ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM THỊ HỒNG THÁI
ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ CHIẾU SÁNG
ĐẾN SỨC SẢN XUẤT CỦA GÀ BROILER
NUÔI Ở CHUỒNG THÔNG THOÁNG TỰ NHIÊN L
L
U
U
Ậ
Ậ
N
NV
V
H
H
Ọ
Ọ
C
CN
N
Ô
Ô
N
N
G
GN
N
G
G
H
H
I
I
Ệ
Ệ
L
U
U
Ậ
Ậ
N
NV
V
Ă
Ă
N
NT
T
H
H
Ạ
Ạ
C
CS
S
Ỹ
N
N
G
G
H
H
I
I
Ệ
Ệ
P
P
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.40 Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. TRẦN THANH VÂN
TS. NGUYỄN THỊ THUÝ MỴ
THÁI NGUYÊN - 2010 i
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
- Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung
thực và chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào.
- Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn.
- Mọi thông tin trích dẫn từ các tài liệu tham khảo được trình bày trong luận
văn này đã ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả
Phạm Thị Hồng Thái Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1.3. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc và nƣớc ngoài 23
1.3.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 23
1.3.2. Tình hình nghiên cứu trong nước 24
Chương 2 25
NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 25
2.1.1. Đối tượng 25
2.1.2. Địa điểm 25
iv
2.1.3. Thời gian 25
2.2. Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu 25
2.2.1 Nội dung nghiên cứu 25
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu 25
2.2.3. Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi 28
2.2.3.1. Tỷ lệ nuôi sống - tình hình bệnh tật 28
2.2.3.2. Các chỉ tiêu sinh trưởng 28
2.2.3.3. Theo dõi khả năng thu nhận và chuyển hóa thức ăn 30
2.2.3.4. Đánh giá năng suất và chất lượng thịt 31
2.2.3.5. Chỉ số sản xuất PI 33
2.2.3.6. Chỉ số kinh tế EN 33
2.2.3.7. Sơ bộ hạch toán kinh tế 33
2.2.4. Phương pháp xử lý số liệu 34
Chương 3 35
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Tỷ lệ nuôi sống cộng dồn của gà thí nghiệm 36
3.2. Sinh trưởng tích luỹ của gà thí nghiệm 38
3.3. Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm 40
3.4. Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm 42
3.5. Lượng thức ăn thu nhận của gà thí nghiệm 43
3.6. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm 45
3.7. Tiêu tốn năng lượng trao đổi của gà thí nghiệm 47
3.8. Tiêu tốn protein của gà thí nghiệm 48
3.9. Kết quả mổ khảo sát của gà thí nghiệm lúc 42 ngày tuổi 51
3.10a. Thành phần hoá học cơ ngực của gà thí nghiệm lúc 42 ngày tuổi 52
3.10b.Thành phần hoá học cơ đùi của gà thí nghiệm lúc 42 ngày tuổi 53
3.11. Chỉ số sản xuất của gà thí nghiệm tại một số thời điểm 54
3.12. Chỉ số kinh tế của gà thí nghiệm tại một số thời điểm 56
3.13. Chi phí trực tiếp và hạch toán kinh tế của gà thí nghiệm 58
CHÚ DẪN CÁC TỪ VIẾT TẮT
CP: Crude Protein - Protein thô.
g: gam.
kg: kilôgam.
ME: Metabolizable Energy - Năng lượng trao đổi.
TTTA: Tiêu tốn thức ăn. 1
MỞ ĐẦU
ăn, tỷ lệ nuôi sống, khả cho thịt và chất lượng thịt. Có nhiều kết quả nghiên
cứu cho thấy rằng: Việc chiếu sáng ngắt quãng rất có lợi cho sự sinh trưởng
của gà, đồng thời còn làm giảm chi phí thức ăn và năng lượng điện chiếu sáng.
Tuy nhiên trước đây những nghiên cứu này mới chỉ được tiến hành ở phương
thức nuôi chuồng kín hoàn toàn, mà việc thực hiện chiếu sáng ngắt quãng đều
phải do người nghiên cứu bật và tắt thiết bị đúng giờ. Ngày nay, nhờ khoa học
công nghệ phát triển đã tạo ra được những thiết bị tự động để phục vụ ngành
chăn nuôi. Trong đó, có thể kể đến một thiết bị về chiếu sáng, nó có thể thực
hiện việc chiếu sáng ngắt quãng một cách tự động theo ý muốn của người
nghiên cứu. Thiết bị này có nguồn gốc từ Đức.
Dựa trên tình hình thực tế hiện nay và để thấy được ưu điểm của thiết bị
này trong chăn nuôi, nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ thịt gà broiler của người
tiêu dùng. Trong đề tài sẽ nghiên cứu:
“Ảnh hưởng của chế độ chiếu sáng đến sức sản xuất của gà broiler
nuôi ở chuồng thông thoáng tự nhiên”.
1.2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
- Xác định chế độ chiếu sáng thích hợp cho gà broiler nuôi theo phương
thức chuồng hở trong vụ hè.
- Đánh giá được ảnh hưởng của chiếu sáng đến sinh trưởng và sản xuất
thịt của gà broiler nuôi chuồng hở trong vụ hè.
1.3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Hoàn thiện quy trình chiếu sáng cho gà broiler nuôi chuồng hở ở vụ hè.
3
- Cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc áp dụng quy trình chiếu
sáng cho gà broiler nuôi chuồng hở ở vụ hè. Chƣơng 1
có một chế độ ánh sáng phù hợp để gà có thể tiêu tốn ít thức ăn mà vẫn
sinh trưởng nhanh và có chất lượng thịt tốt. Theo Mench J. A., 2005 [60]
chương trình chiếu sáng khác nhau ảnh hưởng đến khả năng thu nhận và
tiêu tốn thức ăn, dao động khoảng 1,90 - 2,15 kg/kg tăng trọng.
1.1.1.4. Ảnh hƣởng của chiếu sáng đến thành phần và chất lƣợng thịt
Ánh sáng cũng ảnh hưởng lớn đến thành phần và chất lượng thịt gà. Cần
phải có một chế độ ánh sáng phù hợp để gà có thể sinh trưởng nhanh, tiêu tốn
ít thức ăn; thịt gà có hàm lượng protein, khoáng tổng số cao còn hàm lượng
lipit thấp. Mench J. A., và cộng sự 2007 [61] thực hiện chiếu sáng ngắt quãng
cho gà nuôi thịt, chúng có thời gian nghỉ ngơi và hoạt động phù hợp với cơ
thể, vì vậy đã cho chất lượng thịt tốt hơn.
1.1.2. Cơ sở khoa học về di truyền các tính trạng năng suất
1.1.2.1. Tính trạng số lƣợng
Di truyền học có thể chia các tính trạng của vật nuôi ra thành hai loại:
Tính trạng chất lượng và tính trạng số lượng. Theo Trần Huê Viên, 2001 [39]
phần lớn các tính trạng có giá trị kinh tế của vật nuôi đều là tính trạng số
lượng và phần lớn sự thay đổi trong quá trình tiến hoá của sinh vật cũng là sự
thay đổi của các tính trạng số lượng.
5
Tính trạng số lượng là những tính trạng mà ở đó sai khác giữa các cá thể
là sự sai khác nhau về mức độ hơn là sự sai khác về chủng loại. Tính trạng số
lượng còn gọi là tính trạng đo lường, bản chất của di truyền các tính trạng có
thể xác định bằng cân, đo, đong, đếm được như tốc độ tăng khối lượng và
kích thước các chiều đo, sản lượng trứng,…
Theo Nguyễn Ân, 1993 [1] cơ sở lý thuyết của di truyền học số lượng
được thiết lập vào khoảng năm 1920 bởi công trình của Fishter R. A. (1918),
Wright (1926) và Haldane J. B. C. (1932), sau đó môn di truyền học số lượng
được nhiều nhà di truyền và thống kê bổ sung nâng cao, trở thành cơ sở vững
có nhiều gen có hiệu ứng trung gian, hơn nữa do hiện tượng đa hiệu của gen
một gen có thể có hiệu ứng nhỏ đối với một tính trạng này nhưng lại có hiệu
ứng lớn đối với một tính trạng khác.
- Giá trị kiểu gen chịu ảnh hưởng bởi ba loại tác động của các gen, đó là
giá trị cộng gộp (Additive Value) hoặc giá trị giống, sai lệch trội (Dominance
Deviation) và sai lệch tương tác (Interaction Deviation) hoặc sai lệch át gen:
G = A + D + I
Trong đó:
G: là giá trị kiểu gen (Genotypic Value).
D: là giá trị sai lệch trội (Dominance Deviation).
I: là giá trị sai lệch tương tác (Interaction Deviation) hoặc sai lệch át gen.
7
Theo Nguyễn Văn Thiện, 1998 [26] khi một kiểu hình của một cá thể
được cấu tạo từ hai locut trở lên thì giá trị kiểu hình của nó được biểu thị qua
mối quan hệ như sau:
P = A + D + I + Eg + Es
Trong đó:
P: là giá trị kiểu hình (Phenotypic Value).
A: là giá trị cộng gộp hoặc giá trị giống (Additive Value).
D: là giá trị sai lệch trội (Dominance Deviation).
I : là giá trị sai lệch tương tác (Interaction Deviation) hoặc sai lệch át gen.
Eg: là sai lệch môi trường chung (General Environmental Deviation).
Es: là sai lệch môi trường riêng - Môi trường đặc biệt (Special
Environmental Deviation).
Để cải tiến năng suất vật nuôi ngoài việc cải tiến kiểu gen còn phải tạo
ra môi trường thích hợp. Từ công thức trên ta thấy, đối với A + D + I là nhiệm
vụ của các nhà di truyền giống, còn đối với Eg + Es là nhiệm vụ của các nhà
kỹ thuật. Đây là cơ sở khoa học để thiết lập một điều kiện ngoại cảnh thích
Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng Parapol. Với gà broiler hướng thịt
thường đạt đỉnh cao từ 6 - 8 tuần tuổi. Sinh trưởng tuyệt đối thường được tính
bằng g/con/ngày. Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế
càng lớn.
- Sinh trưởng tương đối:
9
Là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng, kích thước và thể tích cơ thể
lúc kết thúc khảo sát so với lúc đầu khảo sát (T.C.V.N 2-40-77) [30].
Đồ thị sinh trưởng tương đối có dạng Hypepol. Đơn vị tính sinh trưởng
tương đối là %, vật nuôi nói chung và gà broiler thường có tốc độ sinh trưởng
tương đối giảm qua các tuần tuổi.
- Đường cong sinh trưởng:
Đường cong sinh trưởng biểu thị tốc độ sinh trưởng. Chamber J. A.,
1990 [47] đường cong sinh trưởng của gà thịt có 4 đặc điểm chính gồm 4 pha:
+ Pha sinh trưởng tích lũy: Tăng tốc độ nhanh sau khi nở.
+ Điểm uốn của đường cong tại thời điểm có tốc độ sinh trưởng cao
nhất.
+ Pha sinh trưởng có tốc độ giảm dần sau điểm uốn.
+ Pha sinh trưởng tiệm cận có giá trị khi gà trưởng thành.
Knizetova H. J., Hyanck, Knize B. and Roubicek J., 1991 [57] đường
cong sinh trưởng không những được sử dụng để chỉ rõ về khối lượng mà còn
làm rõ về mặt chất lượng, sự sai khác giữa các dòng, giống, giới tính.
Trần Long và cộng sự, 1994 [14] khi nghiên cứu về đường cong sinh
trưởng của các dòng gà A, V
1
, V
3
, trong giống gà Hybro (HV
, V
153
, AV
35
, AV
53
ở 49 và 56 ngày tuổi, tỷ lệ
thân thịt đạt cao từ 67 - 75 % thịt đùi và thịt ngực 39 - 41 %.
Ngô Giản Luyện, 1994 [18] đã nghiên cứu 3 dòng gà thuộc giống gà
Hybro khi mổ khảo sát ở 42 ngày tuổi đã kết luận: Trong cùng một dòng gà tỷ
lệ thân thịt con trống cao hơn con mái 1 - 2 % trong khi tỷ lệ thịt ngực của
con mái lại cao hơn con trống.
Trần Công Xuân, 1995 [40] thí nghiệm ở 9 ô với ba mức năng lượng và
protein, kết quả mổ khảo sát ở 8 tuần tuổi gà broiler Ross - 208 cho tỷ lệ thân
11
thịt đạt cao 72,69 - 74,59 %, tỷ lệ thịt đùi 20,51 - 22,05 %, tỷ lệ thịt ngực đạt
21,74 - 23,18 %.
Bouw Kamp E. L., 1973 [43] khi nghiên cứu, so sánh tỷ lệ thịt xẻ và các
phần thịt trên đàn gà thịt thương phẩm đã khẳng định rõ sự sai khác các chỉ
tiêu trên giữa các công thức lai.
Craing Mortoras, 1996 [51] với tiến bộ di truyền hiện nay người ta đang
mong đợi một cách tin tưởng rằng các tỷ lệ được nâng cao ở gà broiler là khối
lượng sống tăng 59 gam, tiêu tốn thức ăn giảm 0,04 - 0,05 và cơ ngực sẽ tăng
từ 0,2 - 0,3 %.
Vereken A. L. J., 1992 [72] cho biết mối liên hệ tiến bộ di truyền giữa
điểm cấu trúc của cơ thể với khối lượng cơ thể là 0,5; với tổng số thân thịt là
0,45; tỷ lệ thịt ngực là 0,6; khả năng di truyền được ước tính theo cấu trúc cơ
thể giao động từ 0,3 - 0,45; kết quả này cho thấy sản lượng thịt ngực của các
dòng gà broiler có thẻ được nâng lên bởi chọn lọc qua điểm cấu trúc của cơ thể.
Ngoài ra, để đánh giá chất lượng thịt còn dựa vào độ béo, tròn trĩnh, thể
hình đẹp, cân đối, nhanh nhẹn, cũng có thể đánh giá thông qua mùi vị, độ ngọt
và độ mềm, cứng của thịt. Nếu có các khuyết tật như: Phồng, rộp, có chứa u
nang, lở loét da, tổn thương như gẫy cánh, gẫy lườn, đùi thì chất lượng của
những gà broiler đó thấp.
1.1.3.4. Các yếu tố ảnh hƣởng đến năng suất và chất lƣợng thịt
Theo Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân, 1998 [5] sinh trưởng của vật
nuôi nói chung và của gà nói riêng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, giống,
13
dinh dưỡng, tuổi, tính biệt, hướng sản xuất và các điều kiện chăm sóc nuôi
dưỡng:
* Ảnh hƣởng của dòng, giống
Các dòng, giống khác nhau thì năng suất thịt cũng khác nhau. Nguyễn
Mạnh Hùng và cộng sự, 1994 [8] sự khác nhau về khối lượng giữa các giống
gia cầm là rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn giống gà hướng trứng
khoảng 500 - 700 g (Tức là khoảng 13 - 30 %).
Mỗi giống có một khả năng sinh trưởng nhất định, sự khác nhau về sinh
trưởng đó là do bản chất di truyền quy định. Đặc điểm di truyền của giống và
ngoại cảnh có tác động qua lại với nhau, nghĩa là cùng một kiểu gen nhưng ở
các môi trường khác nhau thì có sinh trưởng khác nhau. Cho nên việc cần
thiết là phải tạo ra môi trường phù hợp với kiểu gen đó để phát huy tối đa
tiềm năng di truyền của giống.
Theo Nguyễn Thị Thúy Mỵ, 1997 [21] thì kết quả nghiên cứu trên ba
giống gà AA, Avian và BE88 nuôi 49 ngày tuổi tại Thái Nguyên có khối
lượng khác nhau, khối lượng cụ thể của từng giống như sau: giống gà AA là
2501,09 g; giống gà Avian là 2423,28 g; giống BE88 là 2305,14 g.
Nhìn chung hệ số di truyền về khối lượng và sinh trưởng biến động
từ (h
2
135
là có sự khác nhau từ một tuần tuổi.
North M.O., và cộng sự (1992) cho biết lúc mới nở gà trống nặng hơn gà
mái 1%, tuổi càng tăng sự khác nhau càng lớn, ở 8 tuần tuổi sự khác nhau về khối
lượng giữa gà trống và gà mái là 27% (Dẫn theo Bế Kim Thanh, 2002 [24]).
Ở một độ tuổi nhất định tỷ lệ thân thịt chỉ tăng đến một mức nào đó, tỷ
lệ thân thịt ở gà trống và gà mái khác nhau ví dụ như tỷ lệ thịt ức ở gà trống
15
thấp hơn ở gà mái. Đã có nhiều nghiên cứu cho rằng tỷ lệ thân thịt ở gia cầm
hướng thịt tăng lên theo tuổi, tức là tuổi gia cầm càng cao thì tỷ lệ này càng
cao. Theo Touraille C. và cộng sự, 1981 [70] khi tuổi gia cầm càng tăng thì tỷ
lệ đùi, lườn càng tăng và tuổi giết mổ gia cầm còn ảnh hưởng đến độ ngon
của thịt.
Còn theo kết quả của các nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Hải, 1999 [4],
Đoàn Xuân Trúc, 2006 [36] cho biết trong cùng một loại gà thì tỷ lệ thịt xẻ
của gà mái thấp hơn tỷ lệ thịt xẻ của gà trống tư 1 - 2 % trong khi đó tỷ lệ thịt
lườn của gà mái lại cao hơn tỷ lệ thịt lườn của gà trống.
Theo Đỗ Xuân Tăng, 1980 [23] cho biết tỷ lệ thịt đùi của gà trống cao hơn tỷ
lệ thịt đùi của gà mái còn tỷ lệ thịt ngực ở gà mái lại cao hơn tỷ lệ thịt ngực ở gà
trống.
Brake J. và cộng sự, 1993 [44] cho thấy gà ở 8 tuần tuổi tỷ lệ thịt lườn ở
gà mái cao hơn tỷ lệ thịt lườn ở gà trống là 2,5 %, trong khi đó tỷ lệ thịt đùi
không có sự sai khác đáng kể. Nhưng ở 12 tuần tuổi thì tỷ lệ thịt lườn ở gà
mái cao hơn 1,7 % so với tỷ lệ thịt lườn của gà trống nhưng tỷ lệ thịt đùi của
gà mái lại thấp hơn tỷ lệ thịt đùi của gà trống là 1,4 %.
* Ảnh hƣởng của tốc độ mọc lông
Qua những kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học đã xác định
trong cùng một giống, cùng giới tính ở gà có tốc độ mọc lông nhanh có tốc độ
sinh trưởng, phát triển cao hơn gà mọc lông chậm. Kushner K. F., 1973 [11]
dưỡng phù hợp với đặc tính sinh vật học của gia cầm và phù hợp với mục
17
đích sản xuất của từng giống, dòng, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của
cơ thể, mà vẫn đảm bảo được các chỉ tiêu về kinh tế, vì chi phí cho thức ăn
thường chiếm tới 70% giá thành sản phẩm. Để đánh giá về vấn đề này người
ta đưa ra chỉ tiêu: “Tiêu tốn thức ăn cho tăng khối lượng (F.C.R)”. Tiêu tốn
thức ăn trên kg tăng khối lượng càng thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao và
ngược lại.
Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng là tỷ lệ chuyển hoá thức ăn để đạt
được 1 kg thịt, với gà broiler tiêu tốn thức ăn chủ yếu dùng cho việc tăng khối
lượng. Nếu tăng khối lượng càng nhanh thì cơ thể đồng hoá, dị hoá tốt hơn,
khả năng trao đổi chất cao, do vậy hiệu quả sử dụng thức ăn cao dẫn đến tiêu
tốn thức ăn thấp.
Tiêu tốn thức ăn trên một đơn vị sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật
quan trọng. Tiêu tốn thức ăn chính là hiệu suất giữa thức ăn/kg tăng khối
lượng, chỉ tiêu này càng thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao.
Đối với gà thịt, thức ăn ăn vào một phần dùng để duy trì cơ thể còn một
phần dùng để tăng khối lượng.
Theo Chambers và cộng sự, 1984 [46] cho biết hệ số tương quan di
truyền giữa khối lượng cơ thể và tăng khối lượng với tiêu tốn thức ăn thường
rất cao là 0,5 - 0,9 còn tương quan di truyền sinh trưởng và chuyển hoá thức
ăn là âm và thấp từ -0,2 đến -0,8.
Theo Arbor Acres, 1993 [41] thì gà broiler nuôi chung trống mái 49
ngày tuổi, khối lượng cơ thể đạt 2.675 gam - 2.700 gam, F.C.R là 1,92 - 1,95.
Theo kết quả của Ross 308, 1996 [66] thì gà broiler nuôi chung trống mái 42
ngày tuổi, khối lượng cơ thể đạt 2.425 gam, F.C.R là 1,71. Kết quả nuôi gà
AA ở 49 ngày tuổi của Ngôn Thị Hoán và Nguyễn Duy Hoan, 1996 [7] cho
thấy khối lượng cơ thể đạt 2.320 gam, F.C.R là 1,9.