Dạy học theo chủ đề và sự vận dụng nó vào giảng dạy phần kiến thức các định luật bảo toàn - Pdf 19



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH TRẦN VĂN HỮU
DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ VÀ SỰ VẬN DỤNG NÓ
VÀO GIẢNG DẠY PHẦN KIẾN THỨC
“CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN” VẬT LÍ LỚP 10 THPT
VỚI SỰ HỖ TR CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học môn Vật lí

Mã số: 60.14.10 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS. LÊ THỊ THANH THẢO


KHKT : Khoa học kỹ thuật.
KHCN : Khoa học công nghệ.
HS : Học sinh.
MVT : Máy vi tính
PBL : Dạy học theo dự án (Project Based Learning).
PL : Phụ lục
PPGD : Phương pháp giảng dạy.
TG : Thế giới.
THCS : Trung học cơ sở.
THPT : Trung học phổ thông.
SGK : Sách giáo khoa.
UQ : Câu hỏi bài học (Unit Questions).
Xtr-i : Xem trang i trong luận văn.
Xtr-CD : Xem trên đóa CD kèm theo.

MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, thế giới đang bước vào một kỷ nguyên mới với sự phát
triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật hiện đại mà những thành tựu của nó gần
như được áp dụng ngay lập tức vào tất cả các lónh vực, là động lực thúc đẩy sự phát
triển mạnh mẽ về mọi mặt đời sống kinh tế xã hội và tạo ra những chuyển biến cơ
bản trong nền sản xuất hiện đại. Để đáp ứng được những chuyển biến mạnh mẽ đó,
người lao động không những phải có trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ nhất
đònh còn phải có tính độc lập, tự chủ, năng động, sáng tạo, có năng lực giải quyết
vấn đề thực tiễn, có khả năng đào tạo và tự đào tạo để không ngừng phát triển và
đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội và sản xuất. Thực tiễn đó đặt ra cho nền giáo
dục của mỗi quốc gia phải không ngừng đổi mới cả về nôïi dung cũng như phương
pháp giáo dục và đào tạo con người.
Đònh hướng đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp dạy học đã được
xác đònh trong Nghò quyết Trung ương khóa VII (01 – 1993), Nghò quyết Trung ương

của thế kỷ XXI. UNESCO đã dự đoán rằng sẽ có sự thay đổi một cách căn bản nền
giáo dục trên thế giới ở đầu thế kỷ XXI do ảnh hưởng của CNTT.
Ở nước ta, mặc dù đã có những chiến lược đổi mới về mục tiêu, chương trình,
nội dung cũng như đònh hướng đổi mới phương pháp giảng dạy như trên. Cụ thể, gần
đây nhất, chúng ta đã triển khai biên soạn và thử nghiệm chương trình SGK mới.
Nhưng qua tổng kết, bên cạnh một số ưu điểm, việc đổi mới vẫn được đánh giá là
chưa đồng bộ, nên việc thực hiện mục tiêu giáo dục đặt ra vẫn còn gặp những khó
khăn hạn chế. Một vài trong số những khó khăn vẫn được quan tâm và bàn luận

nhiều nhất là sự mâu thuẫn giữa mục tiêu đào tạo với nội dung chương trình đào tạo;
giữa phương pháp giảng dạy với chương trình SGK; giữa mục tiêu, nội dung, phương
pháp giảng dạy với nền tảng kiến thức của người học và phương tiện kiểm tra đánh
giá, …
Khi tìm hiểu cấu trúc, nội dung kiến thức và thực trạng dạy học phần kiến thức
các đònh luật bảo toàn ở lớp 10 THPT hiện nay, chúng tôi nhận thấy khi dạy phần
kiến thức này, cả GV và HS đều gặp phải những khó khăn về mặt nội dung kiến
thức, về logic hình thành cũng như phương pháp tiếp cận từng đơn vò kiến thức, do đó
dẫn đến chất lượng và hiệu quả dạy học phần kiến thức này chưa cao.
Với xu thế xã hội và thực tiễn đặt ra như trên, cùng với sự mong muốn nâng cao
chất lượng dạy học phần kiến thức này, chúng tôi chọn vấn đề nghiên cứu là: “DẠY
HỌC THEO CHỦ ĐỀ VÀ SỰ VẬN DỤNG NÓ VÀO GIẢNG DẠY PHẦN KIẾN
THỨC “CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN” VẬT LÍ LỚP 10 THPT VỚI SỰ HỖ TR
CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN”.
II. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu vận dụng quan điểm tiếp cận dạy học theo chủ đề với sự hỗ trợ của
CNTT vào dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động của HS, từ đó nâng cao hiệu quả
dạy học.
III. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu bao gồm:

- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng.
- Nghiên cứu các tài liệu về giáo dục học và phương pháp giảng dạy vật lí,
các phương pháp tiếp cận dạy học hiện đại trên thế giới.
- Nghiên cứu các tài liệu hướng dẫn sử dụng công nghệ trong dạy học; các tài
liệu liên quan đến sử dụng một số phần mềm thiết kế web, khai thác
Internet.
2. Điều tra:
- Nghiên cứu, điều tra ý kiến của GV về khả năng vận dụng cách tiếp cận dạy
học theo chủ đề với sự hỗ trợ của CNTT vào dạy học trong trường THPT trong tương
lai.
3. Nghiên cứu thực nghiệm:
- Nghiên cứu sử dụng máy tính và một số thiết bò ngoại vi, cách quản lý việc
học của HS trong phòng máy tính nối mạng.
- Khai thác các tài liệu có liên quan đến chủ đề học tập từ Internet, từ các
đồng nghiệp.
- Thiết kế Website hỗ trợ dạy học.
- Thiết kế tiến trình dạy học.
- Chọn mẫu và dạy thực nghiệm ở trường THPT.
4. Thống kê toán học:
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để trình bày kết quả thực nghiệm sư
phạm và kiểm đònh giả thuyết thống kê về sự khác biệt trong kết quả học tập của hai
nhóm đối chứng và thực nghiệm.
Cấu trúc của luận văn:
Luận văn được cấu trúc như sau:

PHẦN MỞ ĐẦU.
PHẦN NỘI DUNG.
Chương 1:
Những cơ sở lý luận của cách tiếp cận dạy học theo chủ đề với sự
hỗ trợ của CNTT.

và văn hóa của nhân dân ta”. [23]
Cụ thể hóa mục tiêu đó, mục tiêu cụ thể của các môn khoa học về tự nhiên nói
chung và môn Vật lí nói riêng được xác đònh thông qua các nhiệm vụ:
Truyền thụ cho HS hệ kiến thức về khoa học tự nhiên, nhằm giúp người học có
một bức tranh chân thực về thế giới tự nhiên; trang bò hệ thống kiến thức về các
phương pháp nhận thức thế giới và phương pháp tư duy. Với môn Vật lí: truyền thụ
cho HS hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản, có hệ thống về cơ, nhiệt, điện, quang,
nguyên tử và vật lí hạt nhân [14]. Đặc biệt chú trọng xây dựng các khái niệm chủ
chốt, cho rằng: “Nắm vững các khái niệm có nghóa là nắm vững toàn bộ tập hợp
những tri thức về các sự vật mà khái niệm đã cho có quan hệ với chúng” [23].
Phát triển tư duy của HS trong việc thu nhận kiến thức và vận dụng kiến thức
một cách sáng tạo, bồi dưỡng cho HS có phương pháp học tập, phương pháp nghiên

cứu khoa học, bồi dưỡng lòng ham thích nghiên cứu khoa học, trí tò mò, óc sáng tạo,
ý thức tích cực, góp phần vào công cuộc cách mạng kỹ thuật trong quá trình học tập
và chuẩn bò ra thực tế, có khả năng tự lập trong học tập và lao động sản xuất.[14].
Góp phần xây dựng thế giới quan duy vật biện chứng cho HS, làm cho họ hiểu
thế giới tự nhiên là vật chất, vật chất luôn ở trạng thái vận động và vận động theo
quy luật. Củng cố lòng tin khoa học vô thần, ở khả năng con người có thể nhận biết
được các quy luật tự nhiên và nhận biết ngày càng chính xác. Góp phần giáo dục
lòng yêu nước, yêu CNXH, tinh thần quốc tế vô sản, rèn luyện nhân sinh quan chủ
nghóa và cộng sản chủ nghóa, từ tính cần cù, cẩn thận, chính xác, cho đến tinh thần
tập thể, thái độ lao động XHCN trong học tập và lao động.
Góp phần giáo dục kó thuật cho HS, làm cho HS nắm được những nguyên lí cơ
bản về các quá trình sản xuất của những ngành chủ yếu. Rèn luyện cho họ kó năng kó
xảo trong việc sử dụng những dụng cụ đo lường đơn giản, phương pháp thực nghiệm
khoa học, biết tiến hành công tác thực hành có kế hoạch và biết xử lý các số liệu
thực nghiệm.
1.1.2. Mục tiêu giáo dục các môn khoa học về tự nhiên khoảng sau
những năm 90 đến nay.

- Tác phong làm việc khoa học, cẩn thận, tỉ mỉ.
- Tính trung thực trong khoa học.
- Tinh thần hợp tác trong học tập và nghiên cứu.

Có thể nói, mục tiêu giáo dục các môn khoa học về tự nhiên ở nước ta, theo
thời gian, đã thay đổi theo hướng tích cực. Tuy nhiên, cách tiếp cận mục tiêu giáo
dục của Việt nam hiện nay vẫn là cách tiếp cận mục tiêu giáo dục kiểu truyền thống.
Thật vậy. Trong lòch sử phát triển các cách tiếp cận mục tiêu giáo dục thì cách
tiếp cận mục tiêu theo quan điểm của nhóm Bloom được gọi là cách tiếp cận truyền
thống (mục tiêu giáo dục xác lập trong ba lónh vực: nhận thức, kỹ năng và thái độ),
trong đó quy đònh cụ thể những yêu cầu trong lónh vực nhận thức (về kiến thức, trình
độ nắm vững kiến thức); các kỹ năng cơ bản và trình độ hoàn thiện từng kỹ năng....
và điều quan trọng là các mục tiêu có thể cụ thể hóa thành những tiêu chí đánh giá
chung cho phép đo lường – đánh giá thành quả học tập của từng học sinh. Mục tiêu
kiểu truyền thống thể hiện sự chờ đợi kết quả học tập ở tất cả học sinh, dù có sự
khác biệt cá nhân như thế nào đều đạt tới một chuẩn mực nhất đònh sau một khóa
học nào đó.
Ở thời điểm ra đời, cách tiếp cận mục tiêu này đã ngay lập tức mang đến cuộc
cách mạng thực sự trong giáo dục, đẩy nhanh sự phát triển giáo dục ở nhiều quốc gia
trong các thập niên sau đó (từ những năm 50 của thế kỷ XX và vẫn còn phổ biến ở
nhiều quốc gia cho đến ngày nay).
Bên cạnh những ưu việt không thể phủ nhận của cách tiếp cận mục tiêu giáo
dục này thì đồng thời nó cũng thể hiện những hạn chế lớn: Đó là giáo dục tạo các
sản phẩm giáo dục (nhân cách) khuôn đúc, nó không quan tâm tới sự phong phú, đa
dạng vốn có của nhân cách cá nhân, cũng có nghóa là không quan tâm đến sự khác
biệt, phong phú, đa dạng của phong cách học tập, phong cách tư duy...., cũng có
nghóa là không quan tâm đến đònh hướng tương lai, nghề nghiệp khác nhau của người
học.
Mục tiêu giáo dục các môn học ở trường phổ thông Việt Nam lần đầu tiên được
chính thức hóa trong văn bản của ngành giáo dục là mục tiêu của lần phân ban này.

phương tiện dạy học chỉ còn là phấn bảng, thí nghiệm vật lý trở thành xa xỉ và chỉ
được sử dụng trong các kỳ thi giáo viên dạy giỏi các cấp...
Có thể nói mô hình dạy học truyền thống tiêu cực là không có mục tiêu hay lấy
nội dung dạy học làm mục tiêu cũng vậy (cách tiếp cận nội dung cũng đã có trong
lòch sử phát triển giáo dục, phổ biến đến những năm 40 của thế kỷ XX, ngày nay
được coi là cách tiếp cận chương trình học lạc hậu nhất).
1.1.4. Cách tiếp cận mục tiêu DH theo hướng hiện đại:
Những hạn chế của cách tiếp cận truyền thống thúc đẩy sự ra đời gần như cùng
một giai đoạn ở thập niên 60, 70 một cách tiếp cận mục tiêu giáo dục mang tính nhân
văn gần như trái ngược lại, đó là cách tiếp cận chủ trương coi trọng nhu cầu cá nhân,
cố gắng làm cho mục tiêu, nội dung học tập thích hợp với người học, coi người học là
trung tâm của quá trình dạy học, coi trọng hứng thú và sự chọn lựa của người học.
Cách tiếp cận này dựa trên nguyên tắc coi mục tiêu giáo dục là sự hiện thực hóa sự
trưởng thành hoặc khả năng của người học.
Tuy nhiên, giáo dục thời kỳ nào cũng là tác động trên bình diện toàn xã hội,
giáo dục bên cạnh sự cần thiết thỏa mãn nhu cầu học tập và phát triển cá nhân, tạo
điều kiện cho sự phát triển nhân cách đa dạng của các nhân thì giáo dục còn có
nhiệm vụ lớn lao là giáo dục – đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ cho
đònh hướng phát triển của quốc gia.
Cách tiếp cận truyền thống – nhân văn (hay cách tiếp cận hiện đại, tiếp cận
phát triển, tiếp cận quá trình) thực chất là sự dung hòa cần thiết hai quan điểm trên
nhằm làm cho giáo dục không chỉ đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội mà còn làm cho
người học tìm thấy sự thỏa mãn nhu cầu học tập và có cơ hội phát triển cá nhân. Các
xu hướng đổi mới giáo dục phổ thông (và cả các bậc học cao hơn) của nhiều quốc gia
hiện nay đồng tình với cách tiếp cận mục tiêu này.

Chúng ta hãy xem và so sánh một số mục tiêu giáo dục (MTGD) khoa học hiện
nay qua Bảng 1 dưới đây:
BẢNG 1:
MTGD MÔN HỌC VẬT LÝ

d) Giải thích các hiện tượng vật
lý,
e) Các kỹ năng thực hành vật lý
(sử dụng dụng cụ đo, đo đạc, lắp
ráp thí nghiệm…
f) Đề xuất các dự đoán khoa học,
các phương án thí nghiệm…
- Mục tiêu thái độ: Sự hứng thú
học tập môn học vật lý, có lòng

Mục tiêu nhận thức:
Phát triển kiến thức khoa
học: Có thay đổi lớn là:
a) Coi trọng việc làm thế
nào tiếp cận và sử dụng
thông tin hơn việc hiểu
biết một số lượng nhất
đònh các khái niệm khoa
học chủ chốt.
b) Nội dung kiến thức
không quan trọng bằng kỹ
năng tiến trình khoa học
và sự hiểu biết về tiến
trình khoa học.
Mục tiêu kỹ năng:
1- Phát triển tư duy lý trí.
2- Tiến trình khoa học và
các kỹ năng tiến trình
khoa học:
a) Quan sát,

làm việc (theo
nhóm, sáng kiến, kỹ
năng giải quyết vấn
đề, óc độc lập, phê
phán...)
- Kỹ năng sống:
giao tiếp, hợp tác,
điều hành, quản lý
- Sau đó mới tới các
kỹ năng thuần túy
trí tuệ.

Mục tiêu thái độ:
Học để chung sống
Học để tự khẳng

yêu thích khoa học, có tác phong
làm việc khoa học, có tính trung
thực khoa học, có ý thức sẵn sàng
áp dụng hiểu biết vật lý vào thực
tế…
+ Ban xã hội: Trong các mục
tiêu kiến thức của ban tự nhiên
thì giảm nhẹ (?)ï các mục tiêu b,
c, d. Giảm nhẹ các yêu cầu về
tính toán đònh lượng và về lý
thuyết trừu tượng.
Trong các mục tiêu kỹ năng,
giảm nhẹ (?) các yêu cầu a, b, c, f


phát triển của cá nhân, của các phong cách học tập khác nhau với mục tiêu truyền
thống hướng tới những nội dung kiến thức và kỹ năng cần thiết phục vụ cho nhu cầu
sự phát triển có đònh hướng nguồn nhân lực cho xã hội. Theo quan niệm này việc dạy
các môn học khác nhau hướng tới nhiều mục tiêu chung như:

- Hiểu biết về tiến trình khoa học và các kỹ năng tiến trình khoa học (không
phải là hiểu hiết về hoạt động nghiên cứu của mỗi khoa học, không phải là các kỹ
năng cần thiết cho hoạt động học tập và nghiên cứu trong mỗi khoa học mà là tiến
trình và các kỹ năng cần thiết có thể áp dụng để giải quyết các vấn đề thuộc các lónh
vực khác nhau một cách khoa học:
- Các kỹ năng tư duy bậc cao: phân tích, tổng hợp, đánh giá,
- Các kỹ năng sống và làm việc trong xã hội đương đại: giao tiếp, ngôn ngữ,
hợp tác, quản lý, tổ chức. điều hành, ra quyết đònh...).
1.2.
SỰ ĐỔI MỚI CÁCH TIẾP CẬN MỤC TIÊU DẪN ĐẾN SỰ THAY ĐỔI
CÁC THÀNH TỐ CÒN LẠI CỦA QUÁ TRÌNH DẠY HỌC.
1.2.1. Sự khác biệt giữa các yếu tố của các mô hình dạy học:
Sự khác biệt về cách tiếp cận mục tiêu đã đưa đến sự khác biệt ở hầu hết các
yếu tố của các mô hình dạy học. Nếu xét các mô hình dạy học dựa trên một số yếu
tố: hình thức tổ chức dạy học, thái độ người học, tính chất quản lý người học, cơ sở lý
luận dạy học, yếu tố trung tâm của quá trình dạy học, phương tiện dạy học, quan hệ
thầy – trò, quan hệ HS – HS, kết quả chủ yếu thu được, chúng ta có thể so sánh sự
khác nhau giữa các yếu tố của mỗi mô hình qua Bảng 2 sau đây:

BẢNG 2:
II III IV I
CÁC YẾU
TỐ
TIẾP CẬN
TRUYỀN


NHẤN MẠNH
MÔN HỌC
ĐỀ CAO
PHƯƠNG PHÁP
NHẤN MẠNH
QUÁ TRÌNH
NHẤN MẠNH
MÔN HỌC
YẾU TỐ
TRUNG
TÂM
GIÁO VIÊN LÀ
TRUNG TÂM
NGƯỜI HỌC LÀ
TRUNG TÂM
THẨM ĐỊNH LÀ
TRỌNG TÂM
GIÁO VIÊN LÀ
TRUNG TÂM

PHƯƠNG
TIỆN DH

PHƯƠNG TIỆN,
ĐỒ DÙNG DH
PHƯƠNG TIỆN
NGHE, NHÌN
THÔNG TIN PHẤN BẢNG
QUAN HỆ

tính) các nội dung trước là cơ sở để xây dựng và tiếp thu các nội dung sau theo chiều
hướng vấn đề ngày càng được mở rộng, đi sâu. Nội dung các bài học cụ thể dành ưu
tiên cho việc xây dựng kiến thức, vì như thế cùng với quá trình dạy học kiến thức
mới học sinh có thể được rèn luyện tư duy, nắm được phương thức họat động nhận
thức, phương pháp nhận thức ... đó cũng là những mục tiêu giáo dục của môn học.
2- Phương tiện hỗ trợ đắc lực để dạy học đạt tới các mục tiêu này là phương
tiện, đồ dùng dạy học, với môn vật lý và các môn khoa học thực nghiệm khác thì
thiết bò, dụng cụ thí nghiệm là phương tiện không thể thiếu để phục vụ cho việc xây
dựng, kiểm chứng lý thuyết. (thay cho dạy chay, học chay hiện nay).
3- Phương pháp dạy học: các phương pháp tạo điều kiện cho học sinh tham gia
tích cực, chủ động vào hoạt động học tập kiến thức mới, tạo điều kiện cho việc
truyền đạt kiến thức đến học sinh hiệu quả nhất. Trong mô hình này các phương pháp
dạy học truyền thống quen thuộc vẫn tỏ ra rất hiệu quả và được tôn vinh (thuyết
trình, đàm thoại, tìm tòi, thí nghiệm... thay cho kiểu dạy học độc giảng của giáo viên
phổ biến hiện nay).
4- Hình thức tổ chức dạy học: Theo lớp với tất cả các đối tượng học sinh (vì tất
cả học sinh đều phải đạt tới các tiêu chí đánh giá kết quả học tập chung)
5- Kiểm tra – đánh giá: Theo các tiêu chí đònh sẵn được cụ thể hóa từ mục tiêu
môn học thành các hình thức, nội dung thi cử chung, coi trọng kết quả cuối cùng.

1.2.2. Xu hướng đổi mới các thành tố của quá trình dạy học theo
hướng tiếp cận hiện đại.
Các thành tố Mục tiêu, Nội dung, Phương pháp - phương tiện dạy học, phương
thức tổ chức dạy học và cách thức kiểm tra đánh giá có quan hệ mật thiết, hữu cơ với
nhau. Sự thay đổi của thành tố này ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến
các thành tố khác. Đặc biệt, khi mục tiêu GD thay đổi, kéo theo sự thay đổi một cách
sâu sắc các thành tố còn lại. Vậy các thành tố này đã thay đổi như thế nào?
Về nội dung:
Mục tiêu GD của nước ta trước đây luôn đặt yếu tố hàng đầu là xây dựng một
hệ thống các khái niệm chủ chốt sao cho chặt chẽ, logic, có hệ thống, điều này đã

phổ thông, ở đó nội dung học được tích hợp trong từng môn học riêng biệt thành các
chủ đề) vừa có ý nghóa khoa học vừa có ý nghóa thực tiễn, tạo cho học sinh hứng thú,
say mê nghiên cứu chúng. Việc lựa chọn chủ đề, xây dựng nội dung các chủ đề có sự
khác nhau ở các quốc gia khác nhau, các trường khác nhau, nó phản ánh những quan
điểm triết học giáo dục riêng.
Khi nghiên cứu các chủ đề có nội dung liên môn, tích hợp, học sinh không
những chiếm lónh được tri thức khoa học mang tính tổng thể (chứ không phải từng
khái niệm riêng lẻ) mà còn được làm quen với tiến trình khoa học và được rèn luyện
các kó năng tiến trình khoa học. Các chủ đề này thường được thận trọng, khéo léo lựa
chọn và xây dựng bắt nguồn từ thực tiễn sinh động mà học sinh đang sống tạo được
hứng thú ở học sinh khi tìm hiểu, xử lí các thông tin khoa học và đời sống từ các
nguồn khác nhau để cùng giải quyết vấn đề đặt ra. Khi đó phần kiến thức cốt lõi
được khéo léo đưa vào trở thành kiến thức chìa khóa mà học sinh tất yếu phải nắm

được để tham gia nghiên cứu chủ đề. Kết quả là bên cạnh kiến thức cốt lõi họ còn
thu được rất nhiều kiến thức khác có được do tự lực tìm và xử lí thông tin.
Các chủ đề có ý nghóa thực tiễn thường có sự tích hợp, vì vậy ở Mó và nhiều
nước Tây Âu (như Pháp, Úc, Hà Lan,..) và cả nhiều nước trong khu vực Đông Nam
Á (như Thái lan, Indonesia, Singapo, Malaixia, Philipin,…) đã từ lâu không tách rời
các môn Lý, Hóa, Sinh ở cấp Tiểu học và THCS, ở hai cấp học này các môn này tích
hợp thành môn Khoa học và chỉ được tách ra ở cấp THPT. Chương trình THPT cũng
được xây dựng thành các chủ đề tích hợp có ý nghóa thực tiễn cao.
Sự tích hợp thành môn Khoa học sẽ được giảng dạy theo một số chủ đề chính.
Các chủ đề chính sau đó dược phân cấp thành các chủ đề nhỏ hơn.
Ví dụ ở Úc, chương trình khoa học gồm các chủ đề chính sau [1]
• Làm việc khoa học.
• Cuộc sống và vật thể sống.
• Vật liệu tự nhiên và vật liệu nhân tạo.
• Năng lượng và sự biến đổi.
• Trái đất và vũ trụ.

các hoạt động. Các bài tập, các tình huống, các vấn đề thực tiễn, … được đưa ra cho
HS giải quyết, HS có cơ hội tìm hiểu những vấn đề mình ưa thích, được phát huy hết
năng lực của mình; kiến thức kinh nghiệm của HS được phát huy một cách tối đa.
Thông qua các hoạt động học tập cụ thể những kiến thức kinh nghiệm này sẽ được

chính xác hóa dần thành kiến thức khoa học, điều này sẽ làm cho các kiến thức mang
tính chất thực tiễn cao và được lưu giữ một cách chắc chắn hơn.
Các cách tiếp cận hiện đại hướng tới sự phát triển tư duy cho học sinh nhưng
không phải mỗi môn học lại trang bò và rèn luyện cho học sinh những hiểu biết về
phương pháp và kỹ năng tư duy của bản thân mỗi khoa học (nhiều khi mang tính đặc
thù cao), mà các môn khoa học riêng biệt phải cùng hướng tới mục tiêu chung làm
cho học sinh hiểu tiến trình khoa học và rèn luyện các kỹ năng tiến trình khoa học có
thể áp dụng để giải quyết một cách khoa học các vấn đề khác nhau trong cuộc sống,
nghề nghiệp sau này, hướng tới rèn luyện những kỹ năng sống và làm việc không thể
thiếu của con người trong thời đại ngày nay. Chính vì thế dạy học phải chú trọng đến
các phương pháp tạo cơ hội, tạo điều kiện cho người học tích cực, chủ động, đặc biệt
là quan điểm kiến tạo trong dạy học, còn quá trình học là quá trình giải quyết các
vấn đề thực tiễn trên cơ sở kiến thức được học.
Trong các mô hình dạy học tích cực khác người ta không dành nhiều thời gian
cho việc cung cấp kiến thức mới bằng cách dẫn dắt xây dựng kiến thức đó như kiểu
dạy học truyền thống hiện nay mà thời gian học chủ yếu dành cho việc giải quyết
vấn đề của các nhóm học sinh. Kiến thức mới có thể được cung cấp một cách đúng
lúc trong quá trình học sinh giải quyết vấn đề thực tiễn được giao, hoặc được giới
thiệu trong một khoảng thời gian ngắn theo cách dạy truyền thống trước khi học sinh
giải quyết vấn đề, hoặc thông qua tài liệu do giáo viên cung cấp, chỉ dẫn. Nói cách
khác, các mô hình dạy học tích cực phổ biến hiện nay thường ưu tiên việc sử dụng
kiến thức vào giải quyết vấn đề thực tiễn đặt ra, học sinh học được tiến trình khoa
học và kỹ năng tiến trình khoa học từ việc giải quyết vấn đề chứ không phải từ việc
tham gia xây dựng kiến thức như quan niệm dạy học truyền thống quen thuộc.
Sự thay đổi về phương tiện dạy học:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status