng có sự gắn kết giữa các bộ phận thì việc đáp ứng các yêu cầu của
khách hàng sẽ được thực hiện kịp thời, công tác quản lý tín dụng trở nên hiệu
quả và an toàn hơn. Những quyết định đúng đắn của cấp lãnh đạo sẽ giúp
hoạt động tín dụng phù hợp với khách hàng và nền kinh tế 24
+ Chất lượng nhân sự của ngân hàng: Chất lượng nhân sự là yếu tố
quyết định đến sự thành bại trong hoạt động kinh doanh nói chung và đặc
biệt trong hoạt động NH. Cán bộ nhân viên là bộ mặt của NH, là hình ảnh
của ngân hàng đối với khách hàng. Hơn nữa nghiệp vụ NH càng ngày càng
phát triển đòi hỏi chất lượng nhân sự ngày càng cao. Việc tuyển dụng nhân
viên có đạo đức tốt, giỏi chuyên môn nghiệp vụ sẽ giúp phòng ngừa tối đa sai
phạm trong quá trình kinh doanh, đem lại sự tin tưởng về chất lượng từ phía
khách hàng 24
+ Hệ thống công nghệ ngân hàng: trong lĩnh vực tài chính – ngân
hàng là ngành có mức độ ứng dụng công nghệ thông tin cao. Hệ thống công
nghệ thông tin hiện đại sẽ đáp ứng yêu cầu về độ chính xác, khối lượng giao
dịch của khách hàng, tìm kiếm thông tin khách hàng, giúp NH ra các quyết
định và xử lý khoản vay… 25
+ Nguồn vốn của ngân hàng: nguồn vốn của ngân hàng và hoạt động
tín dụng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nguồn vốn ổn định và chi phí
thấp là điều kiện để ngân hàng mở rộng hoạt động tín dụng, thúc đẩy hoạt
động thanh toán và các dịch vụ ngân hàng góp phần nâng cao chất lượng tín
dụng 25
Chính thức chấp thuận sáp nhập Habubank vào SHB 51
(Dân trí) - Thống đốc NHNN vừa có quyết định chính thức chấp thuận việc sáp nhập Ngân hàng
Nhà Hà Nội (Habubank) vào Ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội (SHB). Đây là vụ sáp nhập đầu tiên
trong lộ trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Việt Nam mà NHNN đang triển khai.
>> Sáp nhập Habubank vào SHB: Thống đốc "gật đầu"
>> NHNN: Sáp nhập SHB - Habubank là "phương án tối ưu"
>> Sáp nhập Habubank - SHB: Vì sao khoản lỗ 4.000 tỷ giảm một nửa?

hội nhập ngày nay mà còn đóng góp tích cực vào sự vận hành của nền kinh
tế thông qua sự tác động của cung - cầu tiền tệ dẫn đến làm thúc đẩy tăng
trưởng hay kìm hãm kinh tế, lạm phát, khủng hoảng tiền tệ giúp cho Nhà
nước thực hiện tốt vai trò quản lý Nhà nước về hoạt động kinh tế trong nền
kinh tế thị trường.
Giai đoạn hiện nay, cơn lốc khủng hoảng kinh tế đang bao trùm lên rất
i
nhiều các quốc gia và Việt Nam cũng đang bị ảnh hưởng một cách trầm trọng.
Lạm phát tăng cao, bất động sản chết, sản xuất ngừng trệ,…. Ngân hàng mất
thanh khoản trầm trọng; nợ xấu gia tăng với tỷ lệ chóng mặt; một số ngân
hàng đã phải chịu sự sáp nhập hay chịu sự mua lại của các ngân hàng lớn hơn.
Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội là một ví dụ điển hình cho cuộc mua bán, sáp
nhập được cho là mang tính chiến lược. Tuy nhiên đằng sau đó là cả một bài
học lớn về vấn đề quản lý chất lượng tín dụng một cách lỏng lẻo, đây chính là
nguyên nhân sâu xa khiến cho Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội bị mua lại hoàn
toàn từ một ngân hàng khác.
Đứng trên cương vị là người trực tiếp làm tín dụng của Ngân hàng
TMCP Nhà Hà Nội; tôi tiến hành nghiên cứu và lựa chọn đề tài “Nghiên
cứu bài học kinh nghiệm về quản lý chất lượng tín dụng từ Ngân hàng
TMCP Nhà Hà Nội” làm đề tài tốt nghiệp luận văn cao học chuyên ngành
Quản lý kinh tế và chính sách.
Luận văn bao gồm các chương sau:
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TÍN
DỤNG ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại
Phần này làm rõ khái niệm, chức năng cũng như hoạt động chủ yếu
của Ngân hàng thương mại.
1.2. Chất lượng tín dụng đối với Ngân hàng thương mại.
Phần này làm rõ lý thuyết về tín dụng và chất lượng tín dụng; tầm
quan trọng của chất lượng tín dụng đối với Ngân hàng thương mại; các

- Nâng cao hoạt động Marketing
Song song với những bài học kinh nghiệm này là cần sự can thiệp, sự hỗ
trợ từ phía ngân hàng nhà nước, từ phía chính phủ. Tác giả đưa ra một số kiến
nghị riêng với ngân hàng nhà nước, chính phủ trong việc hỗ trợ các Ngân
hàng TMCP trong việc quản lý chất lượng tín dụng:
- NHNN cần thể hiện vai trò chủ đạo trong trong phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao
- Hoàn thiện hệ thống pháp lý trong quản lý nợ xấu và cơ chế phối hợp trong
xử lý nợ xấu của ngân hàng
- Hoàn thiện hệ thống pháp lý và thị trường tài chính ổn định cho hoạt động
của doanh nghiệp
- Nâng cao chất lượng hạch toán kế toán, báo cáo kế toán và kiểm toán trong
nền kinh tế
- NHNN cần ban hành các quy định an toàn trong hoạt động đối với NHTM
iii
- NHNN cần xây dựng phương thức giám sát đối với NHTM trên nguyên tắc
của Basel
- NHNN tăng cường sự hợp tác về lĩnh vực công nghệ với các tổ chức tài
chính, ngân hàng khu vực và thế giới
Hoạt động của NHTM có vai trò quan trọng đối với sự ổn định và phát
triển của nền kinh tế. vì vậy sự phát triển bền vững của NHTM được đặt ra
trong quản lý hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng
nhằm tăng trưởng, phát triển và bền vững nền kinh tế nhất là trong giai đoạn
hội nhập và liên kết kinh tế quốc tế hiện nay. Quản lý chất lượng tín dụng
đóng vai trò quan trọng trong hoạt động tín dụng nói riêng và hoạt động kinh
doanh nói chung của ngân hàng thương mại. Chất lượng tín dụng của mỗi
ngân hàng phụ thuộc nhiều vào công tác quản lý hoạt động tín dụng nhất là
quản lý rủi ro tín dụng là yêu cầu cấp thiết được đặt ra trong điều kiện mở cửa
và hội nhập hiện nay.
Bài nghiên cứu này đã đạt được những thành công nhất định:

chảy hội nhập bằng sự ra đời của hàng loạt các ngân hàng thương mại cổ phần
(NHTMCP).
Trong điều kiện nền kinh tế mở cửa, cạnh tranh và hội nhập thì Tín dụng
là hoạt động cơ bản nhất của ngân hàng, là khâu then chốt trong hoạt động
kinh doanh, nó quyết định phần lớn đến sự tồn tại và phát triển của một ngân
hàng. Chính vì vậy, việc nâng cao chất lượng tín dụng là vấn đề cốt lõi nhất
trong hoạt động quản trị, hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nhất là trong
giai đoạn khó khăn như hiện nay. Bởi lẽ giữa tăng trưởng và nâng cao chất
lượng tín dụng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.Làm thế nào để tăng trưởng
tín dụng nhưng vẫn đảm bảo chất lượng tín dụng luôn là vấn đề mà các ngân
hàng đặc biệt quan tâm.
Thực hiện quản lý tốt chất lượng tín dụng không chỉ nâng cao hiệu
quả, làm tăng khả năng cạnh tranh của NHTM trong bối cảnh nền kinh tế
hội nhập ngày nay mà còn đóng góp tích cực vào sự vận hành của nền kinh
tế thông qua sự tác động của cung - cầu tiền tệ dẫn đến làm thúc đẩy tăng
trưởng hay kìm hãm kinh tế, lạm phát, khủng hoảng tiền tệ giúp cho Nhà
nước thực hiện tốt vai trò quản lý Nhà nước về hoạt động kinh tế trong nền
kinh tế thị trường.
Giai đoạn hiện nay, cơn lốc khủng hoảng kinh tế đang bao trùm lên rất
1
nhiều các quốc gia và Việt Nam cũng đang bị ảnh hưởng một cách trầm trọng.
Lạm phát tăng cao, bất động sản chết, sản xuất ngừng trệ,…. Ngân hàng mất
thanh khoản trầm trọng; nợ xấu gia tăng với tỷ lệ chóng mặt; một số ngân
hàng đã phải chịu sự sáp nhập hay chịu sự mua lại của các ngân hàng lớn hơn.
Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội là một ví dụ điển hình cho cuộc mua bán, sáp
nhập được cho là mang tính chiến lược. Tuy nhiên đằng sau đó là cả một bài
học lớn về vấn đề quản lý chất lượng tín dụng một cách lỏng lẻo, đây chính là
nguyên nhân sâu xa khiến cho Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội bị mua lại hoàn
toàn từ một ngân hàng khác.
Đứng trên cương vị là người trực tiếp làm tín dụng của Ngân hàng

nâng cao hiệu quả tín dụng của NHTM.
(3) Luận án “Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh của
ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam”, Nguyễn Hữu
Huấn (2005) tại Học Viện Ngân hàng. Luận án của tác giả nghiên cứu làm rõ
quan niệm chất lượng hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nội dung đánh giá
chất lượng hoạt động kinh doanh của NHTM trên ba phương diện: khách
hàng của ngân hàng; ngân hàng thương mại và kinh tế - xã hội và các chỉ tiêu
đánh giá chất lượng hoạt động kinh doanh ở hai mặt định tính và định lượng.
Trên cơ sở phân tích thực trạng chất lượng hoạt động kinh doanh của NHN
o
&
PTNT VN, từ đò đề xuất các giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng hoạt động
kinh doanh của NHN
o
& PTNT VN.
(4) Luận án “Những giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh của
ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”,
Phan Hùng An (2006) tại Viên Nghiên Cứu Thương Mại - Bộ Thương Mại.
Tác giả đã xác định được các thông lệ, chuẩn mực quốc tế quan trọng mà các
NHTM Việt Nam phải điều chỉnh để đảm bảo những điều kiện khi hội nhập
kinh tế quốc tế. Tác giả đã xác định các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sức
cạnh tranh của NHTM trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế như: vốn và tài
chính, quản trị ngân hàng hiện đại, nguồn nhân lực, công nghệ mới cung ứng
dịch vụ và uy tín. Tác giả đã sử dụng ma trận SWOT phục vụ cho việc xác
định chiến lược hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Ngoại thương Việt
Nam, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm phát triển NH Ngoại thương Việt
3
Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
(5)Luận án “ Đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng của các ngân
hàng thương mại cổ phần trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”, Lê Tấn

hàng TMCP Nhà Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu: Quản lý chất lượng tín dụng
b. Phạm vi nghiên cứu: Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội
c. Thời gian nghiên cứu: giai đoạn 2007 – 2012
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học như: phương
pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh và diễn dịch, phương pháp thống
kê, phương pháp nghiên cứu định tính, định lượng, thu thập số liệu,…
6. Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Các nhân tố nào quyết định đến chất lượng tín dụng của 1
ngân hàng TMCP?
Câu hỏi 2: Hoạt động quản lý chất lượng tín dụng tại ngân hàng TMCP
Nhà Hà Nội diễn ra như thế nào?
Câu hỏi 3: Vì sao sao ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội thất bại?
Câu hỏi 4: Bài học kinh nghiệm về quản lý chất lượng tín dụng từ ngân
hàng TMCP Nhà Hà Nội như thế nào?
7. Đóng góp của đề tài
a. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tín dụng và chất lượng tín dụng; xác
định được tầm quan trọng của Chất lượng tín dụng đối với Ngân hàng
thương mại.
b. Đưa ra bài học kinh nghiệm về quản lý chất lượng tín dụng từ thât bại
của ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội.
8. Cấu trúc của luận văn
Chương 1: Lý luận chung về quản lý chất lượng tín dụng đối với Ngân
5
hàng thương mại.
Chương 2: Đánh giá quản lý chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP
Nhà Hà Nội giai đoạn 2007-2012.
Chương 3: Đề xuất các bài học về quản lý chất lượng tín dụng cho các

mình thì trước tiên các ngân hàng phải có vốn. Nguồn vốn huy động của
7
ngân hàng rất đa dạng và phong phú, có thể kể ra một số hình thức huy
động vốn như sau:
- Huy động vốn chủ sở hữu: Là vốn thuộc quyền sở hữu của NHTM, là
nguồn vốn được đóng góp từ các cổ đông của Ngân hàng bỏ vào đầu tư ban
đầu để thành lập NHTM hoặc được hình thành thêm trong quá trình kinh doanh
(các quỹ dự trữ, lợi nhuận không chia). Ngoài ra, khi cần thiết vốn chủ sở hữu
còn được huy động trong quá trình hoạt động thông qua việc phát hành cổ
phiếu để tăng vốn (về cơ bản cổ phiếu bao gồm cổ phiếu thông thường và cổ
phiếu ưu đãi).
- Huy động vốn thông qua các công cụ nợ: bao gồm kỳ phiếu và trái
phiếu. Kỳ phiếu dùng chủ yếu huy động vốn ngắn hạn cho các NHTM. Trái
phiếu phát hành để huy động vốn trung-dài hạn cho NHTM. Hình thức huy
động thông qua các công cụ nợ này mang tính ổn định hơn, làm tăng khả năng
huy động vốn của NHTM trong thời gian ngắn và hoàn toàn chủ động trong
sử dụng nguồn vốn nhằm phục vụ cho việc mở rộng đầu tư tín dụng của
NHTM vào các dự án lớn, có thời gian dài.
- Huy động vốn thông qua đi vay liên ngân hàng: các NHTM thực hiện việc
đi vay nhằm điều hoà vốn trong toàn hệ thống, tăng dự trữ đảm bảo tốt khả năng
thanh khoản của NHTM. Việc huy động vốn thông qua hình thức này thường
đơn giản và nhanh gọn. Có thể vay trực tiếp, vay qua Ngân hàng đại lý (hoặc
NHTW) và khoản vay thường không có bảo đảm (nếu có thường là chứng khoán
của kho bạc). Đối với việc huy động vốn trên thì hàng năm các NHTM thường
xem xét đánh giá lẫn nhau để định ra một hạn mức cho vay phù hợp cho từng
thời kỳ, đối với từng NHTM. Hạn mức cho từng NHTM thì hoàn toàn có thể
khác nhau trên cơ sở xem xét năng lực tài chính, độ tín nhiệm
- Huy động vốn thông qua vay NHTW: Thường là hình thức huy động
cuối cùng trong hoạt động huy động vốn của NHTM. Thường áp dụng cho
việc vay để đảm bảo duy trì dự trữ bắt buộc hay thiếu hụt thanh toán. Hình

9
dụng; Sản phẩm tín dụng; mục đích cấp tín dụng; theo ngành kinh tế; hình thức
bảo đảm tiền vay và từ đó có các hình thức tín dụng khác nhau như: Tín dụng
ngắn hạn, Trung - dài hạn; Tín dụng có bảo đảm và tín dụng không có bảo
đảm; Tín dụng công nghiệp, nông nghiệp, thương mại - dịch vụ,…
c. Các hoạt động khác của NHTM:
- Kinh doanh ngoại tệ: Kinh doanh ngoại tệ của NHTM là mảng kinh
doanh không chỉ đóng góp vào lợi nhuận mà còn mang tính chất phục vụ
khách hàng nhằm tăng tiện ích (trọn gói) trong hoạt động dịch vụ của NHTM.
Các phương thức kinh doanh ngoại tệ bao gồm: Giao dịch trao ngay: Là giao
dịch mua bán một số lượng ngoại tệ xác định tỷ giá giao ngay tại thời điểm
giao dịch và kết thúc thanh toán trong hai ngày làm việc tiếp theo kể từ ngày
cam kết mua bán; Giao dịch có kỳ hạn: Là giao dịch mà hai bên cam kết sẽ
mua bán với nhau một số lượng ngoại tệ theo một tỷ giá xác định tại thời
điểm giao dịch và việc thanh toán sẽ được thực hiện sau một thời gian nhất
định kể từ ngày ký kêt giao dịch; Giao dịch hoán đổi: Là giao dịch đồng thời
cả hai giao dịch mua và bán cùng một số lượng đồng tiền này với đồng tiền
khác với tỷ giá xác định tại thời điểm ký kết và với thời hạn khác nhau.
- Bảo quản vật có giá: Là nghiệp vụ chủ yếu cho thuê két: Bảo quản
vàng bạc đá quý: Khi khách hàng có nhu cầu bảo quản vàng bạc đá quý tại
NHTM, NHTM sẽ lưu tài sản của khách hàng trong két và thu phí bảo quản
trên cơ sở số lượng, khối lượng vật có giá; Bảo quản giấy tờ có giá: tương tự
trên, nhưng chủ yếu thu phí theo mức theo một khoảng thời gian nhất định
trên cơ sở giá trị và tầm quan trọng của giấy tờ có giá.
- Đầu tư
+ Đầu tư ngắn hạn: chủ yếu là Kinh doanh chứng khoán, là hoạt động
đầu tư mang tính ngắn hạn trên thị trường chính thức hoặc phi chính thức
nhằm thu lợi về cho NHTM, thông thường với qui mô nhỏ các NHTM thường
đầu tư thông qua phòng Dự án đầu tư hay phòng đầu tư chứng khoán. Trường
hợp qui mô đủ lớn thì các NHTM thường thành lập Cty chứng khoán trực thuộc

11
- Cung cấp tài khoản giao dịch: là hình thức mà NHTM mở, quản lý tài
khoản cho khách hàng, cung cấp các dịch vụ cần thiết liên quan đến tài khoản
của khách hàng như xác nhận số dư, phong tỏa làm tài sản bảo đảm
- Chuyển tiền: trong nước hoặc nước ngoài nhằm phục vụ cho hoạt động
thanh toán theo yêu cầu của khách hàng
- Nhận uỷ thác đầu tư: Nhận sự ủy thác vốn, tài sản của khách hàng để
tiến hành đầu tư theo sự ủy thác đó.
- Cho thuê tài sản (thuê mua tài sản): thường là các NHTM thực hiện
nghiệp vụ này thông qua việc thành lập công ty quản lý và cho thuê tài sản.
Là hình thức đầu tư vốn mua tài sản theo yêu cầu của khách hàng để cho thuê
lại trong một khoảng thời gian nhất định. Thông thường sau khi kết thúc thời
hạn thuê đó (đã thu đủ vốn gốc, chi phí và lãi hợp lý) thì sẽ tiến hành thanh lý
lại tài sản đó cho khách hàng.
- Cung cấp các dịch vụ đại lý: Các NHTM làm đại lý lẫn cho nhau trong
để đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng, như đại lý thanh toán, thông
báo LC, chuyển tiền
- Chi trả lương: Chi trả lương vào tài khoản của người hưởng lợi theo
yêu cầu của khách hàng.
- Dịch vụ rút tiền tự động: thực hiện lệnh chi tiền theo yêu cầu của khách
hàng trong bất kỳ thời gian nào thông qua hệ thống máy ATM.
1.2. Chất lượng tín dụng đối với Ngân hàng Thương mại
1.2.1. Tín dụng
Tín dụng có thể được hiểu đơn giản là một quan hệ vay mượn lẫn nhau
dựa trên nguyên tắc có hoàn trả
Đối tượng vay mượn có thể là tiền hoặc tài sản. Nguyên tắc hoàn trả
khẳng định người cho vay chỉ nhường quyền sử dụng tiền hoạc tài sản của
mình cho người đi vay trong một khoảng thời gian nhất định. Hết thời hạn đó
người đi vay sẽ phải hoàn trả cho người cho vay một số tiền hay tài sản nhất
định theo thoả thuận. Thông thường giá trị khoản hoà trả sẽ lớn hơn giá trị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status