Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 11 * Phụ bản Số 3 * 2007 Tổng Quan
Chuyên Đề Giải Phẫu Bệnh – Tế Bào Bệnh Học
1
HPV VÀ TỔN THƯƠNG CỔ TỬ CUNG
Nguyễn Sào Trung*
HPV VÀ UNG THƯ CỔ TỬ CUNG
Ung thư cổ tử cung là một trong những ung
thư thường gặp, có tần suất thứ hai trong các ung
thư phụ nữ trên thế giới, với khoảng 500.000 ca
mới và 250.000 ca chết mỗi năm. Khoảng 80% số
ca ung thư cổ tử cung xảy ra ở các nước có mức
sống thấp. Tại Việt Nam, ung thư cổ tử cung và
ung thư vú là 2 loại có xuất độ cao nhất.
Theo các nghiên cứu về dịch tễ học, các yếu tố
nguy cơ của ung thư cổ tử cung như: tuổi giao
hợp lần đầu, nhiều bạn tình, sinh đẻ nhiều, hút
thuốc, nhiễm Trichomonas, nhiễm Herpes Simplex
II, nhiễm Human papilloma virus (HPV)... thì việc
nhiễm HPV là yếu tố nguy cơ cao nhất. Có ít nhất
50% người có hoạt động tình dục bị nhiễm HPV
trong cuộc đời. Do đó, các nhà khoa học chú ý
nhiều đến loại nguyên nhân này và hiện nay đã
có vaccin phòng ngừa nhiễm HPV .
Nhiễm HPV là bệnh nhiễm virus thường gặp
nhất của cơ quan sinh dục. Có khoảng 100 týp
HPV, trong đó có khoảng 20 - 30% chưa được giải
mã được toàn bộ bộ gen, có 40 týp có thể gây bệnh
ở cơ quan sinh dục nam và nữ. Về mối liên quan
với ung thư, các týp HPV có 2 nhóm: nhóm “nguy
thư cổ tử cung khi có kèm theo một số yếu tố
khác như hút thuốc lá, sinh đẻ nhiều...
NHỮNG BIẾN ĐỔI HÌNH THÁI Ở CỔ TỬ
CUNG CÓ NHIỄM HPV
Trong bất kỳ tế bào nào cũng có hoạt động tự
kiểm soát để ngăn ngừa sự sinh sản quá mức.
HPV sản xuất ra các protein E5, E6, và E7. Các
protein này tác động vào hoạt động kể trên. Ví
dụ, HPV E6 ngăn cản hoạt động của protein p53
là loại protein điều hoà sinh sản tế bào.
HPV có thể xâm nhập vào cổ tử cung từ
những tế bào bề mặt bị tổn thương, thường là
những vết thương dù rất nhỏ khi quan hệ tình
dục. Trong các tế bào này, HPV sống tiềm ẩn
từ khoảng 1-8 tháng, không phát triển, không
gây thương tổn, không gây triệu chứng hoặc
chỉ có triệu chứng nhẹ, không đặc hiệu và
thoảng qua. Lúc này, các kỹ thuật xét nghiệm
tế bào học, giải phẫu bệnh, soi cổ tử cung đều
cho kết quả tế bào bình thường. Chỉ những xét
nghiệm sinh học phân tử có độ nhạy cao như
PCR, lai phân tử mới có khả năng phát hiện
thấy HPV
(5,9)
. Sau khi sống tiềm ẩn, tuỳ cơ địa
của người bệnh, HPV sẽ kích thích tế bào cổ tử
cung sinh sản nhanh và mạnh. Các tế bào này
* Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh
Tổng quan Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 11 * Phụ bản Số 3 * 2007
- Tế bào bị ảnh hưởng: Tế bào gai trưởng
thành, chưa trưởng thành, hoặc và tế bào vùng
chuyển tiếp.
- Cách sắp xếp tế bào: Kết cụm, riêng lẻ.
- Hình dáng tế bào: Mất hình ảnh đa diện,
các góc trở nên tròn.
- Bờ tế bào: Dày, có hình ảnh viền kính lúp
- Kích thước tế bào: Đồng đều hoặc không
đồng đều
- Bào tương: Thay đổi từ thấu quang đến
mờ đục. Có vòng sáng quanh nhân
- Nhân: Nhân lớn, hai, đa nhân, bất
thường nhẹ.
- Thay đổi kết hợp: Nghịch sừng. Bình
thường, biểu mô cô tử cung không sừng hoá.
Nghịch sừng nghĩa là tất cả sự sừng hoá bất
thường, có một số tác giả mô tả thay đổi hình
thái này là cận sừng (parakeratosis) hay là giả
cận sừng (pseudoparakeratosis). Trên phết
mỏng được nhuộm bằng phương pháp
Papanicolaou, những tế bào nghịch sừng bắt
màu cam của OG-6 rất rõ, các tế bào này
thường xếp thành đám ba chiều, dày, mất cực
tính, các tế bào này có nhân bọng, sợi nhiễm
sắc không phân biệt rõ giống như chất nhiễm
sắc của nhân tế bào rỗng. Theo Hội Tế bào
bệnh học Mỹ (ASCP), đây cũng là hình ảnh
đặc hiệu của nhiễm HPV. Trong một số
trường hợp, nghịch sừng là dấu hiệu duy nhất
của nhiễm HPV, nếu có hình ảnh này cũng
tự khỏi sau vài tháng đến vài năm.
- HSIL (High-grade Squamous Intraepithelial
Lesion): Tổn thương trong biểu mô độ cao. Tổn
thương này có tế bào kích thước và hình dạng
khác nhiều so với tế bào bình thường, là tổn
thương nặng, có thể diễn tiến thành ung thư nếu
không được điều trị đúng và kịp thời.
Theo phân loại tế bào học cổ tử cung trước
đây, người ta thường dùng thuật ngữ dị sản
(dysplasia) để chỉ các tổn thương tiền ung thư của
cổ tử cung, với 4 mức độ: dị sản nhẹ, dị sản vừa,
dị sản nặng và carcinôm tại chỗ. Đối chiếu với
phân loại trong hệ thống Bethesda, dị sản nhẹ
tương đương với LSIL, dị sản vừa, dị sản nặng và
carcinôm tại chỗ tương đương với HSIL. Cũng có
cách phân loại dùng thuật ngữ tổn thương trong
biểu mô (Cervical intraepithelial neoplasia - CIN)
với các mức độ 1, 2, 3 (CIN-1, CIN-2, CIN-3) để chỉ
các tổn thương tiền ung thư cổ tử cung, trong đó
CIN-3 bao gồm cả carcinôm tại chỗ.
Tại nước ta, từ năm 2002 đến nay, đã có
một số công trình nghiên cứu nhằm tầm soát
nhiễm HPV ở cổ tử cung qua phết tế bào học
cổ tử cung
(9,10,11,12)
. Theo một nghiên cứu của Bộ
môn Giải phẫu bệnh, Đại Học Y Dược TP. Hồ
Chí Minh, trên các bệnh nhân khám phụ khoa
tại Bệnh Viện Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí
Minh và Bệnh Viện Từ Dũ
về tỉ lệ phát hiện nhiễm HPV trên phết mỏng
ở những nghiên cứu khác nhau. Theo Bibbo
(1)
,
nhiễm HPV cổ tử cung, trên phết tế bào có thể
phát hiện được tới 60%. Theo Sasagawa
(13)
thì
chỉ phát hiện được 20% mà thôi. Theo
Demay
(2)
, hình ảnh tế bào rỗng phát hiện trong
khoảng 20-33%.
Xét nghiệm HPV (HPV test)
Xét nghiệm này ứng dụng kỹ thuật sinh
học phân tử nhằm xác định DNA của virus
trong mẫu bệnh phẩm lấy từ cổ tử cung, bất
kỳ mẫu bệnh phẩm đó đang ở giai đoạn phát
triển nào của bệnh, kể cả lúc chưa có tổn
thương tế bào rõ rệt. Kỹ thuật này được
khuyên dùng theo dõi cho những phụ nữ có
kết quả xét nghiệm tế bào học (PAP) nghi ngờ.
Loại xét nghiệm này có thể chẩn đoán được 13
loại HPV thuộc nhóm nguy cơ cao
(6)
.
Liên quan đến loại xét nghiệm này, đã có
công trình nghiên cứu của BV Ung Bướu
(8)
nhiễm 1 týp (66,12%). Có thể nhiễm một lúc
nhiều týp nhưng đa số là nhiễm 2 týp
(24,45%). Ngoài ra, còn có một số týp hiếm
nguy cơ cao như týp 82 và các týp HPV nguy
cơ thấp là 70, 71, 81 khiến việc định týp sẽ khó
khăn và tốn kém.
PHỐI HỢP XÉT NGHIỆM TRONG CHẨN
ĐOÁN HPV
Xét nghiệm Pap đã được sử dụng từ rất
lâu, đến nay vẫn còn hữu dụng trong tầm soát
tổn thương tiền ung thư và ung thư cổ tử
cung. Qua thời gian, phương pháp này bộc lộ
một khuyết điểm bất lợi cho việc tầm soát, đó
là có nhiều kết quả âm tính giả và độ nhạy
tương đối không cao. Chất lượng chẩn đoán
phụ thuộc một số yếu tố chủ quan là: kinh
nghiệm của bác sĩ lấy mẫu, kỹ thuật của
phòng xét nghiệm, kinh nghiệm của kỹ thuật
viên và bác sĩ tế bào học. Do đó người ta
thường phối hợp xét nghiệm Pap với sinh
thiết cổ tử cung qua máy soi khi xét nghiệm
Pap có kết quả bất thường. Trong chẩn đoán
nhiễm HPV, người ta thường dùng xét
nghiệm HPV như là xét nghiệm bổ trợ để làm
tăng độ nhạy và làm giảm bớt tỷ lệ dương tính
giả. Một nghiên cứu
(5)
cho thấy nếu chỉ dùng
xét nghiệm HPV, độ nhạy đạt được 74% trong
phát hiện CIN, nhưng nếu phối hợp để dùng
Tạp chí Y học TPHCM. Tập 9, số 1 : 49-53.
9. Nguyễn Thị Như Ngọc & Cs (2002). “Nhận định tình hình tỉ
lệ nhiễm HPV qua phết tê bào âm đạo tại bệnh viện Hùng
Vương”. Y Học TP.Hồ Chí Minh- 4 :382-4
10. Nguyễn Trọng Hiếu (2004). “Tần suất nhiễm HPV ở phụ nữ
TP HCM và Hà Nội” Tạp Chí Phụ sản – Số 1-2 Tập 4
Tháng 6-2004- Tr 64-72.
11. Pham TH, Nguyen TH, Herrero R, Vaccarella S, Smith JS,
Nguyen Thuy TT, Nguyen HN, Nguyen BD, Ashley R,
Snijders PJ, Meijer CJ, Munoz N, Parkin DM, Franceschi S,
(2003). “Human papillomavirus infection among women
in South and North Vietnam”. International Journal of
Cancer. 104 : 213 – 220
12. Phạm Việt Thanh, (2006) “Chương trình tầm soát Human
Papilloma Virus” (HPV) trong ung thư cổ tử cung” . Tạp
chí Y học thực hành. 550 : 13-24.
13. Sasagawa T., Basha W. (2001). High risk and multiple
papillomavirus infection associated with cervical
abnormalities in Japanese women. Cancer Epidemiol
Biomarkers Prev 10:45-52.
14. Trịnh Quang Diện & Nguyễn Vượng (1999). “Phát hiện sớm
các tổn thương biểu mô và ung thư cổ tử cung bằng
phương pháp tế bào học”. Y học thực hành, 11 :69-71
15. Vũ Thị Nhung (2006). Khảo sát tình hình nhiễm các týp
HPV (Human Papilloma Virus) ở phụ nữ Thành phố Hồ
Chí Minh bằng kỹ thuật sinh học phân tử. Y học TP Hồ
Chí Minh, Phụ bản chuyên đề ung bướu học, Tập 10, số 4,
trang 402-407.