phát triển năng lực tư duy cho học sinh thông qua hệ thống bài tập phần dẫn xuất hiđrocacbon hóa học 11 nâng cao trường trung học phổ thông - Pdf 14


B GIO D C V O T O
I H C HU
TR NG I H C S PH M
THI U TR NG GIANG
PHAẽT TRIỉN NNG LặC Tặ DUY CHO
HOĩC SINH THNG QUA H THNG
BAèI TP PHệN DN XUT
HIROCACBON HOẽA HOĩC 11 NNG CAO
TRặèNG TRUNG HOĩC PHỉ THNG
CHUYấN NGNH : LL & PPDH MễN HểA HC
M S : 60 14 10
LU N V N TH C S GIO D C H C
Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS. Nguyn Xuõn Trng
Hu , n m 2011

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là
trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa
từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác.
Huế, tháng 9 năm 2011
Tác giả luận văn
THIỀU TRƯỜNG GIANG

LỜI CẢM ƠN

Với những tình cảm chân thành và tấm lòng biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin
trân trọng cám ơn :
PGS.TS. Nguyễn Xuân Trường, người thầy, người hướng dẫn khoa học
đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo, hướng dẫn tôi hoàn thành nghiên cứu đề tài

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 9
VỀ PHÁT TRIỂN TƯ DUY CHO HỌC SINH 9
TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC 9
  !"# # $ %&'(() $(  !"*&+& *,$& /0-1/0-/ư à ấ đề ể ư ọ .
2 ( %&34& *()+$5 "& *&34& *-/0 /0-/0-/à ậ ọ ạ ọ ọ 
6!4$& 5 42# # *%&'(() $(  !"*&+7ệ ữ à ệ ể ư 
8$&&8$&,  $52 %&'(() $$ $59 *(  !"*&+7ử ụ để ể ă ự ư
& $$4"ệ .
CHƯƠNG 2. SỬ DỤNG BÀI TẬP PHẦN DẪN XUẤT HIĐROCACBON ĐỂ
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY 31
CHO HỌC SINH 31
:;$9!" $(  !" *9 %0(  !"9+5*# (  !"< $*& $5ệ ư độ ậ ư à ư ệ ứ 
:;$9!" $(  !"() !( $50(  !"&8$&( $5# (  !"=&'>!'(ệ ư ừ ượ ư ượ à ư
1
:;$9!" $(  !"&34& *ệ ư ọ 1
:;$9!" $(  !" 4& $50(  !"< $*& $50(  !"%&?%&'$ệ ư đ ướ ư ệ ứ ư 
:;$9!" $(  !",'$5( +ệ ư ạ 
 * @*&0$& A# (& *$5& A, %& Aụ đ ệ ụ ự ệ ư ạ 
& $5%&'%(& *$5& A, %& Aươ ự ệ ư ạ 

 (>! (& *$5& A, %& Aế ả ự ệ ư ạ .
7 9@= (>! (& *$5& A, %& Aử ế ả ự ệ ư ạ 
&B$(@*&= (>! (& *$5& A, %& Aế ả ự ệ ư ạ 
Phần 3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
TT Viết tắt Viết đầy đủ
1 BTHH Bài tập hóa học
2 CTCT Công thức cấu tạo

Biểu đồ 3.1. Thống kê chất lượng kiểm tra 15 phút Error: Reference source not
found
Biểu đồ 3.2. Thống kê chất lượng kiểm tra 1 tiết Error: Reference source not found
Biểu đồ 3.3. Đường luỹ tích bài kiểm tra 15 phút Error: Reference source not found
Biểu đồ 3.4. Đường luỹ tích tổng hợp bài kiểm tra 1 tiếtError: Reference source not
found
Sơ đồ 1. Quan hệ giữa giải BTHH và phát triển tư duy 29
Bảng 3.1. Tổng hợp kết quả điểm kiểm tra 15 phút 80
Bảng 3.2. Thống kê chất lượng kiểm tra 15 phút 80
Biểu đồ 3.1. Thống kê chất lượng kiểm tra 15 phút 80
Bảng 3.3. Tổng hợp kết quả điểm kiểm tra 1 tiết 80
Bảng 3.4. Thống kê chất lượng kiểm tra 1 tiết 80
Biểu đồ 3.2. Thống kê chất lượng kiểm tra 1 tiết 81
Bảng 3.5. Bảng phân phối tần suất luỹ tích các bài kiểm tra 81

Biểu đồ 3.3. Đường luỹ tích bài kiểm tra 15 phút 81
Biểu đồ 3.4. Đường luỹ tích tổng hợp bài kiểm tra 1 tiết 82
Bảng 3.6. Kết quả phân tích thống kê điểm kiểm tra 82
Bảng 3.7. So sánh cặp TN - ĐC với phép thử student 82

Phần 1. MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Triết lí của giáo dục thế kỷ 21 được UNESCO công bố là : Học để học cách học,
học để chung sống, học để sáng tạo. Học tập suốt đời, xây dựng xã hội học tập.
Nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập với cộng
đồng quốc tế. Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện của đất nước, đổi mới nền giáo dục là
trọng tâm của sự phát triển. Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp
hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế là con người. Công cuộc đổi mới này đòi hỏi nhà
trường phải đào tạo ra những con người lao động năng động, sáng tạo làm chủ đất
nước, tạo nguồn nhân lực cho một xã hội phát triển.

hóa học 11 nâng cao trường Trung học phổ thông”
Đây là hệ thống bài tập tự luận và trắc nghiệm khách quan dùng để phát triển
tư duy cho HS trong quá trình dạy học.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cơ sở lí luận về phát triển tư duy, từ đó xây dựng hệ thống bài
tập phần hợp chất hữu cơ có nhóm chức hoá học 11 nâng cao trường THPT, có nội
dung có thể khai thác để phát triển năng lực tư duy cho học sinh.
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu hoạt động tư duy của HS trong quá trình giải BTHH phần hợp
chất hữu cơ có nhóm chức Hóa học 11 nâng cao trường THPT, từ đó hướng dẫn HS
xây dựng tiến trình luận giải, làm cơ sở cho việc tìm kiếm lời giải một cách có hiệu quả.
- Xây dựng những biện pháp có tính phương pháp luận nhằm phát triển năng
lực tư duy hóa học cho HS thông qua việc giải BTHH.
- Xây dựng hệ thống bài tập phần hợp chất hữu cơ có nhóm chức Hóa học 11
nâng cao dùng phát triển tư duy cho HS.
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của những biện pháp có tính
phương pháp luận và hệ thống bài tập đã xây dựng để phát triển năng lực tư duy cho
HS thông qua quá trình tìm kiếm lời giải. Rút ra kết luận về khả năng áp dụng
những biện pháp và hệ thống bài tập đã đề xuất.
4. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
4.1. Khách thể nghiên cứu : Quá trình dạy học môn Hóa học ở trường phổ thông
4.2. Đối tượng nghiên cứu : Hoạt động tư duy của HS trong quá trình giải BTHH
và các biện pháp nhằm phát triển tư duy cho HS thông qua hệ thống bài tập phần
hợp chất hữu cơ có nhóm chức Hóa học 11 nâng cao trường THPT.

5. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu có hệ thống BTHH phần hợp chất hữu cơ có nhóm chức Hóa học 11 nâng
cao trường THPT với nội dung kiến thức phong phú, sâu sắc và GV biết khai thác
triệt để các bài tập đó để rèn luyện các loại tư duy như : Tư duy độc lập, tư duy
logic, tư duy phê phán, tư duy trừu tượng, tư duy hóa học, tư duy sáng tạo, thì

TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC
1.1. Tư duy và vấn đề phát triển tư duy cho học sinh [9], [10], [14]
1.1.1. Tư duy là gì ?
L.N. Tônxtôi đã viết : “Kiến thức chỉ thực sự là kiến thức khi nào nó là thành
quả những cố gắng của tư duy chứ không phải của trí nhớ”. Như vậy, HS chỉ thực
sự lĩnh hội được tri thức chỉ khi họ thực sự tư duy.
Theo M.N. Sacđacôp : “Tư duy là sự nhận thức khái quát gián tiếp các sự vật
và hiện tượng của hiện thực trong những dấu hiệu, những thuộc tính chung và bản
chất của chúng. Tư duy cũng là sự nhận thức sáng tạo những sự vật, hiện tượng
mới, riêng rẽ của hiện thực trên cơ sở những kiến thức khái quát hóa đã thu nhận
được”.
Theo lí thuyết thông tin : “Tư duy là hoạt động trí tuệ nhằm thu thập thông tin
và xử lí thông tin về thế giới quanh ta (tự nhiên và xã hội) và thế giới trong ta (tâm
lí con người)”
1.1.2. Những đặc điểm của tư duy
- Quá trình tư duy nhất thiết phải sử dụng ngôn ngữ là phương tiện : Giữa tư
duy và ngôn ngữ có mối quan hệ không thể chia cắt, tư duy và ngôn ngữ phát triển
trong sự thống nhất với nhau. Tư duy dựa vào ngôn ngữ nói chung và khái niệm nói
riêng. Mỗi khái niệm lại được biểu thị bằng một hay một tập hợp từ. Vì vậy, tư duy
là sự phản ánh nhờ vào ngôn ngữ. Các khái niệm là những yếu tố của tư duy. Sự kết
hợp các khái niệm theo những phương thức khác nhau, cho phép con người đi từ ý
nghĩ này sang ý nghĩ khác.
- Tư duy không tách rời quá trình nhận thức cảm tính : Quá trình tư duy bắt
đầu từ nhận thức cảm tính, liên hệ chặt chẽ với nó trong quá trình đó nhất thiết phải
sử dụng những tư liệu của nhận thức cảm tính.
1
Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lí của con người (nhận
thức, tình cảm, ý trí). Hoạt động nhận thức bao gồm nhiều quá trình khác nhau. Có
thể chia hoạt động nhận thức thành hai giai đoạn lớn là nhận thức cảm tính (cảm
giác và tri giác) và nhận thức lí tính (tư duy và tưởng tượng).

và giữa những khái niệm phản ánh chúng.
Ở đây, có hai cách phát triển tư duy so sánh
+ So sánh liên tiếp (tuần tự) : Trong giảng dạy hóa học thường dùng phương
pháp này khi HS tiếp thu kiến thức mới. So sánh với kiến thức đã học để HS hiểu
sâu sắc hơn.
+ So sánh đối chiếu : Nghiên cứu hai đối tượng (hai chất, hai phản ứng, hai
phương pháp ) cùng một lúc trên cơ sở phân tích từng bộ phận để đối chiếu với nhau.
1.1.5. Những hình thức cơ bản của tư duy
- Khái niệm : Là một tư tưởng phản ánh những dấu hiệu bản chất riêng biệt
của sự vật hiện tượng.
Khái niệm đóng vai trò quan trọng trong quá trình tư duy, được xây dựng trên
cơ sở các thao tác tư duy, nó làm điểm tựa cho các loại tư duy phát triển và là cơ sở
để đào sâu kiến thức, tiến tới xây dựng khái niệm mới. Ngoài ra, các hoạt động suy
luận, khái quát hóa, trừu tượng hóa nhờ có khái niệm mới có cơ sở để tư duy và đi
sâu thêm vào bản chất của sự vật hiện tượng.
- Phán đoán : Là sự tìm hiểu tri thức về mối quan hệ giữa các khái niệm, sự
phối hợp giữa các khái niệm, thực hiện theo một nguyên tắc, quy luật bên trong.
- Suy lý : Hình thức tư duy liên hệ các phán đoán với nhau để tạo thành phán
đoán mới gọi là suy lý. Suy lý được cấu tạo bởi hai bộ phận :
+ Các phán đoán có trước gọi là tiên đề.
+ Các phán đoán có sau gọi là kết luận (dựa vào tính chất của tiên đề để kết luận).
Suy lý chia làm ba loại : Loại suy, suy lý quy nạp và suy lý diễn dịch.
+ Loại suy : Là hình thức tư duy đi từ cái riêng biệt này đến cái riêng bịêt
khác. Loại suy cho ta những dự đoán chính xác sự phụ thuộc và sự hiểu biết về hai
đối tượng. Khi đã nắm vững các thuộc tính cơ bản của đối tượng thì loại suy sẽ
chính xác.

+ Suy lý quy nạp : Suy lý từ quy nạp đến phổ biến, từ những hoạt động tới
quy luật. Do đó, quá trình tư duy, sự suy nghĩ theo quy nạp chuyển từ việc nhận
thức các hiện tượng riêng lẻ đến nhận thức cái chung. Vì thế các suy lý quy nạp

Khi GV giới thiệu những nội dung mới và khó, hãy động viên HS lắng nghe,
chưa ghi chép, sau khi hiểu vấn đề GV để thời gian HS ghi vào giấy. Điều này vừa
rèn tư duy độc lập vừa phát triển khả năng ghi nhớ của các em.
+ Khi làm bài tập HS biết tự rút ra kinh nghiệm cho mình, điểm nào cũ cần ôn
lại, điểm nào mới cần tiếp thu và tích lũy thêm.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi chúng ta có được hệ thống bài tập, bài tập
nhận thức phong phú, phù hợp để phát triển tư duy cho HS.
1.1.6.2. Tư duy logic
- Logic đó là sự nhanh nhẹn nhìn ra vấn đề, nhìn ra tính quy luật trong mỗi sự
vật, hiện tượng. Logic thể hiện ở sự chặt chẽ, có thứ tự hợp lí, rõ ràng, mạch lạc
trong tư duy và trong diễn đạt, nói có góc cạnh chính xác. Logic để phát hiện ra vấn
đề, từ đó tư duy để giải quyết vấn đề.
- Logic còn được hiểu là suy diễn và quy nạp, là phân tích và tổng hợp. Các
mặt này thống nhất, xen kẽ và bổ xung cho nhau. Phân tích gắn với suy diễn, tổng
hợp gắn với quy nạp. Phân tích và tổng hợp xen kẽ nhau định hướng cho suy diễn
và quy nạp.
- Các khoa học đều có tính quy luật, tính logic chặt chẽ. Điều này đòi hỏi
trong quá trình nhận thức phải làm sáng tỏ, đúng đắn quy luật, tính logic của vấn đề.
Trên cơ sở đó đưa ra được các quyết định hợp lí nhất.
- Trong dạy học, logic đầu tiên được thể hiện từ sự quan sát, tiếp theo là so
sánh. Từ những quan sát và so sánh tập cho HS biết suy diễn và quy nạp, biết suy
luận theo tương tự để rồi cao hơn là phân tích và tổng hợp. Phân tích đi sâu vào nội
dung, vào chi tiết của một sự vật và các mối quan hệ giữa các chi tiết đó. Tổng hợp
để phát hiện ra những chi tiết, tình tiết giống nhau trong nhiều sự vật khác nhau từ
đó khái quát chung cho tất cả các sự vật đó. Tiếp đến là dạy phát hiện vấn đề và giải
quyết vấn đề.
- Trong DHHH rèn luyện tư duy logic cho HS là tạo cho HS có phương pháp
tư duy từ khái niệm đến phán đoán và rút ra kết luận, suy lí thông thường qua mọi
câu hỏi, mọi vấn đề và nên được tiến hành thường xuyên liên tục.
1.1.6.3. Tư duy trừu tượng

1.1.6.5. Tư duy khái quát

Khái quát là thao tác trí tuệ trong đó chủ thể dùng trí óc để bao quát nhiều đối
tượng khác nhau thành một nhóm, một loại … trên cơ sở chúng có một số thuộc
tính chung, những mối quan hệ có tính quy luật. Kết quả của khái quát hóa cho ta
một cái gì chung cho hàng loạt sự vật, hiện tượng cùng loại.
Trừu tượng và khái quát là hai thao tác cơ bản đặc trưng của tư duy con người.
Hai thao tác này có quan hệ mật thiết với nhau, chi phối và bổ sung cho nhau giống
như mối quan hệ giữa phân tích và tổng hợp.
1.1.6.6. Tư duy đa hướng
- Tư duy đa hướng (đa chiều) là kiểu tư duy tìm nhiều hướng (nhiều cách) để
thực hiện một công việc.
- HS tư duy đa hướng khi cần làm một việc gì trước tiên bao giờ cũng suy nghĩ
để tìm xem có bao nhiêu cách để làm việc đó. Sau đó mới chọn ra cách thuận lợi
nhất để thực hiện.
1.1.6.7. Tư duy biện chứng
- Sáng tạo bắt đầu từ việc “phát hiện ra vấn đề” sau đó mới tìm cách giải quyết
vấn đề và khi giải quyết được thì sẽ có một cái gì đó mới ra đời giúp ta vượt qua
được khó khăn để tiến về phía trước. Nhưng làm thế nào để có khả năng phát hiện
vấn đề ? Điều này liên quan đến vấn đề phát triển tư duy biện chứng.
- Tư duy biện chứng thừa nhận sự thống nhất của các mặt đối lập nên không
chịu ép một bề, trong khó khăn vẫn nhìn ra thuận lợi, vì vậy sẽ phát hiện ra vấn đề
“Hãy tìm cho hết các mặt thuận lợi” và cũng nhắc nhở cảnh giác để thuận lợi đừng
chuyển hóa thành khó khăn. Nếu ta đề cao tư duy sánh tạo thì phải rất đề cao tư duy
biện chứng. Không những nó giúp ta giải quyết vấn đề mà khi vấn đề đã được phát
hiện thì nó cũng giúp ta tìm hướng để giải quyết vấn đề.
- Biện chứng là một phạm trù lớn của Triết học, tuy nhiên trong DHHH đặc
trưng nhất về tư duy biện chứng đó là : Từ cấu tạo của chất suy ra tính chất của chất
và ngược lại từ tính chất của chất có thể dự đoán về cấu tạo của chất. Nó được bắt
đầu từ việc phát hiện ra những mâu thuẫn, sau đó tìm cách giải quyết các mâu

các tiểu phân vô cùng nhỏ bé của thế giới vi mô (nguyên tử, phân tử, ion, electron, ).
- Đặc điểm của quá trình tư duy hóa học là sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất
giữa những hiện tượng cụ thể quan sát được với những hiện tượng cụ thể không
quan sát được, ngay cả khi dùng kính hiển vi điện tử, mà chỉ dùng kí hiệu, công
thức để biểu diễn mối liên hệ bản chất của các hiện tượng nghiên cứu.
Vậy bồi dưỡng phương pháp và năng lực tư duy hóa học là bồi dưỡng cho HS
biết vận dụng thành thạo các thao tác tư duy và phương pháp lôgic, dựa vào những

dấu hiệu quan sát được mà phán đoán về tính chất và sự biến đổi nội tại của chất,
của quá trình.
Như vậy cũng giống như tư duy khoa học tự nhiên, toán học và vật lý, tư duy
hóa học cũng sử dụng các thao tác tư duy vào quá trình nhận thức thực tiễn và tuân
theo quy luật chung của quá trình nhận thức.
→ →
Hóa học - bộ môn khoa học lý thuyết và thực nghiệm có lập luận, trên cơ sở
những kỹ năng quan sát các hiện tượng hóa học, phân tích các yếu tố cấu thành và
ảnh hưởng, thiết lập những sự phụ thuộc xác định để tìm ra những mối liên hệ giữa
các mặt định tính và định lượng, quan hệ nhân quả của các hiện tượng và quá trình
hóa học, xây dựng nên các nguyên lý, quy luật, định luật, rồi trở lại vận dụng để
nghiên cứu những vấn đề của thực tiễn.
1.1.6.9. Tư duy phê phán
Thuật ngữ “Tư duy phê phán” được dùng ở đây có nội hàm rộng hơn cách
hiểu “Phê phán” thông thường, tư duy phê phán không chỉ được dùng với ý nghĩa
phê phán mà còn mang ý nghĩa đưa ra phán đoán.
- Tư duy phê phán đó là sự suy nghĩ sâu sắc, sự suy xét chủ động, liên tục, cẩn
trọng về một niềm tin, một giả định khoa học có xét đến những lí lẽ bảo vệ nó và
những kết luận xa hơn được nhắm đến. Cách hiểu này nhấn mạnh đến tính chủ động
của tư duy phê phán. Khi HS tư duy phê phán, các em tự nảy ra câu hỏi, tự đi tìm
các thông tin liên quan, . . . , hơn là học hỏi thụ động từ người khác. Đồng thời cũng
nhấn mạnh đến tính liên tục của tư duy phê phán. Tư duy phê phán đòi hỏi phải xem

nhau, biết áp dụng các thủ thuật tư duy như đặt câu hỏi, quan sát, đưa ra các phán
đoán, thiết lập các giả định.
+ Luôn biết đặt câu hỏi nghi vấn “Có đúng là vậy không ?”
+ Luôn kiểm tra và tự thử thách những điều mình vốn tin. Những quan điểm,
suy nghĩ, những giả sử của người khác xem có đúng sự thật không.
+ Nhận thức và nêu ra được vấn đề
+ Đưa ra những quyết định sáng suốt và tìm ra được những giải pháp, những
lời giải vững chắc.
+ Biết thu thập thông tin, bằng chứng, lí lẽ để khảo sát lại mọi vấn đề.
+ Xác định được nguyên nhân, hậu quả, hệ quả của vấn đề
+ Kiên định giá trị cá nhân
1.1.6.10. Tư duy sáng tạo
Những năm gần đây, từ khi thế giới bắt đầu chuyển mạnh sang nền kinh tế tri
.
thức và xã hội tri thức thì người ta thường đòi hỏi nền giáo dục phải trang bị cho HS
năng lực tư duy sáng tạo như là một phẩm chất quan trọng của con người hiện đại.
- Theo bách khoa toàn thư Liên Xô - Tập 42, trang 54 “Sáng tạo là một loại
hoạt động mà kết quả của nó là một sản phẩm tinh thần hay vật chất có tính cách
tân, có ý nghĩa xã hội, có giá trị”.
- Theo nghĩa thông thường, sáng tạo là một tiến trình phát kiến ra các ý tưởng
và quan niệm mới, hay một kết hợp mới giữa các ý tưởng và quan niệm đã có. Hay
đơn giản hơn, sáng tạo là một hành động làm nên những cái mới. Với cách hiểu đó
thì cái quan trọng nhất đối với sáng tạo là phải có các ý tưởng, như lời của nhà toán
học vĩ đại Poincaré: “Trong sáng tạo khoa học, ý tưởng chỉ là những ánh chớp,
nhưng ánh chớp đó là tất cả”.
- Sáng tạo chính là phá vỡ thói quen, quy tắc thông thường, không đi theo
những chiêu thức cũ, khiến cho người khác bất ngờ. Bạn nghĩ ra, nhưng người khác
không nghĩ ra, đó chính là sáng tạo. Ở đây một điểm hết sức quan trọng là, trước
tiên phải phá vỡ lối tư duy theo kiểu lối mòn. Những người cứ ôm khư khư những
quy tắc cũ rất khó tư duy sáng tạo. Bởi vì họ chỉ nhìn thấy một khoảng trời trong

tạo không thừa nhận kiểu học vẹt và lối ghi nhớ thông tin máy móc. Học tập không
chỉ tiếp nhận tri thức mà còn phải biết áp dụng, vận dụng tri thức đó vào những
công việc cụ thể trong thực tiễn. Chính vì vậy, ở các nước phát triển, một số phương
pháp quan trọng như tập kích não, giản đồ ý đã được áp dụng cho học sinh trong
quá trình dạy học và mang lại hiệu quả cao. Ngoài ra, trong giờ học giáo viên nên tổ
chức cho học sinh thảo luận nhóm. Với cách học này sẽ tạo điều kiện cho học sinh
được trao đổi, tranh luận và khám phá kiến thức mới, giúp các em độc lập hơn, năng
động hơn và sáng tạo hơn.
1.1.7. Vấn đề phát triển năng lực tư duy
- Việc phát triển tư duy cho HS trước hết là giúp HS thông hiểu kiến thức một
cách sâu sắc, không máy móc, biết cách vận dụng kiến thức vào bài tập và thực
hành, từ đó mà kiến thức HS thu nhận được trở nên vững chắc và sinh động. Chỉ
thực sự lĩnh hội được tri thức khi tư duy tích cực của bản thân HS được phát triển
và nhờ sự hướng dẫn của GV các em biết phân tích, khái quát tài liệu có nội dung
sự kiện cụ thể và rút ra những kết luận cần thiết.
- Tư duy càng phát triển thì càng có nhiều khả năng lĩnh hội tri thức nhanh và
sâu sắc, khả năng vận dụng tri thức linh hoạt và có hiệu quả hơn. Như vậy, sự phát
triển tư duy diễn ra trong quá trình tiếp thu kiến thức và vận dụng tri thức, khi tư

duy phát triển sẽ tạo ra một kĩ năng và thói quen làm việc có suy nghĩ, có phương
pháp, chuẩn bị tiềm lực lâu dài cho HS trong hoạt động sáng tạo sau này.
- Muốn phát triển năng lực tư duy, phải xây dựng nội dung dạy học sao cho nó
không phải "thích nghi" với trình độ phát triển có sẵn của HS mà đòi hỏi phải có
trình độ phát triển cao hơn, có phương thức hoạt động trí tuệ phức tạp hơn. Nếu HS
thực sự nắm được nội dung đó, thì đây là chỉ tiêu rõ nhất về trình độ phát triển năng
lực tư duy của HS.
1.1.8. Dấu hiệu đánh giá sự phát triển tư duy
Tư duy phát triển thể hiện ở sự nhạy bén của trí não, là khả năng suy nghĩ
nhanh và phản ứng linh hoạt trước mọi tình huống xảy ra. Người có tư duy phát
triển và toàn diện thì làm việc gì cũng có hiệu quả cao.

Ngoài các yêu cầu trên, bài tập phát triển tư duy cho HS phải đảm bảo thêm
các yêu cầu : có yếu tố bất ngờ, có thể giải được bằng cách giải nhanh, có tình
huống sư phạm, đòi hỏi mức độ tư duy cao.
- Bài tập nhận thức là câu hỏi, bài tập hoặc bài toán mà chứa đựng vấn đề học
tập, bằng những hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo để giải bài toán đó HS
không chỉ hiểu được kiến thức mới mà cả cách thức tìm ra kiến thức mới, từ đó phát
triển năng lực nhận thức, tư duy của HS.
Trong bài tập nhận thức chứa đựng mâu thuẫn nhận thức giữa cái đã biết và
điều chưa biết, chứa đựng cách thức hay quy trình giải quyết vấn đề là cơ sở để phát
triển năng lực nhận thức và tư duy của con người.
1.2.2. Tác dụng của bài tập hóa học
- Ở trường phổ thông, bài tập giữ vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện
mục tiêu đào tạo. Bài tập vừa là mục đích, vừa là nội dung, vừa là phương pháp dạy
học hiệu quả. Bài tập cung cấp cho HS cả kiến thức, con đường giành lấy kiến thức
và cả niềm vui sướng của sự phát hiện - tìm ra đáp số - một trạng thái hưng phấn -
hứng thú nhận thức - một yếu tố tâm lý góp phần rất quan trọng trong việc nâng cao
tính hiệu quả của hoạt động thực tiễn của con người, điều này đặc biệt được chú ý
trong nhà trường của các nước phát triển.
- BTHH là một trong những phương tiện hiệu nghiệm cơ bản nhất để dạy HS
vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, sản xuất và tập nghiên cứu
khoa học, biến những kiến thức đã thu được qua bài giảng thành kiến thức của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status