v
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn
i
Danh mục viết tắt
ii
Danh mục các bảng
iii
Danh mục các hình, sơ đồ
iv
Mục lục
v
MỞ ĐẦU
1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC DỰ ÁN
1
1.1. Quá trình dạy học
6
1.2. Phương pháp dạy và học tích cực
6
1.3. Tính tích cực, tự chủ, sáng tạo của học sinh
7
1.3.1. Khái niệm
8
1.3.2. Biểu hiện của tính tích cực, tư duy sáng tạo của học sinh
9
1.4. Dấu hiệu đặc trưng của dạy và học tích cực
10
1.6.7. Điều kiện để thực hiện có hiệu quả
27
1.7. Hoạt động ngoại khóa trong nhà trường phổ thông
27
1.7.1. Vai trò của hoạt động ngoại khóa
27
1.7.2. Đặc điểm của hoạt động ngoại khóa
28
1.7.3. Một số hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa
29
vi
1.7.4. Quy trình tổ chức hoạt động ngoại khóa
30
1.8. Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của việc tổ chức dạy học dự án thông qua
hoạt động ngoại khóa nội dung kiến thức phần “Công- Năng lượng” vật lý
10, ở một số trường trong huyện Kinh Môn - Kinh Môn – Hải Dương 32
1.8.1.Mục đích điều tra
32
1.8.2. Phương pháp điều tra
33
1.8.3. Đối tượng điều tra
33
1.8.4. Kết quả điều tra
33
1.8.5. Đề xuất giải pháp
35
2.3.2. Chuẩn bị các tài liệu hỗ trợ việc thực hiện dự án
48
2.4. Nội dung của hội thi giữa các đội tham gia học dự án
49
2.4.1. Kế hoạch của hội thi vật lí.
49
2.4.2. Nội dung của hội thi
49
2.4.3. Các tiêu chí đánh giá cho hội thi
51
2.4.4.Tổng kết quá trình thực hiện dự án và hội thi đánh giá và rút kinh
nghiệm.
64
Kết luận chương 2
65
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
66
3.1. Mục đích của thực nghiệm sư phạm
66
3.2. Đối tượng của thực nghiệm sư phạm
66
vii
3.3. Thời gian thực nghiệm sư phạm
66
3.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
66
3.5. Tiến hành thực nghiệm sư phạm và phân tích kết quả thực nghiệm sư
phạm.
ii
DANH MỤC VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
DHDA
Dạy học dự án
ĐHGD
Đại học Giáo dục
ĐHQG
Đại Học Quốc Gia
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
PP
Bảng 2.2. Đánh giá kết quả sổ theo dõi dự án
59
Bảng 2.3. Đánh giá phần giới thiệu
60
Bảng 2.4. Đánh giá bài trình bày đa phương diện
60
Bảng 2.5. Đánh giá bài trình bày đa phương diện
62
Bảng 2.6. Phiếu chấm điểm của từng giám khảo
63
Bảng 2.7. Phiếu chấm điểm tổng hợp
63
Bảng 3.1. Phiếu kết quả chấm điểm của giám khảo
86
Bảng 3.2. Phiếu kết quả chấm điểm của các giám khảo
87
74
Hình 3.8. Nhóm Thunderstorm đang say sưa thuyết trình về sảnphẩm
của mình và trả lời chất vấn
74
Hình 3.9. Nhóm Brave heart đang say sưa thuyết trình và trả lời chất
vấn trong hội thi
76
Hình 3.10. Ảnh sản phẩm nhóm Brave heart, thuyền đồ chơi
77
Hình 3.11. Ảnh sản phẩm nhóm Brave heart,Tuabin gió
77
Hình 3.12. Ảnh sản phẩm nhóm Study, ếch đồ chơi
78
Hình 3.13. Ảnh sản phẩm nhóm Study,Tua bin nước
78
Hình 3.14. Ảnh sản phẩm nhóm Thunderstorm, máy bay đồ chơi
79
Hình 3.15. Ảnh sản phẩm nhóm Thunderstorm, Cối giã gạo
79
Hình 3.16. Ảnh sản phẩm nhóm Friendship, Ô tô đồ chơi
80
Hình 3.17. Ảnh sản phẩm nhóm Friendship, Guồng nước
80 DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Tên sơ đồ
Vật lý ở trường phổ thông chủ yếu là vật lý thực nghiệm, trong đó có sự kết
hợp nhuần nhuyễn giữa quan sát, thí nghiệm và suy luận lí thuyết từ đó rút ra được
những kết quả thực tiễn thống nhất với lí luận. Những ứng dụng của vật lí trong kĩ
thuật không những phụ thuộc vào nhu cầu đời sống và sản suất mà còn phục vụ
những công việc nghiên cứu vật lý học, nâng cao khả năng hoạt động chính của
người nghiên cứu, học tập vật lý.
Nội dung kiến thức về “Công - Năng lượng” trong chương trình vật lý phổ
thông rất quan trọng đối với học sinh. Đặc biệt định luật “Bảo toàn và chuyển hóa
2
năng lượng” định luật này là định luật tổng quát, mọi hiện tượng trong tự nhiên đều
liên quan đến. Ở chương trình lớp 9 các em đã được học định luật bảo toàn và
chuyển hóa năng lượng, lớp 10 lại được học trong chương “Các định luật bảo toàn‟‟
lớp 12 lại được học trong chương “Dao động cơ” và nói chung định luật bảo toàn
còn được vận dụng trong nhiều hiện tượng vật lí. Khi học kiến thức này nếu học
sinh chỉ dừng lại kiến thức sách giáo khoa thì chưa đủ, các em cần phải tìm hiểu
thêm rất nhiều các hiện tượng khác trong thực tế liên quan đến hiện tượng này, hoặc
các em phải tạo ra được các thiết bị hoạt động dựa trên nguyên tắc bảo toàn và
chuyển hóa năng lượng để từ đó các em sẽ hiểu sâu kiến thức sách giáo khoa và gắn
liền được kiến thức lí thuyết vào thực tiễn từ đó phát huy được, tính tích cực chủ
động, sự độc lập sáng tạo trong học vật lý và trong nhận thức khoa học.
Để phát huy cao độ tính tích cực, chủ động, sáng tạo năng lực tự học, tự nghiên
cứu của người học, phát huy khả năng làm việc hợp tác và làm việc nhóm của học sinh,
rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, khắc phục kiểu dạy học áp đặt, lấy
giáo viên làm trung tâm, chống lại thói quen học tập thụ động, đem lại hứng thú cho
học sinh học tập vật lý thì mỗi giáo viên cần cần sử dụng các phương pháp dạy học
hiện đại, phù hợp với học sinh thì mới đạt được mục tiêu đó. Hiện nay các nước trên
thế giới đã đưa ra rất nhiều phương pháp dạy học hiện đại, nước ta cũng áp dụng các
phương pháp đó cho phù hợp với tình hình thực tiễn về cơ sở vật chất, kĩ thuật ở nước
ta. Ở nước ta các trường miền núi vùng sâu vùng xa do công nghệ thông tin chưa được
trong luận văn thạc sĩ sư phạm vật lý năm 2010 của ĐHGD- ĐHQG Hà nội. Tác giả
đã tổ chức cho học sinh thực hiện các dự án khi học các kiến thức định luật bảo toàn
động lượng, bảo toàn cơ năng, bảo toàn năng lượng, chế tạo được một số dụng cụ
đơn giản hoạt động theo nguyên tắc chuyển động bằng phản lực, ứng dụng định luật
bảo toàn động lượng để giải thích một số hiện tượng thực tế có liên quan, tác giả
còn đề cập đến định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng. Tác giả Tạ Đăng Thái
với đề tài: Tổ chức dạy học dự án qua hoạt động ngoại khoá khi dạy học nội dung
kiến thức bài "Định luật bảo toàn động lượng" vật lý lớp 10, trong luận văn thạc sĩ
năm 2011 ĐHGD- ĐHQG Hà nội. Tác giả Tạ Đăng Thái đã tổ chức một dự án lớn
trong toàn trường đó là: chế tạo dụng cụ tên lửa nước hoạt động theo nguyên tắc
định luật bảo toàn động lượng. Qua tìm hiểu một số luận văn thạc sĩ chúng tôi thấy
các tác giả cũng đã áp dụng được dạy học dự án tuy nhiên nội dụng về định luật bảo
4
toàn và chuyển hóa năng lượng chưa được nghiên cứu sâu sắc vì vậy tôi sẽ tiếp tục áp
dụng dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa để giải quyết một số dự án thuộc
phần kiến thức „Các định luật bảo toàn‟ cụ thể phần kiến thức “Công – Năng lƣợng”.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu áp dụng dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa vào việc
dạy nội dung kiến thức phần “Công- năng lượng‟‟vật lý lớp 10 nâng cao nhằm giúp
HS hướng đến hoạt động nhận thức tích cực, chủ động, sáng tạo trong tìm tòi giải
quyết vấn đề từ đó học sinh sẽ gắn được các kiến thức lí thuyết với thực tiễn, hiểu
sâu sắc vấn đề.
4. Đối tƣợng nghiên cứu
Hoạt động dạy và hoạt động học của giáo viên và học sinh qua tiến trình dạy
học dự án nội dung kiến thức phần “ Công - Năng lượng ”Vật lý 10 nâng cao.
5. Mẫu khảo sát
Học sinh lớp 11D trường THPT Kinh Môn - Kinh Môn - Hải dương.
6. Vấn đề nghiên cứu
Làm thế nào để tổ chức dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa nội
6
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC DỰ ÁN
1.1. Quá trình dạy học
Quá trình dạy học là một quá trình tương tác giữa thầy và trò, trong đó thầy
chủ đạo nhờ các hoạt động tổ chức, lãnh đạo, điều chỉnh hoạt động nhận thức của
học sinh, còn trò tự giác, tích cực, chủ động thông qua việc tự tổ chức, tự điều chỉnh
hoạt động nhận thức của bản thân nhằm đạt tới mục đích dạy học.
Quá trình dạy học là một quá trình xã hội, một quá trình sư phạm đặc thù, nó
tồn tại như một hệ thống bao gồm nhiều thành tố cấu trúc: Mục đích và nhiệm vụ dạy
học, phương tiện dạy học, phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học, nội dung
dạy học, điều kiện dạy học, chủ thể dạy học, đối tượng dạy học, kết quả dạy học.
Tất cả những thành tố trong cấu trúc quá trình dạy học tồn tại trong mối quan
PP dạy và học tích cực đem lại cho người học hứng thú, niềm vui trong học
tập, nó phù hợp với đặc tính ưa thích hoạt động của trẻ em. Việc học của học sinh
khi đã trở thành niềm hạnh phúc sẽ giúp các em tự khẳng định mình và nuôi dưỡng
lòng khát khao sáng tạo. Như vậy dạy và học tích cực nhấn mạnh đến tính tích cực
hoạt động của người học và tính nhân văn của giáo dục
Bản chất của dạy và học tích cực là:
- Khai thác động lực học tập ở người học để phát triển chính họ.
- Coi trọng lợi ích, nhu cầu của cá nhân để chuẩn bị tốt nhất cho họ thích
ứng với đời sống xã hội.[1]
Trong dạy và học tích cực, mối quan hệ giữa giáo viên với học sinh, giữa học
sinh với học sinh là mối quan hệ tác động qua lại trong môi trường học tập an toàn
Trong bối cảnh của thời kỳ đổi mới các nhà nghiên cứu đã đưa ra các tiêu chí
quan trọng trong đổi mới PP dạy và học như sau:
- Tiêu chí hàng đầu của việc dạy và học là cách học
- Phẩm chất cần phát triển mạnh mẽ là tính chủ động của người học
- Công cụ cần khai thác triệt để là công nghệ thông tin và đa phương
tiện.[1]
1.3. Tính tích cực, tự chủ, sáng tạo của học sinh
Trong quá trình hoạt động nhận thức học sinh phải phát huy được cao độ tính
tích cực, tự chủ, sáng tạo của học sinh.
8
1.3.1. Khái niệm
Tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua
sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lí nhằm giải quyết những vấn đề học
tập - nhận thức. Trong quá trình học tập người học phải phát huy cao nhất các chức
năng tâm lí. Tính tích cực nhận thức chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các yếu tố tình cảm,
ý chí và hướng thú học tập. Tính tích cực nhận thức phát triển tới mức độ cao sẽ
làm hình thành tính tự chủ nhận thức.
Tính tự chủ (chủ động) nhận thức theo nghĩa rộng là sự sẵn sàng về mặt tâm lí đối
học trong quá trình thực hiện mục đích hoạt động chung. Tính tích cực được chia
làm ba cấp độ:
+ Tính tích cực bắt chước, tái hiện (xuất hiện do tác động bên ngoài): học
sinh bắt chước hành động của giáo viên, của bạn bè.
+ Tính tích cực tìm tòi (đi liền với quá trình hình thành khái niệm, giải quyết
tình huống nhận thức): học sinh tìm cách độc lập giải quyết vấn đề đã nêu ra, tìm ra
cách giải quyết hợp lí nhất.
+ Tích cực sáng tạo (thể hiện khi chủ thể tìm tòi kiến thức mới): học sinh
nghĩ ra cách thiết kế, chế tạo sản phẩm.
* Những yếu tố thúc đẩy tính tích cực của học sinh
+ Sự gần gũi với thực tế: Xây dựng tình huống có vấn đề, tạo mâu thuẫn
nhận thức, tạo động cơ, hứng thú tìm cái mới để kích thích hứng thú và tính tích cực
học tập của học sinh với những nội dung có tính thực tiễn, gần gũi với cuộc sống
hàng ngày của các em, gắn với thực tế hoặc những vấn đề có tính mới mẻ nhưng
không quá xa lạ với các em.
+ Sự phù hợp với mức độ phát triển: Cần có sự lựa chọn kĩ các vấn đề vừa
sức và xác định mức độ mà học sinh có thể tham gia trong việc giải quyết từng vấn
đề cụ thể. Cần tính đến sự khác biệt về trình độ phát triển của từng đối tượng học
sinh. Các yêu cầu đưa ra phải rõ ràng, tránh mơ hồ, đa nghĩa.
+ Không khí và các mối quan hệ trong nhóm: Kích thích hứng thú học tập
cho các em bằng những phương pháp dạy học tích cực, tạo ra một môi trường
học tập thoải mái, tạo điều kiện để các em phải làm việc, động viên và giúp đỡ
lớp học sao cho các học sinh mạnh dạn tham gia thảo luận, đưa học sinh vào thế
học tập chủ động.
10
+ Mức độ và sự đa dạng của hoạt động: Kết hợp xen kẽ nhiều hình thức tổ
chức dạy học như làm việc cá nhân, hoạt động nhóm, tập thể, lớp. Đảm bảo hỗ trợ
đúng mức (các học sinh trong nhóm hỗ trợ nhau và hỗ trợ từ phía giáo viên).
+ Phạm vi tự do sáng tạo: học sinh được lựa chọn hoạt động, đánh giá hoạt
trong mỗi con người và kết quả học tập sẽ được tăng cao.
1.4.2. Tổ chức dạy học để rèn luyện hoạt động học tập của mỗi cá nhân, phối hợp
với học hợp tác
Trong dạy học tích cực, giáo viên cần quan tâm đến sự phân hóa về trình độ
nhận thức, cường độ và tiến độ hoàn thành các nhiệm vụ học tập của mỗi học sinh.
Để người học có điều kiện bộc lộ, phát triển khả năng của mình, cần đặt vào môi
trường học tập hợp tác trong mối quan hệ thầy trò, trò - trò. Trong mối quan hệ
quan hệ tương tác đó, người học không chỉ được học qua thầy mà còn học được
qua bạn, chia sẻ kinh nghiệm kích thích tính tích cực, chủ động của mỗi cá nhân,
đồng thời hình thành và phát triển ở người học năng lực tổ chức, điều khiển, lãnh
đạo, các kĩ năng hợp tác, giao tiếp, trình bày giải quyết vấn đề và tạo môi trường
học tập thân thiện. Tuy nhiên, để học hợp tác có hiệu quả, giáo viên cần hình
thành cho người học thói quen học tập tự giác, tôn trong giúp đỡ lần nhau. Đồng
thời nhiệm vụ được giao phải rõ ràng, cụ thể, mỗi thành viên trong nhóm đều được
phân công, xác định rõ nhiệm vụ, trách nhiệm của mình để tránh tình trạng dựa
dẫm ỷ lại và có những biểu hiện không hợp tác “phá rối ” làm cho hoạt động hợp
tác mất thời gian, kém hiệu quả.[1, tr. 24]
Khái niệm học tập hợp tác ngoài việc nhấn mạnh vai trò quan trọng của cá
nhân trong quá trình học sinh làm việc cùng nhau, còn đề cao sự ràng buộc và tương
tác lẫn nhau giữa các học sinh.
1.4.3. Dạy và học chú trọng đến sự quan tâm và hứng thú của học sinh, nhu cầu
và lợi ích của xã hội
- Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh được lựa chọn vấn đề mà mình quan
tâm ham thích, tự lực tiến hành nghiên cứu giải quyết vấn đề, trình bày kết quả. Đó
là đặc trưng lấy học sinh làm trung tâm theo nghĩa đầy đủ của thuật ngữ này. Việc
nghiên cứu có thể tiến hành theo cá nhân hoặc nhóm nhỏ.
- Các chủ đề /nội dung tìm hiểu, nghiên cứu có thể do học sinh tự đề xuất hoặc lựa
chọn trong các chủ đề /nội dung cần gắn với nhu cầu, lợi ích của người học cũng
như thực tiễn xã hội.
12
13
1.5. Đổi mới PP dạy và học theo hƣớng tích cực nhƣ thế nào ?
Đổi mới PP dạy học theo hướng tích cực chính là phát huy tính tích cực của
nhận thức của học sinh, nói cách khác là “Dạy học lấy hoạt động của người học làm
trung tâm”
Trong dạy và học tích cực, dưới sự thiết kế tổ chức định hướng của giáo viên
người học tham gia vào quá trình hoạt động học tập từ khâu phát hiện vấn đề, tìm
giải pháp cho vấn đề đặt ra, thực hiện giải pháp và rút ra kết luận. Qua trình đó giúp
người học lĩnh hội nội dung học tập đồng thời phát triển năng lực sáng tạo.[1]
Đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực có nghĩa là hoạt động
học tập phải được thực hiện trên cơ sở kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động
hợp tác, trong mối quan hệ tương tác giữa thầy và trò, trò - trò trong môi trường học
tập thân thiện an toàn.
Trong dạy và học tích cực, học sinh là chủ thể hoạt động học tập, giáo viên
đóng vai trò người tổ chức hướng dẫn, đòi hỏi giáo viên phải có kiến thức sâu, rộng
và có kĩ năng sư phạm ,đặc biệt phải có tình cảm nghề nghiệp thì việc đổi mới PP
dạy học theo hướng tích cực mới đạt kết quả.
Hoạt động của giáo viên và học sinh trong dạy học tích cực được thể hiện ở
sơ đồ sau:
1.6. Dạy học dự án
1.6.1. Khái niệm dự án và dạy học theo dự án
Dạy học dự án (DHDA) là một hình thức dạy học quan trọng để thực hiện
quan điểm dạy học định hướng vào người học, quan điểm dạy học định hướng hoạt
động và quan điểm dạy học tích hợp. DHDA góp phần gắn lý thuyết với thực hành,
tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, tham gia tích cực vào việc đào tạo năng
lực làm việc tự lực, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp,
tinh thần trách nhiệm và khả năng cộng tác làm việc của người học.
Thuật ngữ dự án, tiếng Anh là “Project”, có nguồn gốc từ tiếng La tinh là
projicere và ngày nay được hiểu theo nghĩa phổ thông là một đề án, một dự thảo hay
một kế hoạch, trong đó đề án, dự thảo hay kế hoạch này cần được thực hiện nhằm
đạt mục đích đề ra.
Khái niệm dự án được sử dụng phổ biến trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế-xã
hội: trong sản xuất, doanh nghiệp, trong nghiên cứu khoa học cũng như trong quản
lý xã hội
Khái niệm dự án đã đi từ lĩnh vực kinh tế, xã hội vào lĩnh vực giáo dục, đào
tạo không chỉ với ý nghĩa là các dự án phát triển giáo dục mà còn được sử dụng như
một phương pháp hay hình thức dạy học. Khái niệm Project được sử dụng trong các
trường dạy kiến trúc-xây dựng ở Ý từ cuối thế kỷ 16. Từ đó tư tưởng dạy học theo
15
dự án lan sang Pháp cũng như một số nước châu Âu khác và Mỹ, trước hết là trong
các trường đại học và chuyên nghiệp.[9, tr. 246]
Dạy học dự án (DHDA) là một hình thức dạy học, trong đó người học thực
hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, có
tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu. Nhiệm vụ này được người học thực hiện với
tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế
họach, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả
thực hiện. Làm việc nhóm là hình thức cơ bản của DHDA.[1]
1.6.2. Mục tiêu của dạy học dự án
hành. Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn
luyện kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học.
-Tính tự lực cao của ngƣời học: Trong DHDA, người học cần tham gia tích
cực và tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học. Điều đó cũng đòi hỏi và
khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học. GV chủ yếu đóng vai trò
tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ. Tuy nhiên mức độ tự lực cần phù hợp với kinh nghiệm,
khả năng của HS và mức độ khó khăn của nhiệm vụ.
- Cộng tác làm việc: Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm,
trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên
trong nhóm. DHDA đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kỹ năng cộng tác làm việc
giữa các thành viên tham gia, giữa HS và GV cũng như với các lực lượng xã hội
khác tham gia trong dự án. Đặc điểm này còn được gọi là học tập mang tính xã hội.
- Định hƣớng sản phẩm: Trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm được
tạo ra. Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết, mà trong
đa số trường hợp các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt động thực
tiễn, thực hành. Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu.
1.6.4. Các dạng của dạy học theo dự án
* Phân loại theo chuyên môn
- Dự án trong một môn học: trọng tâm nội dung nằm trong một môn học.
- Dự án liên môn: trọng tâm nội dung nằm ở nhiều môn khác nhau.
- Dự án ngoài chuyên môn: Là các dự án không phụ thuộc trực tiếp vào các môn
học, ví dụ dự án chuẩn bị cho các lễ hội trong trường.
17
* Phân loại theo sự tham gia của người học: dự án cho nhóm HS, dự án cá nhân. Dự
án dành cho nhóm HS là hình thức dự án dạy học chủ yếu. Trong trường phổ thông còn
có dự án toàn trường, dự án dành cho một khối lớp, dự án cho một lớp học.
* Phân loại theo sự tham gia của GV: dự án dưới sự hướng dẫn của một GV, dự án
với sự cộng tác hướng dẫn của nhiều GV.
* Phân loại theo quỹ thời gian: K.Frey đề nghị cách phân chia như sau:
dung học tập, gắn với thực tiễn mà HS quan tâm.
Ví dụ:
Đời sống hàng ngày (trường học, gia đình, chăm sóc vật nuôi )
Văn hoá và xã hội (Lễ hội, phong tục, )
Các vấn đề thời sự cập nhật (an toàn giao thông, tệ nạn xã hội, ô nhiễm môi trường,
tiết kiệm năng lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, )
Địa lí và sinh thái (địa hình vùng miền, đa dạng sinh học ở địa phương, vật nuôi cây
trồng điạ phương, )
+ Xây dựng tiểu chủ đề
Ý tưởng hoặc chủ đề lớn ban đầu được phát triển thành nhiều chủ đề nhỏ (tiểu chủ
đề) bằng cách sử dụng sơ đồ tư duy.
+ Lập kế hoạch các nhiệm vụ học tập.[1]
*Thực hiện dự án
+ Thu thập thông tin: thu thập thông tin như nhiệm vụ được giao như phỏng
vấn đối tượng đã xác định thông qua báo chí, internet, thư viện….
Thực nghiệm, quan sát, điều tra, phỏng vấn, bằng các phương tiện hỗ trợ
máy ghi âm, máy ảnh.
+ Xử lý thông tin: Sử dụng biểu đồ để giải thích các dữ liệu hoặc tập giải
thích biểu đồ.
+ Thảo luận với các thành viên khác: các thành viên trong nhóm thường
xuyên trao đổi thảo luận để tập hợp dữ liệu, giải quyết vấn đề, kiểm tra tiến độ.
+ Trao đổi và xin ý kiến giáo viên hướng dẫn.[1]
*Tổng hợp kết quả
+ Xây dựng sản phẩm: Tổng hợp tất cả các kết quả đã phân tích thành sản
phẩm cuối cùng.
+ Trình bày sản phẩm: Sản phẩm cuối cùng có thể được trình bày dưới nhiều
dạng khác nhau: bài thuyết trình, biểu diễn (kịch, hát, múa, thơ, …), trưng
bày triển lãm (tranh ảnh, vật thật, báo tường, mô hình,…), powerpoint,…
19