nâng cao năng lực nhận thức và hứng thú học tập môn hóa học cho học sinh trung học phổ thông qua hoạt động ngoại khóa - Pdf 14

MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục 1
Danh mục các chữ viết tắt 4
Danh mục các bảng, biểu đồ, đồ thị
Bảng 3.1: Kết quả kiểm tra lần 1 (Bố Trạch) 71
Bảng 3.2: Kết quả kiểm tra lần l (Việt Trung) 72
Bảng 3.3: Mô tả điểm kiểm tra lần 1 72
Bảng 3.4: Tần số f và tần suất kết quả kiểm tra lần 1 72
Bảng 3.5: % học sinh đạt điểm kiểm tra từ X
i
trở xuống (lần 1) 73
Bảng 3.6: Kết quả kiểm tra lần 2 (Bố Trạch) 74
Bảng 3.7: Kết quả kiểm tra 2 (Việt Trung) 74
Bảng 3.8: Mô tả điểm kiểm tra lần 2 74
Bảng 3.9: Tần số f và tần suất kết quả kiểm tra lần 2 75
Bảng 3.10: % học sinh đạt điểm kiểm tra từ X
i
trở xuống (lần 2) 75
Bảng 3.11: Giá trị các tham số đặc trưng 77
Biểu đồ 3.1: Biểu diễn kết quả kiểm tra lần 1 73
Biểu đồ 3.2: Biểu diễn kết quả kiểm tra lần 2 75
Đồ thị 3.1: Đường luỹ tích biểu diễn kết quả kiểm tra lần 1 73
Đồ thị 3.2: Đường luỹ tích biểu diễn kết quả kiểm tra lần 2 76
PHẦN I: MỞ ĐẦU 5
I. Lí do chọn đề tài 5
II. Mục đích nghiên cứu 6
III. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 6

2.2: Sưu tập, chọn lọc, sử dụng thí nghiệm hoá học vui dùng trong hoạt động ngoại
khoá hoá học 26
2.3: Hệ thống câu hỏi hoá học vui, hiện tượng hoá học trong thiên nhiên và trong
cuộc sống dùng trong hoạt động ngoại khoá hoá học 38
2.3.1: Hiện tượng hoá học trong thiên nhiên 38
2.3.2: Hiện tượng hoá học trong cuộc sống 41
2.4: Hệ thống bài tập dùng trong hoạt động ngoại khoá hoá học 52
2.4.1: Bài tập phát triển tư duy logic 52
2
2.4.2: Bài tập thực tiễn dùng trong hoạt động ngoại khoá hoá học 54
2.4.3: Bài tập dùng cho câu lạc bộ giải toán hoá học 62
2.5: Tổ chức một số hình thức hoạt động ngoại khoá hoá học để nâng cao năng lực
nhận thức và hứng thú học tập cho học sinh THPT 68
2.5.1: Tổ chức câu lạc bộ giải toán hoá học 68
2.5.2: Tổ chức ngày hội hoá học 69
2.5.3: Tổ chức tham quan nhà máy chế biến cao su Việt Trung 69
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 70
3.1: Mục đích thực nghiệm sư phạm 70
3.2: Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 70
3.3: Địa điểm, trường, lớp và phương pháp thực nghiệm sư phạm 70
3.4: Nội dung thực nghiệm sư phạm 71
3.5: Kết quả thực nghiệm sư phạm 71
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78
I. Kết luận 78
II. Kiến nghị 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC
3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTCT : Công thức cấu tạo

Hóa học là một bộ môn khoa học thực nghiệm, việc tăng nội dung thực hành
trong dạy học hóa học không những tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh lĩnh hội hệ
thống tri thức, rèn luyện kĩ năng thực hành, phát triển tư duy, mà còn giúp học sinh
hình thành thế giới quan khoa học đúng đắn. Trong hoạt động dạy học nói chung và
hoạt động dạy học hóa học nói riêng, hứng thú học tập là động lực thúc đẩy tính tích
cực, tự giác trong học tập, lòng say mê, ham hiểu biết tri thức khoa học. Thực tiễn
chứng tỏ rằng thiếu hứng thú học tập làm cho tinh thần mệt mỏi, làm giảm khả năng
tư duy, giảm khả năng lĩnh hội tri thức và đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự
yếu kém trong học tập.
Do khối lượng kiến thức của nhân loại là một kho tàng khổng lồ và ngày càng
được bổ sung, trong khi đó thời gian học trên lớp chưa đáp ứng được việc tiếp cận
5
toàn bộ lượng kiến thức này. Chủ trương của bộ giáo dục và đào tạo là tăng thời
gian học tập trên lớp nhằm giảm tải và đưa thêm một lượng kiến thức mới vào
chương trình sách giáo khoa mới so với bộ sách cải cách giáo dục. Nhưng còn một
lượng tri thức khoa học lớn cần hiểu, cần biết mà chưa có điều kiện để đưa vào
chương trình. Vì vậy, để giải quyết vấn đề này đối với bộ môn hóa học thì việc tổ
chức hoạt động ngoại khóa hóa học có ý nghĩa thiết thực.
Thực tiễn hoạt động ngoại khóa hóa học ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh
Quảng Bình đã được chú trọng. Nhưng nội dung và hình thức tổ chức chưa phong
phú nên phần nào đã ảnh hưởng đến năng lực nhận thức và hứng thú học tập bộ
môn hóa học của học sinh. Với những lí do trên nên chúng tôi quyết định chọn đề
tài: “NÂNG CAO NĂNG LỰC NHẬN THỨC VÀ HỨNG THÚ HỌC TẬP
MÔN HÓA HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUA HOẠT
ĐỘNG NGOẠI KHÓA”.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Sưu tập, chọn lọc và sử dụng các thí nghiệm hóa học vui, câu hỏi hóa học vui,
hiện tượng hóa học trong thiên nhiên, trong cuộc sống và hệ thống bài tập dùng
trong hoạt động ngoại khóa hóa học để củng cố, khắc sâu kiến thức, rèn luyện kĩ
năng thực hành, thí nghiệm cho học sinh, bước đầu tạo điều kiện cho học sinh làm

1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết.
Phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết, phương pháp phân loại và hệ
thống hoá lí thuyết, phương pháp đọc và nghiên cứu tài liệu
2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
Nghiên cứu thực tiễn hoạt động ngoại khóa hóa học ở các trường THPT trên
địa bàn tỉnh Quảng Bình (điều tra, phỏng vấn, phân tích, tổng kết kinh nghiệm ).
3. Nhóm phương pháp thực nghiệm sư phạm.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra, đánh giá và kết luận qui mô
ảnh hưởng của hoạt động ngoại khóa hoá học đối với việc nâng cao năng lực nhận
thức và hứng thú học tập môn hóa học của học sinh THPT.
- Sử dụng toán thống kê, sác xuất trong nghiên cứu khoa học giáo dục để xử
lí số liệu thực nghiệm thu được.
VI. PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
Trong khuôn khổ thời gian và điều kiện, chúng tôi sẽ nghiên cứu hệ thống lí
luận về hoạt động nhận thức, hứng thú học tập của học sinh, nghiên cứu cơ sở lí
luận của hoạt động ngoại khóa ở trường THPT và nghiên cứu hệ thống thí nghiệm
7
hoá học vui, câu hỏi hóa học vui, hiện tượng hóa học trong thiên nhiên, trong cuộc
sống và hệ thống bài tập hóa học trong chương trình THPT.
VII. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC.
Đối với bộ môn hóa học, nếu người giáo viên thường xuyên tổ chức và khai
thác tốt hoạt động ngoại khóa, với nội dung và hình thức tổ chức đa dạng, phong
phú thì không những nâng cao được năng lực nhận thức và hứng thú học tập bộ
môn, mà còn có tác dụng tích cực trong việc phát triển tư duy, nâng cao kĩ năng
thực hành, thí nghiệm, kĩ năng phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, nhằm
nâng cao chất lượng dạy học hóa học.
VIII. CÁI MỚI CỦA ĐỀ TÀI.
- Tăng cường nội dung thực hành trong hoạt động dạy học.
- Nội dung và hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa phong phú, tùy thuộc
vào mục đích, điều kiện, cơ sở vật chất, thời gian, không gian, mà áp dụng hình

tích cực, tự giác và sáng tạo. Quá trình phản ánh đó xảy ra theo trình tự từ chưa biết
đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, đi từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất kém sâu
sắc đến bản chất sâu sắc hơn.
- Nhận thức không phải là sự phản ánh đơn giản, nhất thời, mà là quá trình biện
chứng, quá trình không ngừng nảy sinh và giải quyết mâu thuẫn.
- Thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức, là động lực, mục
đích của nhận thức, là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lí.
9
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: “Nhận thức là quá trình phản ánh
biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào trong bộ óc của
con người, trên cơ sở thực tiễn”.
V.I. Lênin đã vạch rõ quy luật chung của hoạt động nhận thức là: “Từ trực quan
sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con
đường biện chứng của sự nhận thức chân lí, của sự nhận thức hiện thực khách quan”.
1.1.1.3: Các hình thức hoạt động nhận thức.
* Nhận thức cảm tính (hay còn gọi trực quan sinh động).
Nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức, đó là giai
đoạn mà con người sử dụng các giác quan để tác động trực tiếp vào các sự vật, hiện
tượng nhằm nắm bắt các sự vật, hiện tượng ấy. Nhận thức cảm tính gồm 3 hình
thức: Cảm giác, tri giác và biểu tượng.
- Cảm giác: Là sự phản ánh các thuộc tính riêng lẽ của các sự vật, hiện tượng
khi chúng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của con người, cảm giác là
nguồn gốc của mọi sự hiểu biết, là kết quả của sự chuyển hoá những năng lượng
kích thích từ bên ngoài thành yếu tố của ý thức. V.I. Lênin viết: “Cảm giác là hình
ảnh chủ quan của thế giới khách quan”.
- Tri giác: So với cảm giác thì tri giác là hình thức nhận thức cao hơn, đầy đủ
hơn, phong phú hơn về sự vật, hiện tượng của nhận thức cảm tính. Nó là hình ảnh
tương đối toàn vẹn về sự vật, hiện tượng, khi các sự vật, hiện tượng đang trực tiếp
tác động vào các giác quan. Tri giác nảy sinh dựa trên cơ sở của cảm giác, là sự
tổng hợp của nhiều cảm giác.

“ Clo là một phi kim mạnh, có thể oxi hoá được nhiều kim loại” là một phán
đoán phức, gồm hai phán đoán.
- Suy luận: Là hình thức tư duy liên kết các phán đoán lại với nhau để rút ra
phán đoán mới.
Ví dụ: Từ hai phán đoán: “Mọi kim loại đều dẫn điện”, “Nhôm là kim loại”. Liên
kết hai phán đoán này lại, ta rút ra được một phán đoán mới là: “Nhôm dẫn điện”.
Như vậy, nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính là những nấc thang hợp thành
chu trình nhận thức, chúng có những nhiệm vụ và chức năng khác nhau. Nếu nhận
thức cảm tính gắn liền với hoạt động thực tiễn, với sự tác động của khách thể cảm
tính, là cơ sở cho nhận thức lí tính, thì nhận thức lí tính nhờ có khái quát cao lại có
thể hiểu được bản chất. Trong quá trình nhận thức, thực tiễn chiếm một vị trí quan
11
trọng, bởi nó là cơ sở, động lực, là mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để xác
định tính chân thực của tri thức mà con người thu nhận được qua quá trình nhận thức.
1.1.1.4: Vai trò của nhận thức trong hoạt động học tập của học sinh [17].
Hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình học tập là một quá trình vận
động không ngừng, từ chổ chưa biết đến biết được, từ chổ biết chưa đầy đủ, chưa
đúng đắn đến đầy đủ hơn, đúng đắn hơn. Sự hoạt động đó phải trải qua nhiều con
đường khác nhau.
- Con đường trực tiếp: Thông qua sự phản ánh thế giới vật chất mà học sinh
tiếp xúc được, thể hiện qua các hoạt động như: Thực nghiệm khoa học, thí nghiệm,
thực hành, lao động sản xuất hoặc qua sự quan sát các sự vật, hiện tượng trong thiên
nhiên và trong xã hội.
- Con đường gián tiếp: Thông qua hoạt động nhận thức để biến kho tàng tri
thức của nhân loại thành những hiểu biết của bản thân mình. Con đường này thể
hiện ở chổ học sinh phải học tập các môn khoa học có kế hoạch, có hệ thống dưới
sự hướng dẫn của người giáo viên.
Hoạt động học tập của học sinh là một hoạt động tìm tòi và tiếp thu những kiến
thức trong kho tàng kiến thức của nhân loại, vì vậy, hoạt động nhận thức đóng vai
trò rất quan trọng, ban đầu từ những cảm giác, tri giác, biểu tượng tiếp theo là

hứng thú, lôi cuốn, hấp dẫn chúng ta về phía đối tượng của nó, tạo ra tâm lí khát
khao, tiếp cận đi sâu vào nó”.
Nguyễn Quang Uẩn: “Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân với đối tượng
nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa mang lại khoái cảm cho cá nhân
trong quá trình hoạt động”.
1.1.2.2: Vai trò của hứng thú.
* Đối với hoạt động nói chung.
Trong quá trình hoạt động của con người, cùng với nhu cầu, hứng thú kích thích
hoạt động, làm cho con người say mê hoạt động và đem lại hiệu quả cao trong công
việc. Nhu cầu và hứng thú có mối quan hệ mật thiết với nhau, nhu cầu là tiền đề, cơ
sở của hứng thú, khi ta có hứng thú về một cái gì đó thì cá nhân sẽ hoạt động tích
cực nhằm chiếm lĩnh được đối tượng để thỏa mãn nhu cầu. Công việc nào có hứng
thú cao thì sẽ thực hiện dễ dàng, hiệu quả cao. Ngược lại công việc không có hứng
thú, thực hiện một cách gượng ép thì rất khó hoàn thành và nếu có hoàn thành thì
chất lượng giảm nhiều.
* Đối với hoạt động nhận thức.
13
Hứng thú giúp con người tiến hành hoạt động nhận thức đạt hiệu quả cao,
hứng thú tạo ra động cơ của hoạt động nhận thức. Hứng thú làm tích cực hóa các
quá trình tâm lí như: Cảm giác, tri giác, tư duy
* Đối với năng lực.
Khi công việc phù hợp với hứng thú thì dù khó khăn đến đâu ta cũng quyết tâm
để hoàn thành, từ đó hình thành năng lực. Đối với học tập việc hình thành năng lực
phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó hứng thú của người học đối với bộ môn rất
quan trọng, hứng thú là yếu tố quyết định đến sự hình thành và phát triển năng lực
của cá nhân.
1.1.2.3: Hứng thú học tập.
* Khái niệm.
Hoạt động học tập với tư cách là hoạt động nhận thức tích cực, tự lực và sáng
tạo, là một quá trình căng thẳng, đòi hỏi phải n† lực thường xuyên.

thú nhận thức được xem là biểu hiện của động cơ chủ đạo trong hoạt động học tập
của người học.
Kết quả học tập của người học không chỉ phụ thuộc vào đặc điểm trí tuệ của cá
nhân, mà còn phụ thuộc vào động cơ, thái độ và hứng thú học tập của người học.
Hứng thú học tập có tác dụng nâng cao tính tích cực, tự giác và làm tăng hiệu quả
của quá trình nhận thức, hứng thú học tập tạo ra sự say mê nghiên cứu, tìm tòi kiến
thức, nhu cầu cần hiểu biết về một lĩnh vực, một bộ môn khoa học nào đó, giúp
người học có thể vượt qua mọi khó khăn để đạt được mục đích nhanh nhất.
Tóm lại, hứng thú học tập có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động học tập của
người học, chúng là một trong những động lực thúc đẩy hoạt động nhận thức của
người học nhằm đạt hiệu quả cao. Vì vậy, một trong những yêu cầu sư phạm quan
trọng của người giáo viên là phải hình thành và phát triển hứng thú học tập bộ môn
cho học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy học.
1.1.2.4: Hứng thú học tập của học sinh THPT.
Đối với học sinh THPT hứng thú học tập bộ môn được hình thành và phát triển
một cách rõ nét, gắn với động cơ lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai. Vì vậy, các
em đã ý thức được việc học tập có ý nghĩa sống còn, quyết định tương lai của bản
thân. Những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và các kĩ năng độc lập nghiên cứu, tìm kiếm tri
thức được hình thành ở trường phổ thông là điều kiện cần thiết, có tính quyết định
đến nghề nghiệp tương lai của các em.
Thái độ học tập của các em học sinh THPT đã có sự lựa chọn, các em chỉ tập
trung học tập tích cực, nhiệt tình và hứng thú đối với những môn học có liên quan
15
đến nghề nghiệp tương lai, ngược lại các em có thái độ thờ ơ, thậm chí coi thường
những môn học không liên quan đến nghề nghiệp đã lựa chọn. Rất ít những trường
hợp các em có tinh thần, thái độ, hứng thú học tập như nhau đối với các môn học.
Hứng thú học tập của học sinh THPT phân hóa rõ rệt, gắn liền với việc lựa
chọn nghề nghiệp sau này. Cuối THPT hứng thú học tập của học sinh rất ổn định và
bền vững đối với một số môn học hay một số lĩnh vực tri thức nhất định, điều đó đã
kích thích nhu cầu muốn mở rộng và đào sâu kiến thức trong các lĩnh vực đó.

- Bước đầu cho học sinh tập làm quen với nghiên cứu khoa học, phát huy tính
tích cực, chủ động, sáng tạo để khi bước vào đời học sinh biết vận dụng vốn kiến
thức của bản thân vào thực tiễn có hiệu quả cao nhất.
- Hình thành ở học sinh những đức tính tốt đẹp của người lao động như:
Phương pháp làm việc khoa học, có tổ chức, có kỷ luật, cẩn thận
1.1.3.3: Nhiệm vụ cơ bản của hoạt động ngoại khoá hoá học.
Hoạt động ngoại khoá có nhiệm vụ h† trợ đắc lực cho mục tiêu đào tạo, dựa trên
sự tự nguyện và sáng tạo của học sinh, dưới sự chỉ đạo của giáo viên, có sự h† trợ
của nhà trường, cộng đồng và xã hội. Vì vậy, nó có những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Phát triển hứng thú học tập hoá học, nâng cao và mở rộng kiến thức hoá học,
phát triển kĩ năng thực hành, thí nghiệm và kích thích lòng ham hiểu biết hoá học.
- Phát triển tính tích cực, sáng tạo và rèn luyện kĩ năng giải quyết các vấn đề
khoa học, trí thông minh của học sinh.
- Chuẩn bị cho học sinh đi vào hoạt động thực tiễn, hướng nghiệp, phát triển và
bồi dưỡng thiên hướng, tài năng về hoá học.
- Huy động học sinh tham gia vào các hoạt động công ích có mang nội dung
hoá học như: Xây dựng phòng thí nghiệm hoá học cho trường, tổ kĩ thuật ở địa
phương, bảo vệ môi trường, vệ sinh, phòng bệnh có dùng đến hoá học.
-Tổ chức vui chơi, giải trí một cách văn hoá, có trí tuệ, bổ ích như: Ngày hội
hoá học, câu lạc bộ giải toán hoá học, thí nghiệm hoá học vui, thi Olimpic về hóa
học
Như vậy, hoạt động ngoại khoá có tác dụng giáo dục, phát tiển trí dục, nâng cao
năng lực nhận thức và hứng thú học tập rất lớn đối với học sinh, góp phần làm
phong phú thêm sự hiểu biết và rèn luyện nhiều phẩm chất tốt đẹp cho học sinh.
1.1.3.4: Nguyên tắc hoạt động của ngoại khoá hoá học.
Để đảm bảo hiệu quả và chất lượng của hoạt động ngoại khoá, cần tuân thủ một
số nguyên tắc sau:
17
- Bảo đảm tính mục đích và tính kế hoạch: Kế hoạch hoạt động ngoại khoá cho
từng năm (từng tuần, từng tháng, từng kì) cần được vạch ra ngay từ khi chuẩn bị

18
+ Nói chuyện có tính chất phổ biến khoa học với nội dung liên quan đến hoá
học, có thể mời chuyên gia, các nhà khoa học trình bày.
+ Tham quan viện bảo tàng, nhà máy, xí nghiệp, phòng truyền thống.
+ Chiếu phim về các đề tài hoá học.
b) Ngày hội hoá học: Tạo điều kiện củng cố, mở rộng, nâng cao tầm hiểu biết
kiến thức hoá học, phát triển năng lực sáng tạo, nâng cao năng lực nhận thức, phát
triển hứng thú, vui chơi, giải trí khoa học, bổ ích.
- Khi lựa chọn chuyên đề ngày hội hoá học giáo viên cần xuất phát từ nhiệm vụ
giảng dạy và giáo dục cụ thể, nội dung buổi ngày hội hóa học cần mang tính chất
tìm tòi, chứa đựng những bất ngờ, vui nhộn, có thể sử dụng các hình thức như: Đố
vui, kịch vui, kể chuyện, thí nghiệm hoá học vui, ảo thuật hoá học
-Tính hiệu quả của ngày hội hoá học không chỉ phụ thuộc vào nội dung, mà còn
phụ thuộc vào cả sự tổ chức và phương pháp tiến hành.
- Chuyên đề ngày hội hóa học rất phong phú, có thể chọn theo chuyên đề riêng
hoặc chương riêng của chương trình hoá học phổ thông. Mục đích của ngày hội hóa
học nhằm khái quát và đào sâu kiến thức của học sinh đã thu được trong giờ học
chính khoá.
- Người chủ trì cần chuẩn bị chu đáo, cẩn thận tiến trình của ngày hội hóa học
như: Dự định dàn bài, xác định các chuyên đề, thời gian, các hình thức tổ chức, lựa
chọn cốt cán, phân công nhiệm vụ, sự phối hợp của các nhóm riêng biệt, diễn tập,
trình bày, trang trí, xếp đặt, chuẩn bị trang bị kĩ thuật
c) Tổ ngoại khóa: Nhóm hóa học được tổ chức đối với nhóm học sinh có quan
tâm đến hóa học. Nhiệm vụ cơ bản là đào sâu và mở rộng những hiểu biết hóa học
mà chương trình nội khóa không có điều kiện thực hiện. Tùy theo số lượng học sinh
tham gia mà có cơ cấu tổ chức hay nhóm hóa học. M†i nhóm có một học sinh làm
nhóm trưởng (phụ trách chung). Giáo viên hóa học làm cố vấn cho các nhóm.
- Tùy theo hứng thú của học sinh, điều kiện trường phổ thông mà giáo viên có
thể tổ chức thành các nhóm ngoại khóa như:
+ Nhóm tìm hiểu lịch sử hóa học.

để điều tra, phỏng vấn tìm hiểu thực tiễn hoạt động ngoại khóa hóa học ở các
trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
1.2.1: Mục đích điều tra.
Chúng tôi tiến hành tìm hiểu thực tiễn hoạt động ngoại khóa hóa học ở các
trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Bình để nắm các nội dung sau:
- Tình hình tổ chức hoạt động ngoại khóa hóa học ở các trường từ năm 2005 đến 2010.
20
- Nhận thức của giáo viên và học sinh về hoạt động ngoại khóa hóa học.
- ‹ kiến góp ý của giáo viên và học sinh để hoàn thiện hơn hoạt động ngoại
khóa hóa học.
Từ kết quả của các nội dung tìm hiểu, chúng tôi có cơ sở thực tiễn cho vấn đề
nghiên cứu và định hướng cho việc nghiên cứu đề tài.
1.2.2: Kết quả điều tra, phỏng vấn.
Qua điều tra, phỏng vấn về thực tiễn hoạt động ngoại khóa hóa học của một số
trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, chúng tôi thu được những kết quả sau:
1.2.2.1: Về tình hình tổ chức.
- 20% số trường hàng năm đều có tổ chức hoạt động ngoại khóa hóa học.
- 30% số trường 2 năm tổ chức một lần.
- 20% số trường 3 năm tổ chức một lần.
- 30% số trường trên 3 năm tổ chức một lần.
1.2.2.2: Về hình thức tổ chức.
- 80% số trường cứ lặp đi lặp lại các hình thức tổ chức đã quá quen thuộc.
- 20% số trường hình thức tổ chức có đổi mới, nhưng chủ yếu vẫn dựa trên cái
nền của các hình thức quen thuộc.
1.2.2.3: Về nhận thức của học sinh.
Phần lớn (65,4%) học sinh hiểu được mục đích, ý nghĩa của hoạt động ngoại
khóa hóa học như:
- Tạo được sân chơi giải trí khoa học, bổ ích.
- Củng cố, khắc sâu và mở rộng thêm kiến thức.
- Rèn luyện thêm nhiều kĩ năng cho bản thân

- Nội dung các buổi ngoại khóa hóa học chưa phong phú, chủ yếu để củng cố
những kiến thức đã học của học sinh, chưa mở rộng và nâng cao tầm hiểu biết về
hóa học cho học sinh.
- Về phía học sinh: Qua điều tra chúng tôi nhận thấy đa số học sinh nhận thức
được mục đích, ý nghĩa của hoạt động ngoại khóa hóa học.
Hoạt động ngoại khóa hóa học ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng
Bình chưa tương xứng với vai trò và nhiệm vụ của nó do những nguyên nhân sau:
- Một số giáo viên chưa hiểu hết tầm quan trọng của ngoại khóa hóa học.
- Một số giáo viên thiếu nhiệt tình, sợ tốn thời gian, công sức cho việc chuẩn bị
và tổ chức hoạt động ngoại khóa.
- Năng lực của giáo viên trong việc tổ chức hoạt động ngoại khóa hóa học còn
hạn chế.
- Chưa nhận được sự h† trợ của các tổ chức đoàn thể và xã hội.
22
* Hoạt động ngoại khóa hóa học ở các trường phổ thông không chỉ nâng cao
năng lực nhận thức, hứng thú học tập, phát triển tư duy, mở rộng, nâng cao kiến
thức hóa học và rèn luyện kĩ năng thực hành, thí nghiệm cho học sinh, mà còn giáo
dục thế giới quan duy vật biện chứng, củng cố niềm tin khoa học và hình thành
những đức tính tốt đẹp cho học sinh như: Phương pháp làm việc khoa học, cẩn thận,
gọn gàng Vì vậy, chúng tôi hi vọng rằng trong những năm tới hoạt động ngoại
khóa hóa học ở các trường THPT trong cả nước nói chung và ở các trường THPT
trên địa bàn tỉnh Quảng Bình nói riêng phát triển mạnh hơn nữa nhằm góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.
Tóm tắt chương 1
Trong chương 1 chúng tôi đã tiến hành đọc và nghiên cứu các tài liệu liên
quan đến hoạt động nhận thức, hứng thú học tập và hoạt động ngoại khoá. Từ đó
chúng tôi nhận thấy:
- Nhận thức có vai trò rất quan trọng trong hoạt động học tập của học sinh,
hoạt động học tập của học sinh là một hoạt động tìm tòi và tiếp thu những kiến thức
trong kho tàng kiến thức của nhân loại, ban đầu từ những cảm giác, tri giác, biểu

trọng đối với quá trình nhận thức, thí nghiệm hoá học giúp học sinh phát triển năng
lực nhận thức một cách toàn diện, từ cảm giác, tri giác đến tư duy trừu tượng.
Ở trường phổ thông thí nghiệm hoá học được coi là chiếc cầu nối giữa lí thuyết
và thực tiễn, giữa học và hành. Thí nghiệm hoá học giúp học sinh làm quen với
những tính chất, mối liên hệ và quan hệ có quy luật giữa các đối tượng nghiên cứu,
làm cơ sở để nắm vững các quy luật, các khái niệm khoa học và biết cách khai thác
chúng. Thí nghiệm hoá học còn giúp học sinh làm sáng tỏ mối liên hệ giữa các sự
vật và giải thích được bản chất của các quá trình, các hiện tượng xảy ra trong thiên
nhiên, trong sản xuất và đời sống.
Thí nghiệm hoá học là cơ sở của việc dạy - học hoá học, thông qua thí nghiệm
hoá học học sinh lĩnh hội, củng cố kiến thức và phát triển hứng thú học tập bộ môn.
Thí nghiệm hoá học còn có tác dụng phát triển tư duy, giáo dục thế giới quan duy
vật biện chứng, củng cố niềm tin khoa học cho học sinh, giúp hình thành và phát
triển ở học sinh những đức tính tốt đẹp của người lao động như: Làm việc khoa học,
cẩn thận, ngăn nắp, gọn gàng…
Để hoạt động ngoại khoá hoá học đạt được hiệu quả và chất lượng cao thì có
nhiều yếu tố chi phối như: Công tác chuẩn bị, công tác tổ chức, nội dung, đối tượng
24
học sinh tham gia… Nhưng yếu tố đóng vai trò quan trọng là nội dung ngoại khoá,
bởi vậy, khi lựa chọn thí nghiệm hoá học vui cần dựa trên những yêu cầu sau:
- Thí nghiệm phải an toàn: Đảm bảo an toàn cho giáo viên và học sinh là yêu
cầu đặt lên hàng đầu và cơ bản, khi lựa chọn thí nghiệm dùng trong hoạt động ngoại
khoá cần lựa chọn những thí nghiệm không hoặc ít ảnh hưởng đến sức khoẻ.
- Kích thích được hứng thú, lòng ham hiểu biết kiến thức hoá học: Thí nghiệm
phải chứa đựng những biến đổi hoá học lạ kì (giống ảo thuật).
- Dấu hiệu thí nghiệm rõ ràng, đảm bảo cho những học sinh ngồi xa vẫn quan
sát được.
- Thí nghiệm dễ làm, dụng cụ không quá phức tạp.
- Đảm bảo được tính mĩ thuật và tính khoa học.
- Thí nghiệm không hoặc ít ảnh hưởng đến môi trường.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status