DANH SÁCH NHÓM VIÊN NHÓM 1
STT Họ và tên Chức vụ Ghi chú
1 Tạ Văn Lĩnh Nhóm trưởng
2 Nguyễn Thị Hải Duyên Nhóm viên
3 Nguyễn Thị Hải (1967) Nhóm viên
4 Nguyễn Thị Hải (1987) Nhóm viên
5 Nguyễn Thị Tú Chinh Nhóm viên
6 Nguyễn Thị Lệ Thủy Nhóm viên
7 Nguyễn Thị Trang Nhóm viên
8 Phùng Thị Thu Hà Nhóm viên
9 Trần Thị Hải Yến Nhóm viên
10 Phạm Thị Hà Nhóm viên
Tổng cộng danh sách có: 10 người.
1
MỤC LỤC
STT Nội dung Trang
Mục lục 1
1
Mục đích của hôn nhân và giải thích các khái niệm liên quan
đến hôn nhân
2 Phong tục hôn nhân qua các thời kỳ:
- Phong tục hôn nhân thời Hùng Vương
- Phong tục hôn nhân thời Phong kiến (ảnh hưởng bởi văn
hóa Trung Hoa)
- Phong tục hôn nhân truyền thống (Từ sau thời phong kiến)
- Phong tục hôn nhân thời hiện đại
- Sự khác nhau giữa nhẫn đính hôn và nhẫn cưới
3 Hôn lễ của dân tộc Dao đỏ
4 Ca dao, dân ca về hôn nhân gia đình
5 Một vài kiểu kết hôn kỳ lạ trên thế giới
6 Ý nghĩa của việc cưới xin
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau
- Nuôi lợn thì phải vớt bèo
Lấy vợ thì phải nộp cheo cho làng
- Ông xã đánh trống thình thình
Quan viên mũ áo ra đình ăn cheo
Từ đó có từ cưới gả, tức là cưới vợ gả chồng, hay dựng vợ gả chồng. Dựng vợ gả
chồng còn gọi là hôn nhân, cưới xin, hôn thú, hôn thư, giá thú (giá là lấy chồng, thú là lấy vợ)
- Hôn nhân là việc nam nữ chính thức lấy nhau. Hôn phối là kết hôn. Hôn lễ là lễ cưới.
3
Ngày xưa, cưới xin cứ đến tối mới đi rước dâu nên gọi là hôn lễ. Hôn là lễ cưới,
hôn cũng có nghĩa là tối, khoảng thời gian từ lúc mặt trời lặn đến lúc đi ngủ (khoảng từ 7
giờ tối đến 10 giờ đêm), đó là thời điểm âm dương giao hoán với nhau, rất tốt cho việc
dựng vợ gả chồng, theo quan niệm của người xưa.
Người Việt xưa trọng lễ nghĩa. Vì vậy việc cưới gả được tổ chức rất long trọng từ
triều đình xuống đến thứ dân.
Ví dụ dưới triều đình nhà Nguyễn lễ cưới của công chúa được tổ chức liên tục 3 ngày
gồm 6 lễ, mỗi ngày cử hành 2 lễ, riêng lễ nạp thái (lễ đầu tiên trong 6 lễ) gồm những lễ vật: 1
con trâu, 1 con lợn, 2 mâm trầu cau, 2 vò rượu ngon, 2 cây gấm, 10 tấm lụa, 4 thỏi vàng, 1
đôi bông vàng, 1 cái trâm vàng, 2 chuỗi ngọc, 16 thỏi bạc Lễ nạp thái (1 trong 6 lễ) của
hoàng tử gồm những lễ vật: 2 thỏi vàng ròng, 4 thỏi bạc, 2 cây gấm, 6 cây lụa, 20 cây vải tốt,
1 đôi xuyến, 1 đôi hoa tai, 1 bộ trâm vàng, 2 chuỗi hạt châu quý, 1 con trâu, 1 con bò, 1 con
heo (các con vật sơn màu đỏ nhốt trong những cũi cũng sơn màu đỏ).
Tại làng xã, các nhà phú quý vẫn giữ 6 lễ (Phú quý sinh lễ nghĩa) nhưng đã thay đổi
rất nhiều và lễ vật cũng giảm đi rất nhiều, còn giới bình dân thì thường tổ chức lễ cưới rất
du di linh động.
"Cây có cội nước có nguồn" người có ông bà tổ tiên, việc tìm hiểu phong tục tập
quán của người xưa là điều cần thiết, tục lệ cưới gả của người xưa là một nét văn hóa độc
đáo của Dân tộc đã góp phần củng cố gia đình bền vững, làm nền tảng vững chắc cho xã
hội, trải suốt 4.000 năm lịch sử vẫn giữ vững nền độc lập tự chủ của đất nước trước bao
thế lực xâm lược bạo tàn. Vậy hôn nhân của Người Việt trong xã hội Việt Nam truyền
b. Lễ rước dâu:
Trong nghi thức rước dâu có tục ném bùn đất, hoa quả vào chú rể. Có lẽ tục này có
ý nghĩa thử thách và cầu mong chú rể gặp may mắn, gặt hái thành quả cao trong lao động
để tạo dựng đời sống gia đình tốt đẹp, hạnh phúc.
Ngày hội làng ở các xã Vân Luông (huyện Phù Ninh) và Chu Hóa (huyện Lâm
Thao) của tỉnh Phú Thọ có diễn lại tích Sơn Tinh rước Ngọc Hoa về núi Tản, người ta
ném đất đá vào người đóng vai Sơn Tinh. Ở nhiều đám cưới của người Mường thời cận
đại vẫn giữ nguyên phong tục cổ truyền này, ném bùn đất, hoa quả vào chàng rể.
c. Lễ thành thân:
Khi làm lễ thành thân còn có tục cô dâu, chú rể ăn chung với nhau một đĩa cơm
nếp, uống chung một chén rượu. Ý nghĩa của tục này cũng là cầu chúc cho hai vợ chồng
luôn gắn bó với nhau, dính nhau như dính cơm nếp và say mê nhau như say rượu.
Tục ăn cơm nếp trong ngày cưới hiện còn thấy ở đám cưới người Mường và một số
dân tộc thuộc khu vực Tây Nguyên.
Trên đây là ý nghĩa của ba tục lệ chính trong hôn lễ thời Hùng Vương, nó phản ánh
tư tưởng, tình cảm của người Việt được biểu hiện rất sinh động, hàm ý sâu sắc trên tinh
thần cộng đồng keo sơn, gắn bó.
2. Đặc điểm hôn nhân thời Hùng Vương:
Một trong những nét đặc trưng cơ bản của xã hội Việt Nam là tính cộng đồng, mọi
việc liên quan đến cá nhân cũng đồng thời liên quan đến cộng đồng, kể cả hôn nhân là
lĩnh vực riêng tư nhất. Hôn nhân của người Việt theo truyền thống không đơn thuần là
việc hai người lấy nhau, mà là việc của cả cha mẹ, họ hàng hai bên, nó xuất phát từ quyền
lợi của cộng đồng trên nền tảng văn hóa và mang những đặc điểm riêng:
- Hôn nhân một vợ, một chồng (Sơn Tinh chỉ lấy Ngọc Hoa, Ngọc Hoa chỉ lấy
Sơn Tinh; cô gái họ Lưu trong truyện Trầu Cau chỉ lấy người anh trong cặp anh em Tân
và Lang…); trai gái gắn bó với nhau một cách ổn định, lâu dài.
- Có tục thách cưới, phản ánh thân phận và giá trị của người phụ nữ (vua Hùng thứ
18 đặt điều kiện lễ vật khi Sơn Tinh, Thuỷ Tinh đến xin cưới Ngọc Hoa).
5
- Đồng nhất lễ hỏi và lễ cưới (nghi thức này còn tồn tại ở nhiều vùng nông thôn
Thời phong kiến, theo luân lý "tam cương ngũ thường", con cái mà có cha khi nào
cũng ở địa vị phụ thuộc, việc hôn nhân của con cái cha mẹ có quyền độc đoán và "đặt đâu
ngồi đấy". Nếu con cái không bằng lòng với người vợ (hay chồng) mà cha mẹ chỉ định thì
6
chỉ có cách bỏ nhà ra đi. Chính sự không cần biết ái tình của con cái, chỉ cốt tìm được nơi
"môn đăng hộ đối" là cha mẹ nhờ "mối lái" điều đình để đính hôn nên đã xảy ra tệ tảo hôn
và tục phúc hôn
Người xưa quan niệm mục đích hôn nhân cốt duy trì gia thống cho nên việc hôn
nhân là việc chung của gia tộc chứ không phải việc riêng của con cái. Bởi vậy định vợ gả
chồng cho con là quyền quyết định của cha mẹ. Nghĩa vụ của mỗi người đối với tổ tiên,
dòng họ là phải truyền giống về sau để "vĩnh truyền tông tộc", do đó luân lý cho người
"vô hậu" là phạm điều bất hiếu rất lớn. Việc hôn nhân không những chỉ có nguyên nhân
huyết thống mà còn có nguyên nhân kinh tế. Người vợ không những phải sinh con đẻ cái
nối dõi tông đường mà còn phải làm lụng và coi sóc việc nhà cho gia đình nhà chồng.
Chế độ "đa thê, đa thiếp" cho phép đàn ông được phép có nhiều vợ mà không phải
vì vợ chính không sinh con hay chỉ sinh con gái. Lấy thiếp (còn gọi là vợ lẽ, vợ hai, vợ
ba, nàng hầu ) không cần tổ chức lễ cưới và vì người thiếp không phải là một phần tử
trọng yếu trong gia đình nên chồng hay vợ chính muốn đuổi khi nào cũng được.
b. Lễ nghi dân gian:
Hôn nhân thời Phong kiến chịu ảnh hưởng rất lớn từ văn hóa Trung Quốc, và có
sáu lễ chính. Để tiến đến lễ cưới, hai gia đình phải thực hiện những lễ sau:
• Lễ nạp thái: sau khi nghị hôn, nhà trai mang sang nhà gái một cặp "nhạn"
để tỏ ý đã kén chọn ở nơi ấy.
• Lễ vấn danh: là lễ do nhà trai sai người làm mối đến hỏi tên tuổi và ngày
sinh tháng đẻ của người con gái.
• Lễ nạp cát: lễ báo cho nhà gái biết rằng đã xem bói được quẻ tốt, nam nữ
hợp tuổi nhau thì lấy được nhau, nếu tuổi xung khắc thì thôi.
• Lễ nạp tệ (hay nạp trưng): là lễ nạp đồ sính lễ cho nhà gái, tang chứng
cho sự hứa hôn chắc chắn.
• Lễ thỉnh kỳ: là lễ xin định ngày giờ làm rước dâu tức lễ cưới. Và sau
bên trai nói rõ ý định muốn hợp thức hóa cuộc hôn nhân, kết tình sui gia. Nếu bên gái
đồng ý thì chàng trai sẽ được phép ở lại nhà gái 3 ngày, làm mọi việc như con cái trong
nhà, Từ đó, gặp ngày mồng Năm tháng Năm (Tết Đoan Ngọ), ngày Tết Nguyên Đán, hay
ngày giỗ kỵ bên nhà gái, thì chàng rể phải mang lễ vật đi Tết vợ, gồm đầu heo, trà rượu
bánh, v.v Nếu giàu có thì lễ Tết là 1 con heo nhốt cũi, cùng nếp đậu bánh trái
Ngày xưa, khi cha mẹ bằng lòng thì con cái phải nghe theo: Cha mẹ đặt đâu con ngồi đó
Nếu bên trai nửa chừng bỏ cuộc thì công của coi như mất hết, nhưng nếu bên gái nửa
chừng hồi hôn thì phải bồi hoàn gấp đôi:
Trai chê vợ của đổ xuống sông
Gái hồi chồng của một thành hai
Sau lễ sơ vấn 1 thời gian, ông mai liên lạc với nhà gái để xin xúc tiến lễ hỏi.
d. Lễ hỏi (còn gọi là lễ ăn hỏi, hay lễ đính hôn):
Người xưa cho quan trọng hơn lễ cưới, nhà trai mang lễ vật (sính lễ) gồm 1 đôi
bông tai, 1 chiếc nhẫn đính hôn, 1 mâm trầu cau, 1 cặp đèn cầy, 1 con heo quay, 1 mâm
xôi màu, trà, bánh đến nhà gái lễ gia tiên. Nhà trai gồm có ông mai, ông bà sui trai cùng
một số bà con thân tộc. Chú rể thắp hương cúng từ đường, chào họ hàng nhà gái rồi mới
được ngồi xuống bên cạnh họ nhà trai. Cô dâu nhận lễ, và nhận họ hàng bên nhà chồng.
Trong lễ này chú rể đeo nhẫn đính hôn cho cô dâu, tức là nhẫn đính ước, giao ước sẽ lấy
nhau làm vợ chồng, do đó lễ hỏi được gọi là lễ đính hôn. Dù chú rể chưa được chính thức
làm lễ gia tiên với cô dâu, nhưng kể từ giờ phút này, chú rể được phép xưng con và gọi
song thân cô dâu là ba má.
Lễ này, nhà gái mời bà con thân tộc đến dự, nhà trai lo khoản tiệc ăn uống này.
Sau 3 ngày, cô dâu phải qua nhà trai đáp lễ bằng cách mời trầu cau bánh họ hàng
bên nhà trai.
Sau lễ hỏi, chú rể phải qua nhà gái "ở rể" làm rể 3 năm, lao động vất vả nhọc nhằn:
Trời mưa cho ướt lá khoai
Công anh làm rể đã hai năm ròng
Nhà em lắm ruộng ngoài đồng
Bắt anh tát nước nhọc lòng anh thay
Tháng Chín mưa bụi gió may
dâu (vu quy):
- Rước dâu hay đón dâu: Ngày xưa gọi là tiểu đăng khoa được tổ chức vào ban tối,
khởi hành chọn giờ hoàng đạo, có 1 người đàn ông dễ tính hiền hậu đứng đón trước ngõ để cầu
mọi việc được mau mắn dễ dàng. Trong lễ này, cô dâu và chú rể cùng thực hiện một số lễ sau:
- Lễ lên đèn: rất quan trọng và thiêng liêng (hay là lễ gia tiên).
- Cô dâu chú rể sang làm lễ tại nhà từ đường họ gái (ngày xưa ở gần nhau)
- Lễ tơ hồng tại bàn Tơ Hồng có bày lễ vật: gà, xôi, trầu, rượu (bên nhà gái)
- Xong vào nhà làm lễ ra mắt ông bà cha mẹ và họ hàng, lạy mỗi người 2 lạy 3 vái,
được cho tiền, vàng hay quà cùng những lời chúc tốt lành.
Lạy cha hai lạy một quỳ
Lạy mẹ hai lạy con đi lấy chồng
Làm lễ cưới xong, đốt pháo, ăn uống vui vẻ, rồi họ nhà trai rót rượu xin phép ra về.
- Vu quy (còn gọi là lễ đưa dâu, tức là đưa cô dâu về nhà chồng):
+ Lễ rước dâu: Đoàn rước dâu của nhà trai đi thành một đoàn, có cụ già cầm
hương đi trước, cùng với người mang lễ vật. Nhà gái cho mời cụ già thắp hương vái trước
bàn thờ rồi cùng ra đón đoàn nhà trai vào. Cô dâu cùng với chú rể lạy trước bàn thờ, trình
với tổ tiên. Sau đó hai người cùng bưng trầu ra mời họ hàng. Bố mẹ cô dâu tặng quà cho
9
con gái mình. Sau đó là cả đoàn rời nhà gái, để đưa dâu về nhà chồng. Họ nhà gái chọn
sẵn người đi theo cô gái, gọi là các cô phù dâu.
+ Rước dâu vào nhà: đoàn đưa dâu về đến ngõ. Lúc này, bà mẹ chồng cầm bình
vôi, tránh mặt đi một lúc, để cô dâu bước vào nhà. Hiện tượng này được giải thích theo
nhiều cách. Thường người ta cho rằng việc làm này có ý nghĩa khắc phục những chuyện
cay nghiệt giữa mẹ chồng và nàng dâu sau này.
+ Lễ tơ hồng: khi hai họ ra về, một số người trừ người thân tín ở lại chứng kiến cô
dâu chú rể làm lễ cúng tơ hồng. Người ta cho rằng vợ chồng lấy được nhau là do ông Tơ
bà Nguyệt trên trời xe duyên cho. Cúng tơ hồng là để tạ ơn hai ông bà này. Lễ cúng đơn
giản, ông cụ già cầm hương lúc đón dâu, hoặc ông cụ già cả nhất của họ hàng làm chủ lễ.
Hai vợ chồng lạy lễ tơ hồng rồi vái nhau.
+ Trải giường chiếu: bà mẹ chồng, hoặc một bà cao tuổi khác, đông con nhiều
Từ 6 lễ người ta rút xuống còn 3 lễ gồm: lễ viếng (bao gồm: lễ dạm, lễ sơ vấn, lễ
vấn danh), lễ hỏi (bao gồm: lễ hỏi, lễ nạp tài), lễ cưới (rước dâu, đưa dâu).
Một số hủ tục cũng đã được loại bỏ bớt khiến hôn nhân mang nhiều ý nghĩa tốt đẹp
hơn: + Không còn tục ở rể, không còn thách cưới, nhưng nhà trai vẫn giữ tục lệ xưa, tự
động mang tiền đến nạp tài trong lễ hỏi.
+ Không còn quan niệm “Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy” nữa, cũng không còn tục
“tảo hôn”, tệ “phúc hôn” và nam nữ lấy nhau thì phải “môn đăng hộ đối”
+ Tiệc cưới không còn tổ chức ăn uống linh đình, tốn kém mấy ngày liền như trước
nữa, nhà trai và nhà gái có thể sẽ gộp chung tiệc cưới của cả hai nhà thành một lễ ăn
mừng với bạn bè và người thân của hai bên gia đình.
+ Đám cưới không những không còn phô trương, tốn kém mà ngày nay đám cưới
còn có nhiều hình thức lạ như: Để tiết kiệm chi phí người ta tổ chức đám cưới tập thể.
Trong một đám cưới có nhiều cô dâu và chú rể làm lễ “bái đường thành thân” cùng một
lúc. Những đám cưới này thường xuất hiện trong quân đội hoặc ở đoàn thanh niên
Hôn nhân hoàn toàn tự do, tự nguyện, bình đẳng, tiến bộ giữa nam và nữ.
(Một đám cưới tập thể)
E. SỰ KHÁC NHAU GIỮA NHẪN ĐÍNH HÔN VÀ NHẪN CƯỚI:
-Nhẫn đính hôn, thì chỉ có 1 chiếc. Người con trai cầu hôn và đeo vào tay người con gái
(trong lễ đính hôn hay đám hỏi). Chiếc nhẫn này có đính hột. Nó có ý nghĩa là sự cam kết
dặn dò, đặt cọc trước về 1 mối tình dài lâu bền vững).
- Còn nhẫn cưới thì là 2 chiếc ,tròn và trơn. Ý nghĩa tình yêu 2 người sẽ suôn sẻ ,trơn tru
không có gì ngăn cản và viên mãn vĩnh cửu suốt cuộc đời. Ngày nay người ta làm hoa văn
trên chiếc nhẫn cưới là đi ngược lại truyền thống về mặt ý nghĩa của hình thức chiếc nhẫn
cưới. Vì tình yêu đôi lứa cần tránh sự gồ ghề va đập, dằn xóc mà ở đó cần sự suôn sẻ
trơn láng và êm đềm dịu dàng lãng mạn
3. HÔN LỄ CỦA DÂN TỘC DAO ĐỎ
Người Dao ở Yên Bái có khoảng 62.000 người, chiếm 9,1% dân số toàn tỉnh, với
địa bàn sống chủ yếu ở huyện Văn Chấn, Văn Yên và Lục Yên.
Mùa xuân, mùa hoa nở, mùa của lễ hội và cũng là mùa cưới hỏi của người dân tộc
Có muốn ǎn nhãn thì lồng sang đây.
Sang đây anh nắm cổ tay,
Anh hỏi câu này: có lấy anh chǎng?
Thẩn thơ dưới gốc mai già,
Hỏi thǎm ông Nguyệt có nhà hay không?
- Lời tâm tình của một cô gái:
Anh đà có vợ con chưa?
Mà anh ǎn nói gió đưa ngọt ngào.
12
Mẹ già anh ở nơi nao?
Để em tìm vào hầu hạ thay anh.
- Ca dao là lời đối đáp giữa chàng trai và cô gái:
Gặp đây Mận mới hỏi Đào
Vườn Hồng đã có ai vào hay chưa?
Mận hỏi thì Đào xin thưa:
“Vườn Hồng có lối, nhưng chưa ai vào…”
Hay:
Chim khôn mắc phải lưới hồng,
Hễ ai gỡ được, đền công lạng vàng.
Anh rằng: anh chẳng lấy vàng,
Hễ anh gỡ được thì nàng lấy anh.
- Lời tỏ tình rất khéo léo của một chàng trai:
Hôm qua tát nước đầu đình,
Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen
Em được thì cho anh xin,
Hay là em để làm tin trong nhà?
Áo anh sứt chỉ đường tà,
Vợ anh chửa có, mẹ già chửa khâu.
Áo anh sứt chỉ đã lâu,
Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng.
- Hoặc lời yêu thương nồng nàn của một người vợ dành cho chồng:
Qua đình ngả nón trông đình
Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu
- Cũng có thể là một lời oán giận:
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng
5. MỘT VÀI KIỂU KẾT HÔN KỲ LẠ TRÊN THẾ GIỚI:
Cưới xin là chuyện hệ trọng của cả đời người. Nó đánh dấu một bước ngoặt mới,
đòi hỏi cả cô dâu lẫn chú rể bắt đầu một cuộc sống mới đầy hạnh phúc và cũng không ít
khó khăn. Mỗi dân tộc, mỗi địa phương có phong tục cưới xin đặc trưng của mình. Thế
nhưng, vẫn có những tục cưới kì lạ đến mức không thể kì lạ hơn. Chúng ta hãy cùng tìm
hiểu để có cái nhìn rõ hơn về hôn nhân trong xã hội:
Tại Iran:
Trước khi có cuộc hôn nhân hợp pháp hai người đã chung sống với nhau từ một
tháng tới vài nǎm trước đó. Thông thường các cô gái không thích làm vợ lâm thời. Một số
cô gái có nhan sắc sau mỗi lần kế hôn (nếu có con) lại gửi con cho bố mẹ đẻ để tiếp tục
một mối nhân duyên mới.
Dân tộc Chilie ở Hymalaya:
Để tránh việc chia cắt đất đai, hai anh em trai lấy chung một vợ. Trường hợp có ba
anh em trai thì anh cả và em út được kết hôn cùng một vợ, người con trai thứ sẽ phải
xuất giá đi tu
Một dân tộc sống trên dãy Hymalaya:
Do thiếu thốn thực phẩm nên không phải bất cứ người đàn ông nào cũng được phép
lấy vợ. Gia đình nào đông con trai thì chỉ người con đầu mới được quyền lấy vợ, sinh con.
Những con trai thứ đành chịu ở không!
Ấn Độ:
Có một dân tộc có kiểu kết hôn hết sức kỳ lạ: 3 đến 4 hoặc nhiều người đàn ông
cùng lấy chung một vợ. Họ có thể giao thoa, tức mỗi người trong số họ có thể cùng với 3
hoặc nhiều người đàn ông khác lấy chung hai, ba hay nhiều vợ.
Vài nơi của Barazil và Guinea:
cường giao tiếp, mở rộng các mối quan hệ xã hội. Đến với đám cưới là đến với một sinh
hoạt vǎn hoá lành mạnh không thể thiếu trong cuộc sống mỗi con người và cả cộng đồng.
Một số lễ thức trong cưới xin xét ở khía cạnh nào đó cũng thể hiện được ý nghĩa
nhất định. Lễ gia tiên, lễ hợp cẩn, lễ lại mặt bộ lộ truyền thống luân lý đạo đức như hiếu
đễ với tổ tiên, trân trọng tình cảm vợ chồng, có trách nhiệm với làng xóm quê hương.
Hình ảnh cô dâu duyên dáng trong tà áo dài truyền thống của những đám cưới xưa
vẫn luôn được mọi người ca ngợi và trân trọng. Nó thể hiện được tính dân tộc của phong
tục Việt nam. Và cũng trong hôn lễ, sự chân thành, sâu sắc của tình yêu đôi lứa được thể
hiện qua các tục lệ cổ truyền. Đó là lời khẩn nguyện (lễ thề nguyền) của cô dâu chú rể
trước gia tiên hai họ, kèm theo là sự trao kỷ vật như trao nhẫn cưới, hứa hẹn ǎn ở với
nhau cho đến “mãn chiều xế bóng”… Tất cả đều nhằm đánh dấu một sự chín muồi của
tình yêu để dẫn tới hôn nhân.
15