Tổ chức dạy học dự án qua hoạt động ngoại khóa khi dạy nội dung kiến thức bài Định luật bảo toàn động lượng Vật lý 10 - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TẠ ĐĂNG THÁI

TỔ CHỨC DẠY HỌC DỰ ÁN QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHOÁ
KHI DẠY NỘI DUNG KIẾN THỨC BÀI “ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN
ĐỘNG LƯỢNG” VẬT LÍ LỚP 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÍ

Hà Nội – 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
1
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trang

1
2. Mục tiêu nghiên cứu
2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
2
4. Đối tượng nghiên cứu
3
5. Giả thuyết khoa học
3
6. Phương pháp nghiên cứu
3
7. Ý nghĩa của đề tài
4
8. Cấu trúc luận văn
4
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC
THEO DỰ ÁN VÀ TỔ CHỨC NGOẠI KHÓA, HỘI THI VẬT LÍ

5
1.1. Quan điểm hiện đại về dạy học
5
1.1. Bản chất của hoạt động dạy
5

2
1.3.1. Khái niệm của hoạt động ngoại khoá ở trường THPT
27
1.3.2. Tác dụng, ý nghĩa của hoạt động ngoại khoá .
28
1.3.3. Nguyên tắc tổ chức hoạt động ngoại khoá ở THPT
30
1.4. Hội thi vật lí:
31
1.4.1. Khái niệm về hội thi
31
1.4.2. Các bước tiến hành hội thi vật lý
32
1.5. Tổ chức dạy học dự án qua hoạt động ngoại khoá
33
1.5.1. Tiến trình dạy học dự án qua hoạt động ngoại khoá vật lí
33
1.5.2. Một số kỹ thuật hoạt động nhóm tổ chức dạy học dự án qua hoạt
động ngoại khoá

34
Kết luận chương 1
37
Chương 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC DỰ ÁN BÀI “ĐỘNG LƯỢNG -
ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN ĐỘNG LƯỢNG” VẬT LÍ LỚP 10 BAN CƠ
BẢN QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VÀ HỘI THI VẬT LÍ



3
2.2.3. Các câu hỏi của dự án (Câu hỏi định hướng-câu hỏi nội dung)
48
2.2.4. Nhiệm vụ của giáo viên và học sinh trong quá trình thực hiện dự án
bài “Động lượng-Định luật bảo toàn động lượng” Vật lí lớp 10 ban cơ bản .

48
2.2.5. Kế hoạch tổ chức dạy học dự án qua hoạt động ngoại khoá sau khi
học xong nội dung kiến thức bài “Động lượng-Định luật bảo toàn động
lượng” Vật lí lớp 10 ban cơ bản. 50
2.3. Tiến trình tổ chức hội thi vật lý
51
2.3.1. Công tác chuẩn bị
51
2.3.2. Nội dung hội thi
52
2.3.3. Các tiêu chí đánh giá
52
Kết luận chương 2
59
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
60
3.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm
60
3.2. Đối tượng thực nghiệm sư phạm
60
CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU TRONG LUẬN VĂN STT
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
1.
DHDA
Dạy học dự án
2.
ĐC
Đối chứng
3.
GS
Giáo sư
4.
GV
Giáo viên
5.
HĐNK
Hoạt động ngoại khóa
6.
HS
Học sinh
7.
PPDH
Phương pháp dạy học
8

được hứng thú, nhu cầu, sở thích và khả năng độc lập, tích cực tư duy của học
sinh. Để làm được điều đó, bên cạnh việc đổi mới nội dung, phương pháp dạy
học thì sự phối hợp các hình thức tổ chức dạy học là việc làm cần thiết. Trong
nhà trường hiện nay điều đó chưa được quan tâm một cách đúng mức và hình
thức lên lớp là một hình thức phổ biến.
Dạy học theo dự án là phương pháp dạy học mang tính xây dựng, trong
đó người học hoàn toàn chủ động tham gia hoạt động dưới sự hướng dẫn của
người dạy, để tạo ra một sản phẩm hay vận dụng các kiến thức đã học để tìm
hiểu, thực hành nghiên cứu một vấn đề trong học tập hay giải quyết một vấn
đề trong cuộc sống. Hay nói khác, học theo dự án là một hoạt động học tập
nhằm tạo cơ hội cho người học tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực học tâp
và áp dụng một cách sáng tạo vào thực tế cuộc sống. Quá trình học theo dự án
giúp người học củng cố kiến thức, xây dựng các kỹ năng hợp tác, giao tiếp và
học tập độc lập, chuẩn bị hành trang học tập suốt đời cho người học, đặc biệt
là thế hệ trẻ và đối mặt với thử thách trong cuộc sống. Học theo dự án là hoạt
động tìm hiểu sâu về một chủ đề cụ thể với mục tiêu tạo cơ hội để người học
thực hiện nghiên cứu vấn đề thông qua việc kết nối các thông tin, phối hợp
nhiều kỹ năng giá trị và thái độ nhằm xây dựng kiến thức, phát triển khả năng.
Hoạt động ngoại khoá là một hình thức tổ chức dạy học, là một dạng
hoạt động của học sinh tiến hành ngoài giờ lên lớp chính thức, phạm vi quy
định của chương trình nhằm hỗ trợ cho chương trình nội khoá, góp phần hoàn
thiện và phát triển nhân cách của học sinh.
Bài định luật bảo toàn động lượng trong chương trình vật lý lớp 10 Ban
cơ bản có thể được củng cố và phát triển nhiều kỹ năng khác cho học sinh

2
bằng hình thức dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khoá với chủ đề:
“Động cơ phản lực và các ứng dụng trong thực tế cuộc sống.”
Với vai trò là một Bí thư đoàn trường, và là một giáo viên giảng dạy
môn vật lý. Ít nhiều cũng có kinh nghiệm tổ chức các buổi ngoại khoá tôi

nghiệm, sửa đổi, bổ xung để có thể tổ chức nhiều buổi ngoại khoá để bổ sung
cho nội dung kiến thức khác trong chương trình vật lý phổ thông.
4. Đối tượng nghiên cứu
Nội dung kiến thức bài “Động lượng - Định luật bảo toàn động lượng”
sách giáo khoa Vật lí lớp 10 ban cơ bản.
Hoạt động dạy và học bài “Động lượng-Định luật bảo toàn động lượng”
Vật lí lớp 10 ban cơ bản theo dự án thông qua hoạt động ngoại khoá.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng cơ sở lý luận của dạy học dự án để tổ chức hoạt động
ngoại khoá và hội thi cho học sinh khi dạy nội dung bài “Động lượng-Định
luật bảo toàn động lượng” Vật lí lớp 10 ban cơ bản thì sẽ giúp học sinh vận
dụng kiến thức vật lý vào thực tế, phát huy tích cực và phát triển năng lực
sáng tạo của học sinh trong học tập.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận:
+ Các tài liệu về cơ sở lý luận của dạy học dự án, của hoạt động ngoại
khoá và hội thi vật lý để làm cơ sở định hướng cho việc thực hiện mục tiêu
của nghiên cứu.
+ Nghiên cứu chương vật lý lớp 10 đặc biệt quan tâm đến bài “Động
lượng-Định luật bảo toàn động lượng” nội dung sách giáo khoa, sách giáo
viên và các tài liệu tham khảo để xác định mục tiêu dạy học.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Tìm hiểu việc dạy (Thông qua
phỏng vấn, trao đổi) và việc học (Thông qua trao đổi)nhằm đánh giá tình hình
dạy học bài “Động lượng-Định luật bảo toàn động lượng”

4
- Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành thực nghiệm sư phạm, phân
tích kết quả đối chiếu với mục tiêu nghiên cứu từ đó rút ra kết luận của đề tài.
7. Ý nghĩa của đề tài
- Làm rõ cơ sở lý luận về dạy học dự án, về tổ chức ngoại khoá và hội

1.1. Quan điểm hiện đại về dạy học
1.1.1 .Bản chất của hoạt động dạy
Trong phương pháp dạy học tích cực, người thầy là chủ thể của hoạt
động dạy, giữ vai trò chủ đạo trong tiến trình dạy học. Người thầy không còn
đóng vai trò là người truyền đạt kiến thức mà là người thiết kế, tổ chức, điều
khiển hoạt động học để học trò có thể tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ
động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương
trình, đồng thời phát triển tâm lí và hình thành nhân cách.
Như vậy bản chất của hoạt động dạy là hoạt động tổ chức hoạt động
nhận thức cho học sinh, dạy học sinh tìm ra chân lí. Muốn tạo ra được tích
cực trong hoạt động của HS thì người thầy phải có khả năng tổ chức và điều
khiển hoạt động học. Phải làm sao cho các em vừa ý thức được đối tượng cần
lĩnh hội, vừa biết cách chiếm lĩnh được đối tượng đó.
* Vai trò của giáo viên trong hoạt động dạy:
- GV cần phải là người biết tôn trọng hoạt động sáng tạo của trò, Làm
được điều này, GV sẽ mở rộng, tạo hứng thú tư duy sáng tạo hứng thú, kích
thích việc xem xét, so sánh …tạo nên những cảm xúc sáng tạo cho HS.
Giáo viên cần dạy học theo hướng mở nhiều hơn; luôn đặt ra câu hỏi
mở rộng, có tính chuyên môn cao để định hướng, kích thích tư duy sáng tạo
của người học.
- Giáo viên tạo mọi điều kiện cho HS tương tác lẫn nhau, tạo điều kiện
để HS trình bày những ý kiến của họ, cho HS thời gian suy nghĩ, thể hiện và
bảo vệ ý tưởng cá nhân trước tập thể.
- Giáo viên cũng cần sự đồng cảm với HS, cùng HS đối thoại nhằm
giúp HS tích cực và say mê trong sáng tạo.

6
Giáo viên nên tham gia đánh giá cùng học sinh nghĩa là để học sinh có
quyền đánh giá và tự đánh giá. Điều này sẽ giúp cho học sinh ý thức về bản
thân, về những điểm mạnh, điểm yếu của mình từ đó định hướng phát triển

hỏi thầy cô giáo, hoặc người có kinh nghiệm trong lĩnh vực này, biết sử dụng
tri thức có sẵn đê tạo bước nhảy giúp họ nhìn mọi việc theo cách mới.
- Người học luôn để ý quan sát, tìm hiểu, học hỏi ở mọi lúc, mọi nơi.
- Người học cần có tinh thần độc lập. Đây là bản lĩnh khi giải quyết một
vấn đề trong những điều kiện hoàn cảnh khó khăn.
- Người học cần có tinh thần nghiêm túc, cẩn thận khi tìm hiểu, học tập.
- Dám chấp nhận sự thất bại, luôn kiên trì, nhẫn nại và hết mình với công
việc.
- Người học luôn rèn luyện khả năng tư duy và tính logic của vấn đề,
nhìn nhận sự việc trong các mối quan hệ vốn của nó.
1.1.3. Mối quan hệ giữa dạy và học
Quan điểm của Vưgotxky L.X (1896-1934) và nhiều nhà giáo dục
đương thời, dạy học là quá trình tương tác giữa hoạt động dạy của giáo viên
và hoạt động của học sinh. Dạy và học là hai hoạt động có cấu trúc khác nhau
có mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất biện chứng với nhau, thực hiện đồng thời
với cùng một nội dung và hướng tới cùng một mục đích. Sự thống nhất giữa
hoạt động dạy và hoạt động học thể hiện ở nội dung, chương trình, kế hoạch,
phương tiện dạy học.
Trong quá trình tương tác đó, giáo viên là chủ thể của hoạt động dạy,
học sinh là chủ thể của hoạt động học. Hoạt động dạy của giáo viên chỉ nên
giữ vai trò chủ đạo, hướng dẫn với vai trò này, giáo viên một mặt phải lãnh
đạo, tổ chức điều khiển những tác động đến học sinh; mặt khác phải tiếp
Nhận và điều khiển, điều chỉnh tốt thông tin phải hỏi về kết quả học tập thể
hiện trong quá trình và sản phẩm hoạt động học tập của học sinh.
Ngược lại, học sinh là đối tượng chịu sự tác động của hoạt động dạy
đồng thời lại là chủ đề của hoạt động học. Học sinh phải tuân theo sự lãnh

8
đạo, tổ chức điều khiển của giáo viên, đồng thời phải chủ động, tích cực và
sáng tạo trong hoạt động học tập của bản thân. Quá trình tương tác GV - HS

Tư liệu hoạt động dạy học
Định hướng
Liên hệ ngược
Liên hệ ngược
Tổ chức
Thích ứng
Cung cấp tư liệu
tạo tình huống
Giáo viên
Học sinh
Tư liệu hoạt động dạy học
Định hướng
Liên hệ ngược
Liên hệ ngược
Tổ chức
Thích ứng
Cung cấp tư liệu
tạo tình huống
9
Tương tác trực tiếp của học sinh với nhau và giữa học sinh với giáo
viên là sự trao đổi, tranh luận giữa các cá nhân và nhờ đó từng cá nhân học
sinh tranh thủ sự hỗ trợ từ phía giáo viên và tập thể học sinh trong quá trình
chiếm lĩnh, xây dựng tri thức của bản thân.
Mối quan hệ giữa dạy và học thể hiện rất rõ qua các hình thức mà giáo
viên tổ chức cho học sinh.
1.1.4. Các hình thức tổ chức dạy học ở trường trung học phổ thông
Hình thức tổ chức dạy học là một thành tố trong cấu trúc của quá Trình

Theo quan điểm hiện đại về dạy học (dạy học bằng hoạt động, thông
qua hoạt động của học sinh) thì việc tổ chức dạy học thực chất là tổ chức cho
học sinh hoạt động tự lực thông qua đó chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, phát triển
lực và hình thành thái độ. Trong mỗi hình thức tổ chức dạy học lại có nhiều
cách thức tổ chức hoạt động của học sinh. Lựa chọn hình thức tổ chức hoạt
động nào là tuỳ thuộc vào mục đích, nội dung, phương tiện dạy học và trình
độ học sinh. Mội hình thức tổ chức dạy học có yếu điểm riêng, đáp ứng được
việc thực hiện một số mặt trong mục tiêu chung của dạy học sẽ mang lại hiệu
quả cao, tạo ra một chất lượng toàn diện ở học sinh và phát huy được tính tích
cực và năng lực sáng tạo của học sinh.
1.1.5. Các biểu hiện của tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh
trong học tập
1.1.5.1. Tính tích cực học tập
“Theo quan điểm triết học tính tích cực nhận thức thể hiện thái độ cải
tạo của chủ thể nhận thức đối với đối tượng nhận thức. Theo tâm lý học tính
tích cực nhận thức được hiểu thái độ cải tạo của thể đối với khách thể thông
qua sự huy động ở mức độ caơ của các chức năng tâm lí nhằm giải quyết
những vấn đề học tập - nhận thức “[12].
Như vậy, tính tích cực học tập là một hiện tượng sư phạm biểu hiện ở
sự cố gắng cao về nhiều mặt trong học tập (L.V. Rebrova). “Học sinh phát
biểu, diễn đạt quan điểm, trình bày và tranh luận về những phát hiện mới của

11
mình. Hơn nữa, trong tiến trình giờ học của học sinh rất tự chủ khi trình bày
vấn đề, lớp học tranh luận thật tích cực và hào hứng” [14].
* Các biểu hiện:
+ Học sinh khảo sát tự nguyện tham gia trả lời câu hỏi của giáo viên,
bổ sung câu trả lời của bạn, thích hợp được phát biểu ý kiến của mình về vấn
đề nêu ra.
+ Học sinh hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề

huy tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh là trong những biện
pháp không thể hiểu của người thầy trong quá trình dạy học.
1.1.5.2. Năng lực sáng tạo
“Sáng tạo một loại hoạt động mà kết quả của nó là một sản phẩm tinh
thần hay vật chất có tính cách tân, có ý nghĩa xã hội, có giá trị” (sáng tạo.
Bách khoa toàn thư Liên Xô. Tập 42 trang 54).
Nằng lực sáng tạo là khả năng tạo ra những giá trị mới về vật chất vá
tinh thần, tìm ra cái mới, giải pháp mới, công cụ mới, vận dụng thành công
những hiểu biết đã có vào hoàn cảnh mới.
Như vậy, sản phẩm của sự sáng tạo không thể suy ra từ cái đã biết bắng
cách suy luận logic hay bắt chiếc làm theo.
Biểu hiện của năng lực sáng tạo trong dạy học:
+ Từ những kinh nghiệm thực tế, từ những kiến thức đã có học sinh
đưa ra được các phương án thiết kế, chế tạo dụng cụ thí nghiệm, đưa ra nhiều
cách chế tạo khác nhau hay đề xuất được những sáng kiến kĩ thuật để dụng cụ
bền, đẹp hơn.
+ Vận dụng được kiến thức lý thuyết vào thực tế một cách linh hoạt
như giải thích một số hiện tượng vật lí, giải thích nguyên tắc hoạt động và
một số ứng dụng kĩ thuật liên quan đến các dụng cụ.
Để phát huy tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh trong học
tập thì tổ chức dạy học dự án có rất nhiều ưu điểm. 13
1.2. Dạy học dự án
1.2.1. Khái niệm dạy học dự án
Thuật ngữ “dự án” trong tiếng Anh là “project” có nghĩa là phác thảo,
dự thảo, thiết kế. Khái niệm dự án ngày nay được hiểu như là một dự định,
một kế hoạch trong đó cần xác định rõ mục tiêu, thời gian, phương tiện tài
chính, điều kiện vật chất, nhân lực và cần đạt được mục tiêu đề ra.

lĩnh vực hoặc nhiều môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang
tính phức hợp.
- Cộng tác làm việc. Trong quá trình thực hiện dự án có sự cộng tác làm
việc giữa các thành viên trong nhóm, giữa HS với GV và có thể giữa HS với
những người khác bên ngoài nhà trường có liên quan trong dự án. Đặc điểm
này gọi là học tập mang tính XH.
1.2.3. Phân loại dự án
Tuỳ theo các cơ sở phân loại mà ta có các loại dự án học tập sau:
- Phân loại theo chuyên môn:
+ Dự án trong môn học: Loại dự án chỉ giới hạn trong bộ phận một
môn học cụ thể. Ví dụ dự án “Bảo tồn đa dạng sinh học” chỉ gói gọn trong nội
dung kiến thức của môn Sinh học.
+ Dự án liên môn học: Khi thực hiện dự án HS phải kết hợp với kiến
thức của một số môn học khác. Ví dụ thực hiện dự án “Nghiên cứu chế tạo
máy phát điện vừa và nhỏ”, HS phải sử dụng kết hợp kiến thức môn Vật lí,
Công nghệ, Toán học,… để hoàn thành sản phẩm.
+ Dự án ngoài môn học: dự án này không nằm trong nội dung các môn
học trong nhà trường, chẳng hạn dự án thiết kế một buổi trình diễn thời trang
cho lứa tuổi học đường, xây dựng chương trình cho một buổi nói chuyện, gặp
gỡ với các chuyên gia tư vấn.
- Phân loại theo quĩ thời gian:
+ Dự án nhỏ: thực hiện trong thời gian ngắn từ 2 đến 6 tiếng đồng hồ.
+ Dự án trung bình: còn gọi là ngày dự án.
+ Dự án lớn: còn gọi là tuần dự án lớn.

15
- Phân loại theo hình thức tham gia:
+ Dự án cá nhân: Bản thân mỗi HS tiến hành làm dự án học tập cho
riêng mình. Thường thì những dự án như thế tương đối đơn giản và mất
không nhiều thời gian.

Dự án tập trung vào những mục tiêu học tập quan trọng gắn với các
chuẩn kiến thức, kỹ năng và tập trung vào những hiểu biết của HS sau quá
trình học. Từ việc định hướng vào mục tiêu, GV sẽ lựa chọn hình thức dạy
học phù hợp, lập ra kế hoạch đánh giá và tổ chức các hoạt động dạy và học.
Kết quả của dự án được thể hiện kết tinh trong sản phẩm của HS và quá trình
thực hiện nhiệm vụ, ví dụ phần thuyết trình đày thuyết phục thể hiện sự lĩnh
hội các chuẩn nội dung và mục tiêu dạy học.
Trong dạy học dự án cần phải xác định bộ câu hỏi định hướng. Câu hỏi
định hướng sẽ giúp các dự án tập trung vào những hoạt động dạy học trọng
tâm, chú trọng đến các chủ đề quan trọng, đồng thời hướng HS đến những kỹ
năng tư duy ở mức độ cao hơn và đảm bảo các dự án của HS có tính hấp dẫn,
thuyết phục. HS được giới thiệu về dự án thông qua các câu hỏi gợi mở những
ý tưởng lớn, xuyên suốt và có tính liên môn. HS sẽ buộc phải tư duy sâu hơn
về các vấn đề nội dung của môn học theo các chuẩn mục tiêu.
Câu hỏi khung chương trình sẽ giúp các dự án tập trung vào những hoạt
động dạy học trọng tâm. Học sinh được giới thiệu về dự án thông qua các câu
hỏi gợi mở những ý tưởng lớn, xuyên suốt và có tính liên môn. Học sinh sẽ
buộc phải tư duy sâu hơn về các vấn đề nội dung của môn học theo các chuẩn
và mục tiêu. Có ba dạng câu hỏi khung chương trình: Câu hỏi khái quát, Câu
hỏi bài học và Câu hỏi nội dung. Câu hỏi khái quát là các câu hỏi rộng, có
tính mở, đề cập đến các ý tưởng lớn và các khái niệm xuyên suốt. Câu hỏi loại
này thường mang tính liên môn, giúp học sinh hiểu được mối quan hệ giữa
các môn học. Các câu hỏi bài học được gắn trực tiếp với dự án, hỗ trợ việc
tìm kiếm lời giải cho Câu hỏi khái quát. Các câu hỏi bài học thể hiện mức độ
hiểu những khái niệm cốt lõi về dự án của học sinh. Các câu hỏi nội dung
thường mang tính thực tiễn cao, bám sát các chuẩn và mục tiêu đã đề ra.

17
Ngay từ khi triển khai dự án, các kết quả dự kiến cần phải được làm rõ
và phải luôn được rà soát nhiều lần để kiểm chứng mức độ lĩnh hội bằng các

giáo viên cần lên kế hoạch và chuẩn bị bài hiệu quả. Nếu như mục tiêu là
nhằm giúp học sinh đạt được trình độ cao, cho dù giáo viên dạy theo phương
pháp nào đi chăng nữa cũng cần phải có kế hoạch và sự chuẩn bị thích hợp.
Dạy học theo dự án cũng không nằm ngoại lệ.
Để thành công giáo viên phải phác hoạ các dự án cụ thể trong đầu. Nếu
không bám sát vào mục tiêu dạy học, mục đích của dự án sẽ mơ hồ và kết quả
học tập mong đợi từ phía học sinh có thể bị hiểu sai lệch. Khi thiết kế dự án,
điều quan trọng là phải chắc chắn rằng việc lập kế hoạch hành động sẽ giúp
cho học sinh nhận diện được mục tiêu học tập dự kiến. Bằng việc điểm lại
mục đích, mục tiêu và chuẩn của chương trình, giáo viên sẽ lựa chọn các bài
học ưu tiên trong chương trình.
Về cơ bản, khâu lập kế hoạch dự án bao gồm các bước sau:
1. Xác định mục tiêu học tập cụ thể bằng cách sử dụng các chuẩn nội
dung và những kỹ năng tư duy bậc cao mong muốn đạt được.
2. Thiết lập Bộ câu hỏi khung.
3. Lập kế hoạch đánh giá.
4. Thiết kế các hoạt động.
Tiến trình 4 bước thực hiện đơn giản này có thể khiến các thầy cô nhầm
lẫn nhưng thiết kế dự án không phải là đường thẳng mà là một vòng xoáy trôn
ốc để đảm bảo đi đúng hướng. Bộ câu hỏi khung và phương pháp dự án nên
được thực hiện cùng nhau nhằm hỗ trợ cho việc đạt mục đích dạy học và
những chuẩn trọng tâm của bài học. Trong suốt bài học, nên tạo nhiều cơ hội
để đánh giá và theo dõi sự tiến bộ của học sinh.
Những quan niệm sai lệch về cách tiếp cận dự án.
Khi nghe thấy cụm từ “Dạy học theo dự án”, người ta sẽ nghĩ đến nhiều
khái niệm và định nghĩa khác nhau. Điều này có thể sẽ gây ra việc hiểu sai
lệch dưới đây:

19
Dự án bao gồm các hoạt động thực hành và tư duy với độ phức tạp và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status