Một vài suy nghĩ về quan điểm thế giới quan Hồ Chí Minh
Một bộ phận quan trọng trong hệ tư tưởng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại
là quan niệm thế giới quan, là toàn bộ các quan điểm và cách thức nhìn nhận của
con người về thế giới trong tính chỉnh thể của nó, về con người và vị trí, vai trò của
con người trong thế giới đó.
Thế giới quan triết học được hình thành trên cơ sở tổng hòa tri thức khoa
học và triết lý của con người trong việc giải thích nguồn gốc của các sự vật, hiện
tượng trong thế giới tự nhiên và xã hội. Thế giới quan triết học, do đó thể hiện
trình độ phát triển rất cao của nhận thức con người về thế giới.
Quá trình hình thành và đặc điểm của thế giới quan trong tư tưởng Hồ Chí
Minh
Thứ nhất, thế giới quan của Chủ tịch Hồ Chí Minh là thế giới quan duy vật
biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin được tổng hợp với các yếu tố duy vật biện
chứng trong triết học Việt Nam và phương Đông
Thế giới quan của chủ nghĩa Mác - Lênin là toàn bộ các quan điểm và cách
thức duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của con người về thế giới trong tính chỉnh
thể của nó - sau đây gọi tắt là thế giới quan Mác - Lênin. Chủ tịch Hồ Chí Minh
tìm thấy ở chủ nghĩa Mác - Lê-nin con đường và phương pháp giải phóng dân tộc.
Cho nên, trước tiên Người chịu ảnh hưởng của thế giới quan Mác - Lênin ở
phương diện thế giới quan duy vật lịch sử. Nói cách khác, Người tiếp cận thế giới
quan Mác - Lênin trước hết từ tính đặc trưng của triết học phương Đông, nhất là
của Việt Nam, là tư duy trực giác tổng hợp và tập trung nhắm vào vấn đề “là người
và làm người” hay vấn đề nhân sinh quan. Từ đó Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ
tiếp thu thế giới quan Mác - Lênin ở từng nguyên lý riêng lẻ, mà trước hết tiếp
nhận chủ nghĩa Mác - Lênin ở phương diện chủ nghĩa duy vật lịch sử; trong đó tập
trung giải quyết mối quan hệ giữa hoạt động tự do của con người với tính tất yếu
lịch sử theo quan điểm duy vật biện chứng. Trên cơ sở đó, Người khắc phục được
cách giải đáp chưa khoa học, có khi rơi vào duy tâm, trừu tượng và thần bí của
thuyết Thiên - Địa - Nhân hợp nhất trong thế giới quan triết học phương Đông.
Thứ hai, để hình thành thế giới quan mới, trước hết Chủ tịch Hồ Chí Minh
xây dựng tư tưởng về con người, bản chất con người và sự cần thiết phải giải
nhiều, làm ít hưởng ít, Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp
đỡ và chăm nom”, “nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân và
do nhân dân tự xây dựng lấy”
(2)
.
Còn bản thân con người phải có tài và đức; trong đó đạo đức là cái gốc làm
người (người dân, cán bộ, đảng viên, ), còn tư tưởng làm cốt của trí khôn, là bàn
chỉ nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rõ: “Cây phải có gốc, không có gốc thì
cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy
cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng
cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn
bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”
(3)
.
Từ quan niệm về tính tích cực của chủ thể, Hồ Chí Minh yêu cầu phải
“trồng người” để con người có khả năng nhận thức và cải tạo thế giới, theo phương
châm: Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần phải có những con
người xã hội chủ nghĩa. Và sự nghiệp xây dựng đó có thể “trồng” được những con
người xã hội chủ nghĩa.
Thứ ba, vai trò quyết định của thực hành và sứ mệnh “cải tạo thế giới” của
thế giới quan mới
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, “chỉ có thực hành mới là mực
thước đúng nhất cho sự hiểu biết của người về thế giới. Chỉ do quá trình thực hành
(quá trình sản xuất vật chất, giai cấp đấu tranh, khoa học thực nghiệm), người ta
mới đạt được kết quả đã dự tính trong tư tưởng, và lúc đó sự hiểu biết mới được
chứng thực”
(4)
.
Ở Người, nội dung hoạt động thực hành gồm tất cả các hoạt động chính trị,
kinh tế, xã hội, văn hóa và cả sinh hoạt thường nhật, để giải phóng con người khỏi
Nếu không có cảm giác, thì lý trí như một dòng nước, không có nguồn, một chòm
cây không có rễ; mà như thế là chủ quan. Nếu nhắm mắt, bịt tai, không nghe,
không thấy sự vật khách quan bên ngoài thì làm gì có hiểu biết. Đó là hiểu biết
theo chủ nghĩa duy vật.
Hai là hiểu biết phải tiến hóa sâu sắc, từ giai đoạn cảm giác đến giai đoạn
lý trí. Đó là hiểu biết theo phương pháp biện chứng.
Chỉ cảm giác thôi không đủ. Muốn hiểu biết toàn bộ một sự vật, hiểu biết
bản chất và quy luật nội bộ của nó, thì phải suy xét kỹ lưỡng, gom góp những cảm
giác phong phú lại, rồi chọn lọc cái nào thật, cái nào giả, cái nào đúng, cái nào sai,
từ ngoài đến trong, để tạo thành một hệ thống khái niệm lý luận. Đó là hiểu biết do
thực hành mà có và được cải tạo trong thực hành. Hiểu biết ấy đúng hơn, phản ánh
sự vật một cách hoàn toàn hơn”
(6)
.
Nhưng nếu chỉ dừng ở hệ thống khái niệm lý luận thì “hiểu biết như thế chỉ
mới là hiểu một nửa”, mà còn phải dùng sự hiểu biết ấy cải tạo thế giới. “Sự tiến
tới (phát triển) của hiểu biết chẳng những ở chỗ từ cảm giác tiến đến lý luận, mà
cốt nhất là từ lý luận tiến đến thực hành cách mạng”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích ngắn gọn, giản dị, khúc triết về nguyên lý
cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử cho rằng, sự tồn tại xã hội quyết định ý thức
xã hội, Và từ quan niệm “lấy dân làm gốc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định
rằng nhân dân không chỉ là đối tượng chủ yếu của nhận thức lịch sử, mà là chủ thể
chủ yếu có năng lực nhận thức và cải tạo thế giới. Vì “một lẽ rất đơn giản, dễ hiểu:
tức là vô luận việc gì, đều do người làm ra, và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa đều thế
cả”
(7)
. Nhân dân là lực lượng chủ yếu thực hiện sản xuất, tiến hành đấu tranh chống
bọn bóc lột. Do đó, nhận thức của họ là nội dung chủ yếu của lịch sử, và cũng là
nội dung chủ yếu của thế giới quan về lịch sử. Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày
ngắn gọn, khúc triết về sự phát triển của các hình thái xã hội với tính cách là một
nữa. Cứ đi vòng như thế mãi, không bao giờ ngừng. Và nội dung của thực hành và
hiểu biết lần sau cao hơn lần trước. Đó là nội dung vấn đề hiểu biết trong duy vật
biện chứng.
Đó là quan điểm biết và làm thống nhất của duy vật biện chứng”
(11)
.
Mối quan hệ giữa thế giới quan và năng lực nhận thức, cải tạo của con
người đối với thế giới trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Kế thừa tư tưởng của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, trong
tác phẩm Thực hành sinh ra hiểu biết, hiểu biết tiến lên lý luận, lý luận lãnh đạo
thực hành (năm 1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “hoạt động sản xuất là
nguồn gốc của sự phát triển hiểu biết của loài người.
Ngoài hoạt động của sản xuất, sự thực hành của người ta còn có: giai cấp
đấu tranh, sinh hoạt chính trị, hoạt động khoa học và nghệ thuật, Tóm lại, tất cả
mọi ngành hoạt động trong xã hội đều do người của xã hội tham gia”
(12)
.
Qua đó, Người đã góp phần làm rõ mối quan hệ giữa thế giới quan và vấn
đề cơ bản của triết học: giữa vật chất và ý thức thì cái nào có trước, cái nào có sau,
và cái nào quyết định cái nào? Kế thừa quan điểm của V.I.Lê-nin về lý luận nhận
thức trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán (năm
1908), Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, con người có khả năng nhận thức thế giới;
tức là Người bác bỏ thuyết “bất khả tri”. Theo Người, “hoạt động sản xuất của xã
hội phát triển từng bước, từ thấp đến cao. Vì vậy sự hiểu biết của người ta (về giới
tự nhiên, cũng như về xã hội) cũng phát triển từng bước, từ thấp đến cao, từ cạn
đến sâu, từ một mặt đến toàn diện.
Trước kia, người ta chỉ hiểu một mặt của lịch sử. Đó là vì giai cấp bóc lột
thường làm sai lịch sử của xã hội, lại vì sản xuất hãy còn trong khuôn khổ nhỏ hẹp,
nên nó hạn chế tầm con mắt người ta. Chỉ đến khi có công nghiệp to, sản xuất lớn,
có giai cấp vô sản, sự hiểu biết lịch sử mới phát triển đến toàn diện, sự hiểu biết xã
nhóm người tùy theo điều kiện, hoàn cảnh lịch sử của họ trong quá trình nhận thức
và cải tạo thế giới. Nhưng Người không tuyệt đối hóa tính chất bẩm sinh, thiên phú
của phẩm chất, năng lực cá nhân. Người đấu tranh để “quyét sạch chủ nghĩa cá
nhân”.
Thiện, ác và năng lực cá nhân, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “phần lớn do
giáo dục” mà hình thành; nghĩa là được hình thành chủ yếu từ việc truyền lại, bồi
dưỡng, giáo dưỡng của thế hệ trước, của xã hội. Vì thế, vai trò của các hạng người,
nhất là hạng hăng hái, trung kiên chỉ được phát huy trong sự đoàn kết của các hạng
người, trong sự đoàn kết toàn dân. Bởi lẽ, năng lực nhận thức, cải tạo thế giới của
mỗi cá nhân chỉ là hữu hạn trong sức nhận thức và cải tạo vô hạn của toàn dân.
Đoàn kết để nhận thức và cải tạo thế giới với sự chú ý đúng mức đến phẩm chất,
năng lực sáng tạo của mỗi cá nhân, để hướng năng lực cải tạo thế giới hữu hạn của
cá nhân vào sự sáng tạo vô hạn trong nhận thức và cải tạo thế giới của toàn dân và
để sáng tạo vô hạn của toàn dân được lâu bền, được tiến bộ.
Do đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhấn mạnh chữ “đồng”, như đồng
tình, đồng sức, đồng lòng, đồng bào, đồng minh, đồng chí. Người coi trọng đoàn
kết toàn dân và coi đó là động lực sáng tạo. Nhưng Người không xem “Dân”,
“Nhân dân”, “Toàn dân” là một khối quần chúng đồng nhất, mà là một cộng đồng,
là đồng bào, gồm những người có phẩm chất, năng lực khác nhau trong nhận thức
và cải tạo thế giới; những nhóm người trung kiên, hăng hái khác nhau; các giai cấp,
giai tầng xã hội, các dân tộc khác nhau; đồng bào trong nước, đồng bào ngoài
nước. Cho nên phải chú ý đến những năng lực khác nhau đó trong đoàn kết toàn
dân để nhận thức và cải tạo thế giới. Nếu trái lại, sự đoàn kết sẽ không lâu bền và
không đạt được kết quả tiến bộ trong nhận thức và cải tạo thế giới.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, một nguyên tắc quan trọng là huy động được
các nguồn lực trong dân (tài dân, sức dân và của dân), để nhận thức và cải tạo thế
giới. Chỉ như vậy mới tự chủ, tự lực cánh sinh, sáng tạo trong nhận thức và cải tạo
thế giới. Thông qua đó, mỗi người dân, mỗi cộng đồng và toàn dân, thực sự là
người sáng tạo và phát huy được năng lực nhận thức và cải tạo thế giới của mình.
Cuối cùng, theo Người, một nguyên tắc có tính mục tiêu là phải hướng mọi