TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại
THỰC TRẠNG THÂM HỤT CÁN CÂN THƯƠNG
MẠI CỦA VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
Họ và tên sinh viên : Nguyễn Thanh Long
Mã sinh viên : 0851010651
Lớp : Anh 15 - Khối 7 KT
Khóa : 47
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Xuân Nữ
Hà Nội, tháng 6 năm 2012
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
ASEAN Chinese Yuan Nhân dân tệ
CCTM South Korean won Won Hàn Quốc
CNY United States dollar Đô la Mỹ
EU Vietnam dong Việt Nam đồng
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTA Free-trade agreement Hiệp định thương mại tự do
GDP World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
IMF Balance trade Cán cân thương mại
KRW Export Xuất khẩu
NHNN Import Nhập khẩu
NK Gross domestic product Tổng sản phẩm trong nước
ODA State bank Ngân hàng nhà nước
khắc phục thâm hụt cán cân thương mại, em đã chọn đề tài “Thực trạng thâm hụt
cán cân thương mại của Việt Nam và giải pháp khắc phục.” làm đề tài khóa luận
tôt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng
cán cân thương mại Việt Nam để từ đó đề xuất một số giải pháp cải thiện cán cân
thương mại Việt Nam.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
5
Để đạt được mục đích đã nêu ở phần trên, tác giả sẽ lần lượt nghiên cứu các
vấn đề:
- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về cán cân thương mại và cân bằng cán
cân thương mại
- Phân tích thực trạng cán cân thương mại Việt Nam, các nhân tố ảnh hưởng
và nguyên nhân của thực trạng đó
- Đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện cán cân thương mại của Việt Nam
trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu : Cán cân thương mại Việt Nam và các yếu tố liên
quan.
- Phạm vi nghiên cứu : Khóa luận tập trung nghiên cứu thực trạng cán cân
thương mại hàng hóa Việt Nam trong thời gian từ năm 1995 đến quý I/2012, đồng
thời đưa ra một số đề xuất về các giải pháp cải thiện cán cân thương mại Việt Nam
đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Dựa trên cơ sở lý luận cơ bản về kinh tế học, các lý thuyết kinh tế vĩ mô và
phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử.
- Khảo sát số liệu thực tế thông qua các báo cáo thống kê, báo cáo tổng kết,
đánh giá kinh tế xã hội, các chuyên đề nghiên cứu về thương mại, hoạt động xuất
nhập khẩu của Việt Nam thời gian qua.
của nền kinh tế ở các thời điểm khác nhau. Chính vì vậy biến động của cán cân
thương mại trong ngắn hạn và dài hạn là cơ sở để các chính phủ điều chỉnh chiến
lược, đường lối, chính sách phát triển kinh tế, quy hoạch, xây dựng các mô hình
phát triển, đưa ra các phương thức công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
8
1.1.2. Các trạng thái cơ bản của cán cân thương mại
• Cán cân thương mại thặng dư
Cán cân thương mại thặng dư (xuất siêu) khi tổng lượng hàng hóa và dịch vụ
của một quốc gia xuất khẩu vượt quá tổng lượng hàng hóa và dịch vụ mà quốc gia
đó nhập khẩu từ nước ngoài về, hay nói cách khác xuất khẩu ròng (mức chênh lệch
của xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) của quốc gia đó lớn hơn 0.
Cán cân thương mại thặng dư cho thấy xuất khẩu tăng trưởng nhanh hơn
nhập khẩu. Khi đó khả năng sản xuất của nền kinh tế là hiệu quả, vì quốc gia đó có
thể sản xuất những sản phẩm, hàng hóa thỏa mãn nhu cầu của khách hàng trong và
ngoài nước.
Cán cân thương mại thặng dư mang lại rất nhiều lợi ích cho quốc gia như:
tăng nguồn thu ngoại tệ từ đó gia tăng dự trữ ngoại hối của quốc gia, tăng GDP, tạo
công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo… do vậy khoản thu ngoại tệ từ việc xuất siêu
góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế của đất nước thông qua việc tích lũy
của cải, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế. Có thế nói, việc thặng dư cán cân
thương mại là một dấu hiệu tích cực với bất kì quốc gia nào trong tiến trình phát
triển kinh tế.
Tuy nhiên, một nền kinh tế có thặng dư thương mại luôn duy trì ở mức cao
cũng chưa hẳn là tốt. Khi thặng dư thương mại cao, dự trữ ngoại hối của nước đó sẽ
gia tăng nhanh chóng, điều này gây sức ép lên tỉ giá hối đoái và cán cân thanh toán.
Đồng thời hàng hóa nước có thể cũng phải đối mặt với các biện pháp bảo hộ khắt
khe từ thị trường nước ngoài khi các nước này cho rằng đồng nội tệ đang bị định giá
quá thấp so với giá trị thực để hỗ trợ xuất khẩu (ví dụ điển hình là đồng nhân dân tệ
của Trung Quốc). Việc một nền kinh tế xuất siêu cũng chưa hẳn là nền kinh tế đó
phát triển, điều này có thể thấy rõ qua các ví dụ về các nước Trung đông - các nước
kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, thâm hụt cán cân thương mại chưa hẳn
đã mang lại những kết quả tiêu cực, điều này phụ thuộc vào chu kì kinh tế và các
10
mục tiêu kinh tế mà các chính phủ đang theo đuổi. Ví dụ một nền kinh tế có khả
năng tăng trưởng tốt, hứa hẹn nhiều cơ hội đầu tư với lợi nhuận cao trong tương lại,
nhu cầu nhập khẩu sẽ tăng lên (đặc biệt là máy móc và hàng công nghệ cao), kéo
theo đó cán cân thương mại cũng thâm hụt (nhất là với các nước đang phát triển).
Như vậy nếu có cán cân thương mại có thâm hụt cũng là để tạo tiền đề cho phát
triển kinh tế ở giai đoạn tiếp theo. Thực tiễn đã cho thấy ở một số nước trong tình
trạng thâm hụt cán cân thương mại, nền kinh tế vẫn ổn định và đạt mức tăng trưởng
cao. Vấn đề là thâm hụt cán cân thương mại ở mức nào có thể đảm bảo sức chịu
đựng của cán cân tài khoản vãng lai và nợ nýớc ngoài.
Đối với các nước đang công nghiệp hóa, hiện đại hóa như Việt Nam thì hiếm
khi có thặng dư cán cân thương mại, vì chúng ta vẫn còn yếu kém về cơ chế, chính
sách quản lý xuất nhập khẩu, mặt khác do yêu cầu phát triển kinh tế đòi hỏi phải
nhập khẩu rất nhiều trong khi chất lượng cũng như khả năng cạnh tranh của nền
kinh tế còn hạn chế, do đó mức tăng trưởng xuất khẩu không đủ khả năng bù đắp
thâm hụt thương mại.
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến thâm hụt cán cân thương mại
1.2.1. Các biến số kinh tế
1.2.1.1. Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái (thường được gọi tắt là tỷ giá) là sự so sánh về mặt giá cả
giữa hai đồng tiền của hai nước khác nhau. Cũng có thể nói tỷ giá là giá của một
đồng tiền được biểu hiện bằng một số lượng giá trị của một đồng tiền khác.
Tỷ giá hối đoái là nhân tố rất quan trọng đối với quốc gia, vì nó ảnh hưởng
đến giá tương đối giữa giá hàng hóa sản xuất trong nước với hàng hóa trên thị
trường quốc tế. Khi tỷ giá giảm đồng nội tệ lên giá, hàng hóa sản xuất trong nước sẽ
trở nên đắt tương đối so với hàng hóa trên thị trường quốc tế, dẫn đến xuất khẩu có
xu hướng giảm dần. Trong khi đó danh mục các mặt hàng nhập khẩu có xu hướng
khác, lạm phát cao làm cho nền kinh tế bất ổn định, mất niềm tin của nhà đầu tư,
dẫn đến việc đầu tư nước ngoài vào giảm sút, kéo theo việc giảm xuất khẩu từ khu
vực có vốn đầu tư nước ngoài. Trong khi đó, các mặt hàng nhập khẩu cũng trở nên
12
đắt đỏ hơn, nguồn ngoại tệ thu từ xuất khẩu không đủ bù đắp cho nhập khẩu. Kết
quả là cán cân thương mại bị thâm hụt.
1.2.1.3. Lãi suất
Một trong những yếu tố quan trọng khác tác động đến cán cân thương mại là
lãi suất vay ngân hàng. Vốn vay ngân hàng là một nguồn cung ứng vốn lớn cho các
dự án, các doanh nghiệp, các hộ sản xuất,… kể cả các doanh nghiệp đầu tư nước
ngoài. Lãi suất tăng sẽ làm cho chi phí vốn của các dự án tăng, dẫn đến giảm hiệu
quả của việc sản xuất kinh doanh, sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu cũng cũng
bị suy giảm, gây ảnh hưởng xấu đến cán cân thương mại. Mặt khác, khi lãi suất
tăng, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ có xu hướng chuyển sang đầu tư tại các thị
trường có mức lãi suất có lợi cho mình hơn. Điều này làm cản trở việc phát triển sản
xuất, kinh doanh nên cũng ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu. Vì vậy cán cân
thương mại cũng chịu nhiều biến động.
1.2.1.4. Thu nhập quốc dân trong và ngoài nước
Cán cân thương mại tỷ lệ nghịch với thu nhập trong nước: Khi thu nhập
trung bình của người dân trong một quốc gia tăng lên sẽ kéo theo nhu cầu chi tiêu
tăng lên, nhu cầu về hàng hóa xa xỉ cũng tăng lên, xuất hiện thêm các nhu cầu mới.
Đi kèm với nó là nhu cầu nhập khẩu cũng gia tăng tác động tiêu cực đến cán cân
thương mại. Trong khi đó, thu nhập của người dân nước ngoài tăng, nhu cầu về
hàng hóa sẽ tăng lên, xuất khẩu được khuyến khích, tạo điều kiện cải thiện cán cân
thương mại. Điều này có nghĩa là thu nhập nước ngoài tỷ lệ thuận với cán cân
thương mại.
Ngược lại, khi thu nhập trong nước giảm, nhu cầu tiêu dùng của người dân
cũng giảm theo, việc nhập khẩu cũng theo đó mà suy giảm kéo theo sự cải thiện của
cán cân thương mại. Còn thu nhập nước ngoài giảm sẽ kéo theo việc xuất khẩu
giảm, làm xấu đi cán cân thương mại.
14
Chính sách bảo hộ thương mại làm giảm lượng hàng hóa nhập khẩu từ đó có
thể giúp cải thiện cán cân thương mại của quốc gia. Tuy nhiên, khi quốc gia áp dụng
chính sách này có thể phải nhận sự trả đũa từ các nước đối tác, gây ảnh hưởng xấu
tới hoạt động xuất khẩu. Việc giảm đồng thời cả nhập khẩu và xuất khẩu có thể
không ảnh hưởng gì đến cán cân thương mại quốc gia.
• Xu hướng tự do hóa thương mại:
Tự do hóa thương mại là quá trình nhà nước dần gỡ bỏ các hàng rào thuế
quan và phi thuế quan của một quốc gia giúp hàng hóa di chuyển qua biên giới các
nước thuận lợi hơn. Đồng thời từng bước đưa vào thực hiện các chính sách, biện
pháp quản lý như quy định về tiêu chuẩn kĩ thuật, chính sách chống bán phá giá,
đảm bảo cạnh tranh, chống độc quyền, chính sách đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ,
thương hiệu hàng hóa theo các hiệp định đã kí kết và theo chuẩn mực chung của thế
giới.
Chính sách tự do hóa thương mại tạo ra môi trường cạnh tranh tốt hơn cũng
như sự bình đẳng hơn giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước, là động lực quan
trọng để các doanh nghiệp trong nước không ngừng nỗ lực nâng cao trình độ về
công nghệ, lao động nếu muốn nâng cao khả năng cạnh tranh để tồn tại trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế. Nhờ đó năng lực sản xuất và kinh doanh xuất nhập
khẩu cũng hiệu quả hơn góp phần gia tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước, cải
thiện cán cân thương mại. Hơn nữa chính sách tự do hóa thương mại cũng giúp
hàng hóa dễ dàng thâm nhập thị trường nước ngoài hơn, mở rộng thị trường và cơ
cấu hàng hóa xuất nhập khẩu.
Hai xu hướng này không bao giờ được thực hiện một cách triệt để hoàn toàn,
mà thường được kết hợp với nhau trong quá trình xây dựng chính sách thương mại
quốc tế của mỗi quốc gia. Trong đó xu hướng bảo hộ mậu dịch được điều chỉnh
giảm dần đồng thời xu hướng tự do hóa ngày càng được tăng cường.
1.2.2.2. Chính sách quản lý ngoại hối
Chính sách quản lý ngoại hối là một bộ phận của chính sách tiền tệ quốc gia,
một trong những công cụ quan trọng trong việc điều tiết vĩ mô của nhà nước. Nó
16
hàng thay thế nhập khẩu, các nguyên phụ liệu đầu vào, công nghiệp phụ trợ một
cách hiệu quả không chỉ giúp giảm nhập khẩu mà còn giúp tăng khả năng cạnh
tranh về giá cho các mặt hàng xuất khẩu sản xuất ra, giúp các doanh nghiệp xuất
khẩu chủ động nguyên liệu sản xuất, từ đó mở rộng việc kinh doanh xuất khẩu.
Không chỉ đáp ứng nhu cầu nội địa, FDI còn góp phần thúc đẩy xuất khẩu, sự xuất
hiện của các doanh nghiệp FDI với công nghệ tiên tiến giúp các nước nâng cao chất
lượng và đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu. Bên cạnh đó thông qua quan hệ, hệ
thống phân phối sẵn có của các nhà đầu tư nước ngoài, hàng hóa trong nước tiếp
cận các thị trường mới dễ dàng hơn, thị trường mở rộng hơn. Tuy nhiên trong giai
đoạn đầu khi đầu tư nước ngoài tăng, sẽ dẫn tới nhập khẩu tăng (đặc biệt là các
nước đang phát triển) do việc nhập khẩu máy móc công nghệ tăng. Tuy nhiên việc
nhập khẩu máy móc công nghệ lại tạo tiền đề cho sản xuất sau này. FDI vừa có tác
động tốt đến việc cải thiện năng lực xuất khẩu, vừa tác động tốt đến việc mở rộng
thị trường xuất khẩu cho các nước nhận đầu tư. Nguồn thu ngoại tệ từ FDI đóng góp
rất lớn vào việc cải thiện cán cân thương mại quốc tế.
Thêm vào đó, việc gia tăng các nguồn thu nhập chuyển giao từ nước ngoài
như viện trợ, thu nhập ròng từ các dự án đầu tư nước ngoài, kiều hối cũng có tác
dụng rất tốt trong việc bù đắp thâm hụt cán cân thương mại hàng hóa.
1.3. Ảnh hưởng của thâm hụt cán cân thương mại đến nền kinh tế quốc dân
Cán cân thương mại đóng vai trò quan trọng trong biểu đồ kinh tế của một
quốc gia. Cán cân thương mại phần nào phản ánh sức khỏe của nền kinh tế và tác
động không nhỏ tới các yếu tố kinh tế vĩ mô cũng như vi mô. Thâm hụt cán cân
thương mại ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế là một vấn đề được rất nhiều
nhà quản lý chính sách phân tích và nghiên cứu.
Thâm hụt cán cân thương mại trong ngắn hạn, đối với những nước đang phát
triển có những tác động tích cực đến đến nền kinh tế. Các nước đang phát triển bắt
đầu thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, công nghệ còn lạc hậu hơn
rất nhiều so với thế giới, nguyên liệu sản xuất thiếu thốn. Vì vậy, cần phải nhập một
lượng lớn máy móc, thiết bị kỹ thuật, nguyên liệu để phục vụ cho sản xuất. Thâm
18
nội tệ cũng như vào các chính sách điều hành vĩ mô của nhà nước, dẫn đến dễ xảy
ra khủng hoảng kinh tế.
Thâm hụt cán cân thương mại còn ảnh hưởng đến cán cân thanh toán của
nước đó. Đối với các nước đang phát triển, khi mà xuất khẩu dịch vụ còn chiếm tỷ
trọng nhỏ bé trong tổng kim ngạch xuất khẩu và các khoản chuyển giao còn chưa
đáng kể, thì sự thâm hụt cán cân thương mại quyết định tình trạng của cán cân vãng
lai. Người ta thường sử dụng các chỉ tiêu như tỷ lệ giữa giá trị xuất khẩu và thu
nhập quốc dân, chỉ số nợ trên xuất khẩu, tỷ lệ tăng trưởng nhập khẩu trên tăng
trưởng xuất khẩu, tỷ lệ mức lãi suất trả nợ trên mức tãng xuất khẩu để đánh giá khả
năng chịu đựng của cán cân vãng lai. Nếu như, chỉ số nợ trên xuất khẩu của một
nước giảm dần theo thời gian phản ánh sự cải thiện của cán cân tài khoản vãng lai.
Ngược lại, nếu chỉ số đó có xu hướng tăng thì tình trạng cán cân vãng lai đang xấu
đi. Would Bank đưa ra chỉ số tuyệt đối là nếu chỉ số nợ lớn hơn 275% thì tại thời
điểm đó một nước đang trong tình trạng khủng hoảng nợ. Hoặc nếu mức tăng xuất
khẩu của một nước lớn hơn mức lãi suất trả nợ, nước đó có khả năng thanh toán các
khoản nợ mà không ảnh hưởng đến phát triển kinh tế.
Thân hụt cán cân thương mại sẽ ảnh hưởng đến GDP: theo phương pháp sản
phẩm, GDP được tính theo công thức sau:
GDP= C + I+ G + NX
Trong đó, GDP : tổng thu nhập quốc nội.
C: Tiêu dùng
I: Đầu tư
G: Chi tiêu chính phủ
NX: Xuất khẩu ròng.
Khi các yếu tố khác không thay đổi mà xuất khẩu ròng giảm xuống sẽ làm
GDP giảm theo. Vì vậy, nếu thâm hụt cán cân thương mại kéo dài sẽ làm cho mức
19
độ trầm trọng mà đầu tư, chi tiêu chính phủ, tiêu dùng không bù đắp nổi sẽ làm tăng
trưởng GDP bị ảnh hưởng.
Đến năm 1996, cán cân thương mại của Thái Lan đã bị thâm hụt nghiêm
trọng với trị giá nhập siêu lên tới 16,1 tỷ USD. Trước tình hình tăng trưởng kinh tế
quá nóng IMF đã đưa ra lời cảnh báo rằng nền kinh tế Thái Lan có thể rơi vào
khủng hoảng, và điều đó đã xảy ra. Năm 1997, khủng hoảng tài chính đã xảy ra ở
Thái Lan và nhanh chóng lan rộng ra các nước trong khu vực. Trong 3 năm kể từ
khi khủng hoảng kinh tế xảy ra, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thái Lan suy giảm
nghiêm trọng, đặc biệt là năm 2008, tốc độ tăng trưởng kinh tế là âm 2,2%. Tốc độ
giảm sút của kim ngạch nhập khẩu năm 1998 (33,7% so với năm 1997) cao hơn rất
nhiều so với tốc độ giảm sút của kim ngạch xuất khẩu (6,7%). Vì vậy mà năm 1998,
Thái Lan lần đầu tiên đạt thặng dư cán cân thương mại 12,2 tỷ USD. Kể từ năm
1998 đến nay, ngoại trừ năm 2005 thì cán cân thương mại của Thái Lan luôn trong
trạng thái thặng dư. Để có được những thành quả này là nhờ vào các biện pháp khá
hữu hiệu của Chính phủ Thái Lan.
Đầu tiên phải kể đến là chính sách tỷ giá hối đoái khi Thái Lan đã phá giá
đồng Balt. Trước những năm khủng hoảng, Thái Lan đã duy trì một mức tỷ giá hối
đoái gần như cố định, neo đồng Balt vào đồng USD là 25 Balt/USD, đồng Balt bị
đánh giá cao so với USD và các đồng tiền khác. Nền kinh tế của Thái Lan lại bị phụ
thuộc khá lớn vào nền kinh tế của Hoa Kỳ và Nhật Bản, do vậy bất cứ sự bất ổn nào
của đồng Đô la Mỹ và đồng Yên Nhật cũng ảnh hưởng đến tình hình xuất nhập
khẩu của Thái Lan. Do tình trạng thâm hụt kéo dài đã khiến áp lực giảm giá đồng
Balt ngày càng tăng, dẫn đến nhu cầu ngoại tệ tăng đột biến mặc dù rằng Chính phủ
đã bán ra gần 15 tỷ USD trong gần 40 tỷ dự trữ ngoại hối nhưng đồng Balt vẫn bị
phá giá. Sự ép phá giá đồng nội tệ gia tăng nghiêm trọng, vượt ra ngoài khả năng
chịu đựng của quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia buộc Thái Lan phải thả nổi đồng Balt
vào ngày 2/7/1997. Ngay lập tức tỷ giá THB/USD tăng lên là 28,8, tăng 17% so với
trước. Sau khi phá giá, đồng Balt liên tiếp bị giảm giá, tình trạng kinh tế sa sút trầm
trọng. Song việc phá giá đồng Balt đã đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, cải
thiện cán cân thương mại. Chỉ trong vòng 16 tháng cán cân thương mại đã đạt đến
21
trạng thái thặng dư. Như vậy, phá giá tiền tệ đã mang lại một kết quả tốt cho cán cân
cân thương mại của Hàn Quốc được chia thành các giai đoạn sau:
Giai đoạn 1961 – 1971: cuộc nội chiến 1950 – 1953 đẩy Hàn Quốc vào vòng
xoáy của nghèo đói, siêu lạm phát và thất nghiệp. Từ năm 1962 – 1966, Hàn Quốc
bắt tay vào thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất để cải thiện cán cân thương mại,
Tổng thống Hàn Quốc Park Chung Hee đã tiến hành thay đổi chiến lược phát triển
kinh tế hướng nội trước đó sang chiến lược công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu
(Export Oriented Industrialization – EOI) thông qua nhiều chính sách can thiệp vào
phát triển các ngành công nghiệp chính là các ngành xi măng, phân bón hóa học, sợi
tổng hợp và các ngành đảm bảo tự cung tự cấp lương thực thực phẩm, trong đó xuất
khẩu được đặt lên hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế. Nhờ đó, giá trị xuất
khẩu trung bình đạt 384 triệu USD (tốc độ tăng bình quân là 38,2%), giá trị nhập
khẩu trung bình đạt 960 triệu USD ( tốc độ tăng bình quân là 21,7%), giá trị thâm
hụt cán cân thương mại trung bình là 567 triệu, tỷ lệ thâm hụt giá trị xuất khẩu trên
giá trị nhập khẩu bình quân là 262%. Tốc độ tăng bình quân của xuất khẩu lớn hơn
nhập khẩu và tốc độ thâm hụt cán cân thương mại giảm dần qua các năm cho thấy
sự chuyển biến tích cực trong trạng thái cán cân thương mại Hàn Quốc do Chính
phủ đề ra kế hoạch phát triển kinh tế hướng ra xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu hiệu
quả.
Giai đoạn 1972 – 1979: trong giai đoạn này, lợi thế cạnh tranh trên thị trường
thế giới giảm mạnh vì vậy mà Hàn Quốc đã tập trung vào phát triển các ngành công
nghiệp hóa chất và công nghiệp nặng nhằm vào các ngành then chốt : sắt và thép,
kim loại màu, chế tạo máy, điện tử và hóa chất nền cần nhập khẩu nhiều máy móc
thiết bị và nguyên liệu với giá trị lớn. Do đó, mức thâm hịt cán cân thương mại bình
quân lại cấp gấp đôi giai đoạn trước nhưng tỷ lệ thâm hụt trong giá trị xuất khẩu lại
giảm đi đáng kể từ mức 262% giai đoạn trước xuống còn 23%.
Giai đoạn 1980 – 1996: tình trạng thâm hụt cán cân thương mại trong thời kỳ
đầu những năm 80 có xu hướng giảm và có thặng dư từ năm 1986 – 1989, song
sang đầu thập kỷ 90 tình trạng thâm hụt cán cân thương mại lại quay trở lại với giá
trị thâm hụt lớn hơn. Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ châu Á năm 1997
23
thương mại lớn và các chính sách đối nội. Tác động giảm giá trong thời kỳ này đã
làm giảm thâm hụt cán cân thương mại Hàn Quốc rõ rệt.
Thứ hai là chính sách đầu tư: Hàn Quốc phát triển các ngành công nghiệp
mũi nhọn: chính phủ đã đề ra kế hoạch phát triển công nghiệp nặng và hóa chất
nhằm vào các công nghiệp then chốt: sắt và thép, kim loại màu, chế tạo máy, điện tử
và hóa chất. Tạo lập môi trường kinh tế, hỗ trợ hành chính, xây dựng chính sách
khoa học công nghệ Science và Technology để phát triển các ngành công nghiệp
mũi nhọn trên.
Thứ ba là chính sách ngoại thương: hỗ trợ xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu. Đối
với xuất khẩu: Chính phủ cho phép các nhà xuất khẩu được thanh toán trực tiếp
bằng tiền mặt, cho phép giữ lại hoặc tùy ý sử dụng ngoại tệ thu được, giành cho các
đặc quyền được vay bằng ngoại tệ. Đối với hàng nhập khẩu: tăng mức lãi xuất lên
gấp đôi với vốn vay cho trả cho hàng hóa nhập khẩu, đánh thuế cao hơn, áp dụng
quota… Mở rộng ngoại thương sang các nước nhằm tạo ra nhiều thị trường xuất
khẩu cho hàng hóa nước mình.
Qua các chính sách của Hàn Quốc ta có thể thấy vai trò của Chính phủ Hàn
Quốc trong quá trình cải thiện tình trạng cán cân thương mại.
1.4.3. Kinh nghiệm của Trung Quốc
Năm 1979, Trung Quốc đã thực hiện một cuộc cải cách cải tổ và chuyển đổi
kinh tế. Nhờ có cuộc cải cách này mà nền kinh tế của Trung Quốc đã có những cải
thiện và tăng tiến rõ rệt, tạo ra những bước phát triển nhảy vọt. Năm 1970, tổng giá
trị ngoại thương là 4,6 tỷ USD, nhưng đến năm 1979 đã tăng tới 29,4 tỷ USD, gấp
hơn 5 lần so với năn 1970, đến năm 1984, tăng lên là 53,6 tỷ USD, đứng hàng thứ
18 trong các nước xuất khẩu trên thế giới. Từ năm 1979 đến nay, Trung quốc luôn
có cán cân thương mại thặng dư. Từ năm 1979 - 2004, thặng dư cán cân thương mại
trung bình từ 20 - 40 tỷ USD, từ năm 2005 trở đi đã luôn trên mức 100 tỷ USD. Đặc
biệt là năm 2005 đánh dấu mức tăng trưởng kỷ lục của thặng dư cán cân thương mại
của Trung Quốc đạt tới 102 tỷ USD, tăng 217,79% so với năm 2004. Những năm
gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc luôn ở mức cao trên 8%, hiện
25