Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội
Khoa Lý luận chính trị và xã hội Chuyên đề: xã hội hóa
Bộ môn: Xã hội học đại cương II Nhóm thực hiện: Nhóm I
Nhận xét:
1. Nội dung thể hiện đúng yếu cầu, tuy nhiên:
2. Lỗi chính tả
3. Sắp xếp lộn xộn, chưa hợp lý (các giai đoạn XH hóa của các nhà KH)
Nên sắp xếp: Durkhiem, N. Smeler, J. Fichter, G. Mead, Andreeva,
Freud, Piaget?
4. Sauk hi trinh bày xong phải kết luận
BỘ MÔN
XÃ HỘI HỌC ĐẠI CƯƠNG II
CHUYÊN ĐỀ
XÃ HỘI HÓA CÁ NHÂN
NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
I. Khái niệm xã hội hóa:
1. Khái niệm cá nhân.
2. Những cách hiểu về xã hội hóa.
II. Điều kiện và môi trường xã hội hóa
III. Đặc trưng của quá trình xã hội hóa
IV. Quá trình xã hội hóa
V. Xã hội hóa vai trò
1. Khái niệm
2. Thực hiện các vai trò xã hội
3. Xã hội hóa vai trò
4. Sự xã hội hóa vai trò giới tính
VI. Kết luận
- 1 -
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội
Khoa Lý luận chính trị và xã hội Chuyên đề: xã hội hóa
Bộ môn: Xã hội học đại cương II Nhóm thực hiện: Nhóm I
nhân cách chính là kết quá của quá trình xã hội hóa cá nhân.
b. Bản chất con người:
- 2 -
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội
Khoa Lý luận chính trị và xã hội Chuyên đề: xã hội hóa
Bộ môn: Xã hội học đại cương II Nhóm thực hiện: Nhóm I
Bản chất con người là câu hỏi cho đến nay vẫn còn gây nhiều tranh cãi
đối với các nhà khoa học. Bản chất của con người là những điểm cơ bản,
những đặc tính cố hữu của con người mà nó sẽ thể hiện ra nếu có môi
trường thích hợp. Có hai nhận định về bản chất của con người là nhận định
tự nhiên và nhận định xã hội:
- Một số nhà xã hội học cho rằng bản chất của con người mang tính tư
nhiên, di truyền, có sẵn từ khi con người mới được sinh ra: “Nhân chi sơ,
tính bổn thiện”; “con người là chó sói”.
Tất nhiên, ta cũng phải thừa nhận những yếu tố tự nhiên. Di truyền có
ảnh hưởng ít nhiều đến nhân cách của cá nhân.
- Có quan điểm lại tuyệt đối hóa vai trò của xã hội, quan điểm này cho
rằng con người chỉ có yếu tố xã hội mới là bản chất đích thực, hoàn toàn
phủ nhận vai trò của các yếu tố tự nhiên trong con người. Các đại diện tiêu
biểu cho quan điểm này là A. Ghelenm H. Pletxno, M. Selo: “Con người
xã hội là kẻ sáng tạo ra lịch sử, kẻ sáng tạo ra thế giới văn hóa, vật chất của
mình và theo nghĩa này cũng sáng tạo ra bản thân nó. Chính vì vậy, con
người hoàn toàn mang tính xã hội”.
- Quan điểm nhị nguyên: kết hợp cả hai yếu tố tự nhiên và xã hội, cho
rằng con người có bản chất xã hội nhưng cũng có những tiền đề về mặt tự
nhiên. Tuy nhiên, họ lại tách rời chúng và cho rằng con người có bản chất
lưỡng tính.
Dù con người có bản chất xã hội với những tiền đề tự nhiên nhưng
không đặt chúng trong môi trường xã hội thì cũng không thể có một nhân
cách hoàn chỉnh được. Ví dụ: Một đứa trẻ có khuyết tật về thần kinh hay
khác mà chúng ta gặp phải. Chúng ta như những cá nhân được xã hội cụ thể,
mà trong đó chúng ta đang sống và nhóm xã hội mà chúng ta là những thành
viên, nhào nặn.
Khái niệm xã hội hóa hiện nay được dùng với hai nội dung chính là: xã
hội truyền lại những gì cho mỗi cá nhân trong xã hội và tạo ra nhân cách của
họ ra sao? Cá nhân thể hiện vai trò của mình đối với xã hội và hòa nhập vào
xã hội như thế nào? Hiện nay, có nhiều quan niệm về xã hội hóa khác nhau
do xuất phát từ cách nhìn nhận bản chất con người khác nhau. Tuy nhiên, có
hai cách hiểu cơ bản sau đây:
- Thứ nhất: không đề cập đến tính chủ động sáng tạo của cá nhân trong
quá trình thu nhận kinh nghiệm xã hội.
Các cá nhân dường như bị gò vào các chuẩn mực, khuôn mẫu mà
không chống đối lại được. Nói cách khác, một cá nhân được xã hội mặc
cho một “chiếc áo văn hóa” phù hợp với từng nơi, từng thời điểm, giai
đoạn của cuộc sống nhưng cá nhân không có quyền tự lựa chọn cho mình.
Ví như thuyết X cho rằng hầu hết mọi người đều thích bị chỉ huy nhiều
hơn chứ không muốn gánh vác trách nhiệm, muốn an phận là trên hết. Với
triết lý này, con người bị thúc đẩy bởi tiền bạc, bổng lộc và sự đe dọa trừng
phạt. Do vậy, ông chủ chủ trương giám sát chặt con người bằng các quy
định. Còn các nhà triết học cổ phương Đông cho rằng, con người bản chất
là tham lam, độc ác và tàn bạo “nhân chi sơ, tính bản ác”; từ quan niệm đó,
họ cho rằng phải giám sát chặt con người bằng các quy định của xã hội.
- Thứ hai: khẳng định tính tích cực sáng tạo, chủ động của cá nhân
trong quá trình xã hội hóa:
- 4 -
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội
Khoa Lý luận chính trị và xã hội Chuyên đề: xã hội hóa
Bộ môn: Xã hội học đại cương II Nhóm thực hiện: Nhóm I
Cá nhân không chỉ tiếp thu những kinh nghiệm xã hội mà còn tham
gia vào quá trình tạo ra các kinh nghiệm xã hội. Ví như thuyết Y cho rằng,
chất xã hội và tiền đề tự nhiên phù hợp, con người không thể trở thành một
nhân cách hoàn thiện nếu không được đặt trong môi trường thích hợp. Môi
trường xã hội hóa chính là vườn ươm của nhân cách và đây cũng chính là
ngả đường mở rộng để các kinh nghiệm xã hội có thể đến với các cá nhân.
Có nhiều cách phân loại khác nhau về môi trường xã hội hóa. Tuy nhiên,
có bốn môi trường xã hội hóa cơ bản:
- Môi trường đầu tiên và là môi trường quan trọng nhất, đó là gia đình.
Gia đình hầu như là nhóm xã hội đầu tiên mà mỗi cá nhân trong mọi
xã hội thường phải phụ thuộc vào, do đó, gia đình là một môi trường xã hội
hóa có tầm quan trọng rất lớn.
Mỗi con người từ khi sinh ra cho đến khi chết đi đều gắn với một gia
đình cụ thể. Gia đình là khuôn khổ cần thiết cho sự phát triển của đứa trẻ,
làm cho sự trưởng thành sinh học và những mối liên hệ của nó phù hợp với
môi trường. Trong mỗi gia đình đều có một tiểu văn hóa, tiểu văn hóa này
được xây dựng trên nền tảng của văn hóa chung nhưng với đặc thù riêng
của từng gia đình. Các tiểu văn hóa này được tạo thành bởi nền giáo dục
gia đình, truyền thống, lối sống, Các cá nhân sẽ tiếp nhận những đặc điểm
của tiểu văn hóa này. Những kinh nghiệm sống, các quy tắc ứng xử, các
giá trị đầu tiên con người dược nhận chính ta từ các thành viên trong gia
đình.
Sau khi lớn lên, xây dựng gia đình, những đứa trẻ trước kia lại tạo ra
một gia đình mới, một tiểu văn hóa mới có đặc trưng của riêng nó, đó là sự
pha trộn giữa văn hóa chung của xã hội, tiểu văn hóa gia đình bố mẹ và sự
sáng tạo của chính người tạo dựng văn hóa mới. Như vậy, những cặp vợ
chồng mới tiếp nhận các giá trị mới, khuôn mẫu mới và thực hiện tiếp quá
trình xã hội hóa thế hệ mới.
- Nhà trường :
- 6 -
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội
Khoa Lý luận chính trị và xã hội Chuyên đề: xã hội hóa
cáo Các sản phẩm của truyền thông đại chúng đã trở thành một phần liên
kết với sinh hoạt hàng ngày của đại đa số các thành viên trong xã hội. Nó
chiếm tỉ lệ đáng kể thời gian rảnh rỗi của mọi người, và cung cấp cho mọi
người bức tranh về hiện thực xã hội trong phạm vi to lớn. Với mức phổ
biến rộng lớn như vậy, ngành truyền thông tạo nên những môi giới xã hội
hóa có tính chất chiến lược. Như Golding đã nói: “Ngành truyền thông là
trung tâm trong việc cung cấp những ý tưởng và hình ảnh mà con người sử
dụng để giải thích và hiểu một số lớn kinh nghiệm hàng ngày của họ”. Đặc
biệt hơn, chúng tiêu biểu cho một số kênh được thiết chế hóa để phân phối
- 7 -
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội
Khoa Lý luận chính trị và xã hội Chuyên đề: xã hội hóa
Bộ môn: Xã hội học đại cương II Nhóm thực hiện: Nhóm I
tri thức xã hội và do đó, nó tiêu biểu cho một công cụ mạnh mẽ của kiểm
soát xã hội.
Vẫn biết những gì truyền tải là những gì được tiếp nhận; nhưng không
phải cái gì con người cũng tiếp thu được và hiểu nó một cách đúng đắn. Do
đó, những trường hợp bắt chước chúng ta có thể thấy nó diễn ra thường
xuyên. Ví dụ như, khi một người đàn ông đọc cuốn tiểu thuyết trinh thám
của một tác gia nổi tiếng; anh ta đã học cách hành động giống y như cuốn
sách đó: giết người, tạo hiện trường giả, qua mặt cảnh sát và dường anh ta
nghĩ mình chính là nhân vật bước ra từ cuốn sách đó. Đó là những hệ quả
tiêu cực của truyền hình đến xã hội hóa mà ta cần phải chọn lọc để tránh
truyền tải đến trẻ.
- 8 -
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội
Khoa Lý luận chính trị và xã hội Chuyên đề: xã hội hóa
Bộ môn: Xã hội học đại cương II Nhóm thực hiện: Nhóm I
III. ĐẶC TRƯNG CỦA QUÁ TRÌNH XÃ HỘI HÓA:
- Quá trình xã hội hóa là quá trình chủ động, vừa có tính chất tự nhiên,
Bộ môn: Xã hội học đại cương II Nhóm thực hiện: Nhóm I
V. XÃ HỘI HÓA VAI TRÒ :
1. Khái niệm:
Vị trí xã hội: vị trí xã hội của các cá nhân chính là vị trí tương đối của cá
nhan trong cấu trúc xã hội, trong hệ thống quan hệ xã hội. Nó được xác định
trong sự đối chiếu và so sánh với vị trí xã hội khác. Sự tồn tại vị trí xã hội
của các cá nhân phụ thuộc chủ yế vào sự tồn tại của các vị trí khác tùy thuộc
theo các mối quan hệ. Và vì thế, mỗi cá nhân có nhiều vì trí xã hội khác
nhau.
Vị thế xã hội: vị thế xã hội của mỗi cá nhân chính là địa vị và thứ bậc của
các nhân, trong đó cơ cấu tổ chức xã hội được xã hội thừa nhận ở từng thời
kỳ nhất định. Vị thế xã hội thể hiện qua ba đặc trưng cơ bản của nó là quyền
lực xã hội, quyền lợi và trách nhiệm
Vai trò xã hội: vai trò xã hội là mô hình hành vi xã hội được xác lập một
cách khách quan căn cứ vào đòi hỏi của xã hội đối với từng vị trí, vị thế nhất
định để thực hiện quyền hạn và trách nhiệm tương ứng với các vị trí, vị thế
đó. Như vậy, vai trò xã hội thể hiện những đòi hỏi của xã hội đối với các vị
thế xã hội.
Kết quả của xã hội hóa là tạo ra nhân cách của mỗi con người trong xã
hội. Mỗi thế hệ trải qua các giai đoạn nhất định của xã hội hóa mà đạt được
khả năng, năng lực hoạt động để thể hiện vai trò của chính mình trong xã
hội. Trong xã hội hiện đại ngày nay, hoàn thiện nhân cách của con người là
cả một quá trình dài suốt cuộc đời của người ấy. Sự hoàn thiện nhân cách đó
phụ thuộc vào quá trình giáo dục xã hội. Chúng ta thấy rằng, xã hội hóa
chuẩn bị cho mọi người những vai trò và ngược lại, những vai trò ấy định
hình sự xã hội hóa. Theo quan điểm này của Kohn, chúng ta sẽ bắt đầu xem
xét chi tiết hơn việc con người hướng về việc thực hiện các vai trò xã hội
như thế nào. Từ đó, chúng ta sẽ tìm hiểu cặn kẽ xã hội hóa chuyên biệt – xã
hội hóa có liên quan tới các vai trò và những kì vọng về vai trò. Chúng ta sẽ
gắn kết những vai trò và các quá trình xã hội hóa chuyện biệt với sự phát
ra, đôi khi chúng ta thực hiện vai trò cuả mình một cách không thuyết phục,
mất uy tín, không thuần thục, đáng chê trách hoặc thậm chí lệch chuẩn.
Goffman cũng chỉ ra rằng, các vai trò trong cuộc sống như những vai trò
đó trong nhà hát, có cả hai sân khấu và hậu trường. Những người hầu bàn ở
trong một nhà hàng, ví dụ thực hiện vai trò sân khấu đối với khách ăn và
thực hiện vai trò hậu trường trong bếp, nơi chỉ có các đầu bếp và những
người hầu bàn khác thấy họ. Các giáo sư hoạt động ngoài các vai trò có phần
khác nhau giữa lúc họ tán gẫu với sinh viên trong hội trường với lúc họ đứng
trước lớp.
Ngoài ra, công việc phối hợp trong nhóm cũng thường bao hàm sự thực
hiện vai trò một cách đầy đủ. Ví dụ, người chồng và người vợ tổ chức một
bữa tiệc sẽ thường xuyên nhắc nhở những người khác đóng vai trò của họ.
Hơn nữa, việc thực hiện vai trò có kết quả đòi hỏi những người khác cùng
đóng vai. Một người phục vụ không thể đóng hết vai của cô ta nếu như ông
- 11 -
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội
Khoa Lý luận chính trị và xã hội Chuyên đề: xã hội hóa
Bộ môn: Xã hội học đại cương II Nhóm thực hiện: Nhóm I
chủ bắt đầu chửi thề, ném đĩa của ông ta xuống nền, vượt ra ngoài vai trò
thích hợp của ông ta. Tương tự, bố mẹ không thể mắng con cái một cách
thuyết phục được nếu những bậc cha mẹ khác cười xòa trước những cư xử
xấu của con.
3. Xã hội hóa vai trò:
Chúng ta biết rằng, trong các xã hội, không phải tất cả cá trẻ em đều được
nuôi dưỡng theo cách giống nhau. Margaret Mead đã tiến hành một chuyến
đi tới New Guinea để chứng minh: văn hóa là “sự hiển nhiên của cá tính” và
vai trò giới tính hầu như có thể thể hiện dưới bất kì một hình thức nào. Mead
đã tuến hành tìm kiếm và khám phá một bộ lạc mà trong đó cả hai giới nam
và nữ phát triển có tính khí “phụ nữ” và trong một bộ lạc khác cả hai giới có
những tính khí “đàn ông” – đó là hai bộ lạc Arapesh và Mundugumor. Tất cả
được xã hội hóa như thế nào?
Minh họa cho điểm này, chúng ta sẽ kiểm tra sự xã hội hóa khác nhau
của hai anh em được sinh ra tại Anh vào cuối thế kỉ XIX. Từ khi sinh, người
con trai cả là người thừa kế hợp pháp tước vị của bố anh ta là lãnh chúa
Buncombe và vùng đất của gia đình: 2000 mẫu Anh đất canh tác và đồi
Buncombe, trang viên 18 phòng theo kiến trúc Gotich. Người em không có
quyền thừa kế tước vị và đất đai. Nhiều nhất, anh ta có thể hy vọng được
thừa kế một khoản tiền khiêm tốn. Từ khi sinh ra, các cậu bé đã được định
đoạt sẵn số phận và con đường mà các cậu phải đi. Người con trai lớn được
học tất cả những gì cần thiết để chuẩn bị cho việc kế thừa của cậu sau này,
còn cậu con trai bé bị bỏ ra ngoài phần lớn các hoạt động của gia đình. Cậu
chỉ cần nhớ rằng cậu cũng sẽ phải chọn cho mình một nghề nghiệp phù hợp
với địa vị của cậu: làm trong quân đội hay phục vụ nhà. Cuối cùng, cậu bé bị
quyết định phải trở thành một linh mục của nhà thờ Anglican. Đến độ tuổi
thích hợp, hai cậu bé đều được gửi tới một trường nội trú nổi tiếng. Khi
trưởng thành, người anh trở nên tự tin, và được nhiều người đánh giá là một
nhà lãnh đạo bẩm sinh, một ông vua của thể thao. Trong khi đó, người em
trưởng thành hay nhút nhát, xấu hổ, ghét tiếp xúc,… Khi lập gia thất, người
anh trai cho đến 40 tuổi mới ổn định được cuộc sống gia đình của mình; còn
người em cưới vợ từ năm 25 tuổi và nhanh chóng có một gia đình lớn. Khi
trở thành người cha, người em là một vị linh mục hòa nhã, dễ thỏa mãn, đối
xử với các cậu con trai của mình ngang nhau. Ngược lại, người anh, vị lãnh
chúa đã nhanh chóng đưa cậu con trai lớn của mình đi thăm những người
thuê đất, chuẩn bị cho tương lai của cậu ta; và đưa đứa con bé vào quân đội.
Đây là một trường hợp kinh điển của sự xã hội hóa khác nhau, đặt cơ sở cho
những mong muốn khác nhau về vai trò mà trẻ em sẽ đảm nhận. Cũng lưu ý
rằng, mỗi anh em được xã hội hóa có phần khác nhau để thực hiện một vài
vai trò giống nhau. Vai trò của người cha mang một nét khác khi nó được
kết hợp với vai trò của một linh mục Anglican thay cho vai trò một lãnh
chúa. Trên thực tế, vai trò của người chồng cũng có phần nào khác nhau. Sự
phạm vi mà một nền văn minh hóa định nghĩa các vai trò như sự khác biệt
nhất định, các cha mẹ sẽ nuôi dạy những đứa con trai và con gái của mình ra
sao để chúng trở nên khác nhau. Ngoài ra, những cậu con trai và những cô
con gái sẽ trưởng thành mong muốn trở nên khác nhau, và tin rằng những sự
khác nhau đó trong các vai trò giới tính chỉ bình tường, nhưng cần thiết. Ví
dụ: nếu một xã hội tưởng tượng các vai trò giới tính để đàn ông trở nên hiếu
chiến, đàn bà trở nên hiền dịu, sau đó phần lớn đàn ông và đàn bà trong xã
hội sẽ cố gắng sống theo các chuẩn mực đó.
Xã hội hóa vai trò giới là sự đối xứng. Các cậu bé và cô bé được nuôi
dưỡng không chỉ để trở thành đàn ông và đàn bà mà còn để có những hy
vọng tương tự về đàn ông và đàn bà được ủng hộ để hành động và chứng
kiến cuộc sống như thế nào.
Từ những ngày đầu tiên của cuộc sống, một đứa trẻ sơ sinh không đơn
giản là một đứa trẻ mà là một cậu bé hoặc một cô bé. Các cậu bé có những
cái chăn màu xanh trong khi các cô bé có những cái màu hồng. Các cậu bé
được đặt tên riêng là Buck và Butch; trong khi các cô bé được gọi là Honey
hoặc Sweetie. Không ngạc nhiên, một điều đầu tiên đứa trẻ học là anh ấy là
- 14 -
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội
Khoa Lý luận chính trị và xã hội Chuyên đề: xã hội hóa
Bộ môn: Xã hội học đại cương II Nhóm thực hiện: Nhóm I
“anh ấy” và cô ấy là “cô ấy”. Và từ đồ tuổi rất sớm, trẻ em đã đánh dấu
những sở thích đặc trưng giới, ví dụ các hoạt động và các đồ chơi kiểu giới
tính.
Điều này xảy ra như thế nào? Có phải các cậu bé con đã được lập chương
trình sẵn bởi sinh học của chúng để thích chơi các khẩu súng và những xe tải
đạn đồ chơi hơn; trong khi các cô bé con có thiên hướng sinh học cho các
buổi tiệc không? Có nhiều điều mà họ phải học, do đó, quan tâm của chúng
ta là phải hướng tới ai đang xã hội hóa trẻ em và xã hội hóa như thế nào. Đó
chính là điều mà chúng ta cần phải tìm thấy được từ cuộc sống của mình.
nhiều thiếu sót và hạn chế, mong thầy cô giáo đóng góp ý kiến sửa chữa để
bài viết được hoàn chỉnh hơn!
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã giúp đỡ chúng em hoàn
thành bài viết này!
- 16 -
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội
Khoa Lý luận chính trị và xã hội Chuyên đề: xã hội hóa
Bộ môn: Xã hội học đại cương II Nhóm thực hiện: Nhóm I
- 17 -