NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
KHOA KINH TẾ
Đề tài thuyết trình môn Tài Chính Quốc Tế
NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM
SVTH: NGUYỄN THỊ KIỀU AN
NGUYỄN VĂN CHIẾN
TRẦN THỊ CÚC
1. Quan điểm của nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài 7
2. Hệ thống pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài 7
3. Hoạt động đầu tư trực tiếp của nước ngoài tại Việt Nam 10
4. Hoạt động đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nước ngoài 23
KẾT LUẬN 29
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 30 NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM
Trang 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng Nội dung bảng biểu Trang
Bảng 1 Tổng hợp đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 11
Bảng 2 Tổng hợp Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được cấp giấy phép năm
1989 – 2008 phân theo ngành kinh tế
23
Bảng 3 Tổng hợp Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được cấp giấy phép năm
1989 – 2008 phân theo đối tác đầu tư chủ yếu
24
NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM
Trang 4
LỜI MỞ ĐẦU
Thế giới đang đứng trước ngưỡng cửa của sự toàn cầu hoá, hứa hẹn nhiều biến
chuyển. Những ảnh hưởng ngày càng lan rộng của các công ty đa quốc gia cùng với phát
triển như vũ bão của khoa học công nghệ đã thúc đẩy cả xã hội cùng chạy đua trên con đường
phát triển.
Quá trình chuyên môn hóa, hợp tác hóa ngày càng được chuyên sâu góp phần tăng
NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM
Trang 5
I. TỔNG QUAN VỀ ĐẨU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI)
1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Theo IMF: FDI là một hoạt động được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài
trong một doanh nghiệp hoạt động trên một lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế
nước chủ đẩu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp
- Theo WTO: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước
(nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với
quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài
chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở
nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay
đựoc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty"
- Theo Luật đầu tư của thì “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu
tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”
2. Đặc điểm hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Chủ đầu tư phải đóng góp một lượng vốn tối thiểu theo quy định của từng quốc gia(theo
quy đinh của viêt nam tối thiếu là 30% )
- Sự phân chia quyền quản lý của phụ thuộc vào mức độ vốn góp
- Lợi nhuận của các chủ đầu tư phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh và được phân
chia theo tỷ lệ góp vốn
- FDI được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc
tưng phần doanh nghiệp đang hoạt động hay sáp nhập các doanh nghiệp với nhau
- FDI không chỉ gắn liền với di chuyển vốn mà còn gắn liền với chuyển giao công nghệ,
kinh nghiệm quản lý
- FDI hiện nay gắn liền với hoạt động kinh doanh quốc tế của các công ty đa quốc gia
3. Vai trò hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
thế hơn.
4.1. Phân loại theo hình thức, tiến trình đầu tư:
- Đầu tư mới (greenfield investment - GI): Đầu tư mới là các chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở
nước ngoài thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới. Đây là kênh đầu tư truyền
thống của FDI và cũng là kênh chủ yếu để các nhà đầu tư ở các nước phát triển vào đầu tư
ở các nước đang phát triển.
- Mua lại và sáp nhập ( Mergers and Acquisitions _ M&A): Không giống như GI, kênh
M&A là các chủ đầu tư tiến hành đầu tư thông qua việc mua lại và sáp nhập các doanh
nghiệp hiện có ở nước ngoài. Kênh đầu tư này chủ yếu thực hiện ở các nước phát triển và
các nước mới công nghiệp hóa và rất phổ biến trong những năm gần đây.
Ở Việt Nam, FDI vẫn chủ yếu được thực hiện theo kênh GI. Kiểu đầu tư này có vai trò rất
quan trọng đối với quá trình tạo ra những cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết để công nghiệp
hóa và hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, nếu chỉ thu hút FDI theo kênh GI thì không thể
đón bắt được xu hướng đầu tư quốc tế ngày nay, sẽ làm hạn chế khả năng thu hút FDI vào
nước ta.
4.2. Phân loại theo mục đích đầu tư:
- Đầu tư theo chiều ngang (Horizontal integration). Hình thức đầu tư HI là chủ đầu tư có
lợi thế cạnh tranh (công nghệ, kỹ năng quản lý…) trong sản xuất một loại sản phẩm nào
đó. Với lợi thế này, họ có thể kiếm được lợi nhuận cao khi chuyển sản xuất sản phẩm ra
nước ngoài. Mục đích chính của hình thức này là mở rộng và thôn tính thị trường ở nước
ngoài đối với cùng loại sản phẩm có lợi thế cạnh tranh ở nước ngoài, do đó thường dẫn
đến cạnh tranh độc quyền. Đây là hình thức đầu tư ra nước ngoài điển hình của Mỹ và
được thực hiện chủ yếu giữa các nước phát triển.
- Đầu tư theo chiều dọc (Vertical integration): Khác với hình thức HI, hình thức VI là đầu
tư ra nước ngoài với mục đích khai thác nguồn nguyên nhiên liệu tự nhiên và các yếu tố
sản xuất đầu vào rẻ (lao động, đất đai…). Khi đầu tư ra nước ngoài, các chủ đầu tư
thường chú ý đến khai thác các lợi thế cạnh tranh của các yếu tố đầu vào giữa các khâu
sản xuất ra một loại sản phẩm trong phân công lao động quốc tế. Do đó, các sản phẩm
thường được hoàn thiện qua các khâu lắp ráp ở nước nhận đầu tư. Sau đó, các sản phẩm
này có thể lại được nhập về nước đầu tư hoặc xuất khẩu sang các nước khác. Đây là hình
mức độ khác nhau vào các năm 1990, 1992, 1996, 2000; cùng với các văn bản dưới Luật đã
được cộng đồng quốc tế đánh giá là một đạo luật thông thoáng, hấp dẫn, về cơ bản phù hợp
với thông lệ quốc tế. Cùng với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, khung pháp lý song
phương và đa phương liên quan đến ĐTNN cũng không ngừng được mở rộng và hoàn thiện
với việc nước ta đã ký kết 51 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư với các nước và vùng
lãnh thổ. Vì vậy, ngay trong điều kiện cơ chế thị trường của Việt Nam chưa hoàn thiện, các
nhà ĐTNN vẫn có thể tiến hành các hoạt động đầu tư thuận lợi ở Việt Nam mà không có sự
khác biệt đáng kể so với một số nước có kinh tế thị trường truyền thống.
Nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, môi trường pháp lý; đáp ứng yêu cầu hội nhập
kinh tế quốc tế; tăng cường sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động đầu tư, năm 2005
Quốc hội đã ban hành Luật Đầu tư có hiệu lực từ ngày 01/7/2006 và thay thế Luật Đầu tư
nước ngoài và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước. Sự thay đổi này thể hiện sự quan tâm
của Đảng và Nhà nước ta đối với thành phần kinh tế có vốn ĐTNN, một bộ phận quan trọng
của nền kinh tế. Mặt khác, đó cũng là yêu cầu phù hợp với quy luật chung, nhằm đáp ứng kịp
thời sự biến đổi khách quan của tình hình phát triển kinh tế trong nước cũng như quốc tế
NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM
Trang 8
trong từng thời kỳ, để tiến tới một đạo luật ngày càng hoàn chỉnh phù hợp với xu thế hội
nhập, nâng cao khả năng thu hút và sử dụng hiệu quả vốn ĐTNN. Thực tế đã chứng minh
việc ban hành Luật Đầu tư đã góp phần quan trọng trong việc tạo ra những chuyển biến tích
cực của tình hình ĐTNN vào Việt Nam kể từ năm 2006 tới nay.
Luật Đầu tư năm 2005 xác định việc phân cấp mạnh cho UBND cấp tỉnh và Ban quản lý Khu
Công nghiệp, Khu chế xuất, Khu Công nghệ cao và Khu kinh tế (sau đây gọi là Ban quản lý)
cấp Giấy Chứng nhận đầu tư (GCNĐT) cũng như quản lý hoạt động đầu tư và giảm bớt
những dự án phải trình Thủ tướng Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ chỉ chấp thuận về
nguyên tắc đối với một số dự án quan trọng chưa có trong quy hoạch, hoặc chưa có quy
hoạch. Những dự án đã có trong quy hoạch được duyệt và đáp ứng các điều kiện theo quy
định của pháp luật và điều ước quốc tế cũng như các dự án còn lại sẽ do UBND cấp tỉnh và
Ban quản lý tự quyết định và GCNĐT.
Việc phân cấp cấp GCNĐT về UBND cấp tỉnh và Ban quản lý đã tạo điều kiện thuận lợi để
Mặc dù hành lang pháp lý cho ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam mới được ban hành đầu
NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM
Trang 9
năm 1999, nhưng trước thời điểm này một số doanh nghiệp Việt Nam đã tiến hành hoạt động
ĐTRNN.
Để triển khai Nghị định 22/1999/NĐ-CP nói trên, các Bộ, ngành liên quan đã ban hành các
văn bản hướng dẫn cụ thể hoạt động ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam (Thông tư số
05/2001/TT-BKH ngày 30/8/2001 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam ban hành Thông tư số 01/2001/TT-NHNN ngày 19/01/2001 hướng dẫn về quản lý ngoại
hối đối với ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam). Những văn bản nêu trên cùng với các văn
bản pháp luật khác đã tạo nên một khung pháp lý cần thiết cho hoạt động ĐTRNN.
Việc ban hành Nghị định số 22/1999/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn đã đánh dấu mốc
quan trọng trong việc hình thành cơ sở pháp lý cho hoạt động ĐTRNN của doanh nghiệp Việt
Nam, tạo điều kiện cho việc ra đời nhiều dự án ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam hoạt
động đạt hiệu quả nhất định. Đồng thời là minh chứng cho sự trưởng thành về nhiều mặt của
các doanh nghiệp Việt Nam từng bước hội nhập đời sống kinh tế khu vực và thế giới. Tuy
nhiên, qua thực tế cho thấy hoạt động ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam còn lúng túng,
gặp nhiều khó khăn khi triển khai thực hiện, bộc lộ một số hạn chế đòi hỏi cần được hoàn
thiện. Chẳng hạn, các quy định còn thiếu cụ thể, đồng bộ, nhất quán, có một số điều khoản
đến nay không còn phù hợp, không bao quát được sự đa dạng của các hình thức ĐTRNN.
Thủ tục hành chính nhìn chung vẫn còn phức tạp, rườm rà, không ít quy định của cơ quan
quản lý can thiệp quá sâu vào quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Quy trình đăng ký và thẩm định cấp Giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài còn phức tạp, thủ
tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư chưa được rõ ràng. Thiếu các chế tài cụ thể về cơ chế
báo cáo, cung cấp thông tin về triển khai dự án đầu tư ở nước ngoài và chưa có cơ chế kiểm
soát hoạt động ĐTRNN. Cơ chế phối hợp quản lý đối với ĐTRNN chưa được quy định cụ
thể, rõ ràng. Ngoài ra, văn bản pháp lý về ĐTRNN mới dừng lại ở cấp Nghị định của Chính
phủ nên hiệu lực pháp lý chưa cao.
Từ thực tế nêu trên, năm 2005 Chính phủ đã trình Quốc hội luật hóa hoạt động ĐTRNN và
được Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư năm 2005 (có hiệu lực vào tháng 7/2006), trong đó
Trong năm 2009, ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được 10 tỷ
USD, bằng 87% so với năm 2008.
Xuất khẩu của khu vực ĐTNN (kể cả dầu khí) năm 2009 đạt 29,9 tỷ USD, bằng 86,6 % so
với năm 2008 và chiếm 52,7 % tổng xuất khẩu cả nước. Nếu không tính dầu thô, khu vực
ĐTNN xuất khẩu 23,6 tỷ USD, chiếm 41,7 % tổng xuất khẩu và bằng 98 % so với năm 2008.
Nhập khẩu của khu vực ĐTNN năm 2009 đạt 24,8 tỷ USD, bằng 89,2 % so với năm 2008 và
chiếm 36,1% tổng nhập khẩu cả nước. Trong năm 2009, khu vực ĐTNN xuất siêu 5,03 tỷ
USD.
3.2. Tình hình cấp GCNĐT năm 2009:
Theo các báo cáo nhận được đến 15/12/2009, trong năm 2009 cả nước có 839 dự án mới
được cấp GCNĐT với tổng vốn đăng ký 16,34 tỷ USD. Tuy chỉ bằng 24,6 % so với năm
2008 nhưng đây là cũng là con số khá cao trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế hiện nay.
Trong năm 2009, có 215 dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là
5,13 tỷ USD, bằng 98,3% so với năm 2008.
Tính chung cả cấp mới và tăng vốn, trong năm 2009, các nhà đầu tư nước ngoài đã đăng
ký đầu tư vào Việt Nam 21,48 tỷ USD, bằng 30% so với năm 2008.
Theo lĩnh vực đầu tư:
Dịch vụ lưu trú và ăn uống vẫn là lĩnh vực thu hút sự quan tâm lớn nhất của các nhà đầu tư
nước ngoài với 8,8 tỷ USD vốn cấp mới và tăng thêm. Trong đó, có 32 dự án cấp mới với
tổng vốn đầu tư là 4,9 tỷ USD và 8 dự án tăng vốn với số vốn tăng thêm là 3,8 tỷ USD.
Kinh doanh bất động sản đứng thứ 2 với 7,6 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm. Trong đó
có một số dự án có quy mô lớn được cấp phép trong năm như Khu du lịch sinh thái bãi biển
rồng tại Quảng Nam, dự án Công ty TNHH thành phố mới Nhơn Trạch Berjaya tại Đồng Nai
và dự án Công ty TNHH một thành viên Galileo Investment Group Việt Nam có tổng vốn
đầu tư lần lượt là 4,15 tỷ USD, 2 tỷ USD và 1,68 tỷ USD
Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo có quy mô vốn đăng ký lớn thứ ba trong năm 2009
với 2,97 tỷ USD vốn đăng ký, trong đó có 2,22 tỷ USD đăng ký mới và 749 triệu USD vốn
tăng thêm.
Theo đối tác đầu tư:
Trong năm 2009, có 43 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam, các nhà đầu
(USD)
1
CN chế biến,chế tạo 6,766
88,850,994,612 29,634,570,710
2
KD bất động sản 315
40,117,953,638 9,990,957,249
3
Dvụ lưu trú và ăn uống 258
14,964,511,189 2,433,438,420
4
Xây dựng 501
9,103,498,618 3,250,878,311
5
Thông tin và truyền thông 548
4,673,509,012 2,911,662,190
11
Bán buôn,bán lẻ;sửa chữa 307
1,203,191,541 551,787,585
12
Tài chính,n.hàng,bảo hiểm 72
1,181,695,080 1,084,363,000
13
Y tế và trợ giúp XH 65
956,849,074 237,855,506
14
Dịch vụ khác 80
625,730,000 140,541,644
15
HĐ chuyên môn, KHCN 807
597,750,432 275,028,133
TT Hình thức đầu tư
Số dự
án
T
ổng vốn đầu
tư đăng ký
(USD)
Vốn điều lệ
(USD)
1100% v
ốn n
ư
ớc ngo
ài
8,
521
110,802,022,376
34,996,441,787
2
4,736,596,301
1,362,025,481
5H
ợp đồng BOT,BT,BTO
9
1,746,725,000
466,985,000
6Cô
ng ty m
ẹ con
1
98,008,000
82,958,000
Tổng số 10,960
Vốn điều lệ
(USD)
1Đài Lo
an
2,023
21,344,405,8078,628,729,342
2Hàn Qu
ốc
2,327
20,572,892,3166,933,403,450
3
5,448,06
6,282
6Hoa K
ỳ
495
14,539,123,313
2,627,224,710
7BritishVirginIslands
453
13,194,840,649
4,345,974,936
8
11Canada
93
4,798,138,125
1,009,504,656
12Brunei
99
4,693,831,421
949,146,421
13Pháp
274
Samoa
80
2,627,109,168
375,0
27,500
17Síp
6
2,209,065,500
751,681,500
18Vương qu
ốc Anh
120
2,151,477,501
17
987,034,393
772,108,469
22CHLB Đ
ức
139
777,
611,409
367,773,453
23Liên bang Nga
64
765,761,348
582,731,594
300,942,910
148,662,336
27Mauritius
32
215,803,600
147,756,519
28Be
rmuda
5
211,572,867
128,452,000
29
42,472,954
32Cook Islands
3
142,000,00022,571,000
33Channel I
slands
14
113,676,00040,655,063
34
98,421,94841,264,334
37New Zealand
18
96,189,500
58,559,500
38B
ỉ
35
78,598,380
Barbados
2
68,143,00032,193,140
42Na Uy
19
6
6,535,67228,893,735
43Th
ụy Điển
21
46Belize
7
48,000,00025,460,000
47Ma Cao
7
44,200,00025,600,000
48Hungary
51Ph
ần Lan
5
33,435,000
10,950,000
52Ir
ắc
2
27,100,00027,100,000
53
11,769,865
56Panama
7
18,500
,0007,190,000
57Costa Rica
1
16,450,00016,450,000
58
13,314,0486,864,175
61Cu Ba
2
13,200,0004,400,000
62Israel
8
11,680,7865,790,786
63
4,440,000
66Island of Nevis
1
6,000,0001,000,000
67Oman
1
5,000,0001,500,000
68Ireland
1,200,000
71Ma r
ốc
2
2,000,000500,000
72Slovenia
1
2,000,0001,000,000
73
1,2
10,000
76Guinea Bissau
1
1,192,979529,979
77Pakistan
2
1,100,000400,000
78
1
500,000
500,000
81CHDCND
Tri
ều Ti
ên
3
400,000400,000
82Bangladesh
1
Uruguay
1
100,00010
0,000
86West Indies
1
100,00050,000
87Nam Phi
2
Tổng số 10,960
177,112,847,397 57,158,642,419
PHÂN THEO VÙNG/ĐỊA PHƯƠNG TT Địa phương
S
ố dự
án
V
ốn đầu t
ư đăng
ký (USD) Vốn điều lệ (USD)
I
Đ
ồng bằng sông Hồng
2,373
31,088,903,067
11,606,171,747
1
ương
222
2,292,458,434
842,580,574
4V
ĩnh Phúc
126
1,914,556,776
627,125,192
5B
ắc Ninh
134
1,913,038,241
32
209,808,921
89,276,357
9Hà Nam
26
190,359,490
95,243,165
10Nam Đ
ịnh
28
165,891,829
122,829,750
II
354,117,987
194,080,290
13Lào Cai
35
317,734,147
110,807,095
14B
ắc Giang
59
247,555,697
103,566,320
15
20,500,000
18Cao B
ằng
12
27,150,812
22,270,000
19Yên Bái
10
22,915,188
9,729,581
20B
22Sơn La
8
112,620,000
15,272,000
23Hòa Bình
25
84,642,891
37,126,210
24Lai Châu
3
4,000,000
Hà T
ĩnh
9
7,920
,105,000
2,717,915,000
NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM
Trang 15
27Thanh Hóa
33
6,996,148,144
465,461,987
28Th
ừa Thi
ên
-
20,717,100
31Qu
ảng B
ình
4
32,333,800
9
,733,800
V
Duyên h
ải Nam Trung
Bộ 372
14,659,455,612
3,704,878,454
32Phú Yên
987,276,509
35Khánh Hòa
75
1,208,1
72,094
392,705,350
36Qu
ảng Nam
64
735,292,621
279,613,440
37Bình
39Kon Tum
3
77,130,000
74,540,000
40Gia Lai
9
74,934,616
14,160,000
41Đ
ắc Lắc
2
TP H
ồ Chí Minh
2,874
26,073,730,718
9,407,024,729
44Bà R
ịa
-
V
ũng T
àu
198
20,686,540,318
5,511,727,361
45Đ
841,868,678
48Bình Thu
ận
65
710,132,183
216,197,
387
49Tây Ninh
176
701,641,663
404,999,917
50Bình Ph
52Kiên Giang
14
2,772,730,85
7
1,195,170,082
53C
ần Th
ơ
49
688,595,611
633,458,213
54H
ậu Giang
57V
ĩnh Long
13
76,995,000
25,585,000
58Trà Vinh
13
54,057,701
22,893,701
59B
ạc Li
êu
62An Giang
5
17,161,895
6,846,000
63Cà Mau
5
7,000,000
7,000,000
IXD
ầu khí
39
đầu tư xã hội; hai năm 2006-2007 chiếm khoảng 16% (Theo Niên giám Thống kê cơ
cấu vốn đầu tư thực hiện của khu vực ĐTNN năm 2003 là 16%, năm 2004 là 14,2%,
năm 2005 là 14,9% và năm 2006 là 15,9%, ước năm 2007 đạt trên 16%).
Vốn ĐTNN đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước. Từ năm 1991-2000,
GDP tăng liên tục qua các năm với tốc động tăng bình quân mỗi năm 7,56%, trong
đó: (i) 5 năm 1991-1995: tăng 8,18% (nông lâm ngư tăng 2,4%; công nghiệp xây
dựng tăng 11,3%, dịch vụ tăng 7,2%); (ii) 5 năm 1996-2000: tăng 6,94% (nông lâm
ngư tăng 4,3%; công nghiệp xây dựng tăng 10,6%, dịch vụ tăng 5,75%). Nhờ vậy, đến
năm 2000 tổng sản phẩm trong nước tăng gấp hơn 2 lần năm 1990: (iii) 5 năm 2001-
2005: tốc độ tăng GDP đạt 7,5% (nông lâm ngư tăng 3,8%; công nghiệp xây dựng
tăng 10,2%, dịch vụ tăng 7%; (iv) Năm 2006 đạt 8,17% (nông lâm ngư tăng 3,4%;
công nghiệp xây dựng tăng 10,37%, dịch vụ tăng 8,29% và (iv) Năm 2007 đạt 8,48%
(nông lâm ngư tăng 3,4%; công nghiệp xây dựng tăng 10,6%, dịch vụ tăng 8,6%.
- ĐTNN góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, nâng cao năng lực
sản xuất công nghiệp:
Trong 20 năm qua ĐTNN đóng một vai trò quan trọng cho sự tăng trưởng của nền
kinh tế nói chung và cho ngành công nghiệp nói riêng, trong đó từng bước trở thành
nguồn đầu tư quan trọng của Quốc gia, góp phần phát triển các ngành công nghiệp và
tạo công ăn việc làm cho người lao động. Nhiều công trình lớn đã hoàn thành đưa vào
sản xuất, phát huy hiệu quả đầu tư, nhiều công trình trọng điểm làm cơ sở cho tăng
trưởng giai đoạn sau đó được khởi công và đẩy nhanh tiến độ, nhất là các công trình
điện, dầu khí, công nghiệp nặng, công nghiệp phục vụ xuất khẩu
Tốc độ tăng trưởng công nghiệp của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN cao hơn mức tăng
trưởng công nghiệp chung của cả nước, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), tăng tỷ trọng của khu vực
kinh tế có vốn ĐTNN trong ngành công nghiệp qua các năm (từ 23,79% vào năm
1991 lên 40% năm 2004, 41% năm 2005 và năm 2006).
Giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN trong 5 năm qua
chiếm trung bình 42,5% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước. Cụ thể tỷ trọng trên
tăng từ 41,3% vào năm 2000 lên 43,7% vào 2 năm 2004 và 2005. Đặc biệt, một số
các thành phần khác của nền kinh tế thông qua sự liên kết giữa doanh nghiệp có vốn
ĐTNN với các doanh nghiệp trong nước, công nghệ và năng lực kinh doanh được
chuyển giao từ doanh nghiệp có vốn ĐTNN.
Sự lan tỏa này có thể theo hàng dọc giữa các doanh nghiệp trong ngành dọc hoặc theo
hàng ngang giữa các doanh nghiệp hoạt động cùng ngành. Mặt khác, các doanh
nghiệp ĐTNN cũng tạo động lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước nhằm
thích ứng trong bối cảnh toàn cầu hóa.
- ĐTNN đóng góp đáng kể vào NSNN và các cân đối vĩ mô:
Cùng với sự phát triển các doanh nghiệp có vốn ĐTNN tại Việt Nam, mức đóng góp
của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN vào ngân sách ngày càng tăng. Thời kỳ 1996-2000,
không kể thu từ dầu thô, các doanh nghiệp ĐTNN đã nộp ngân sách đạt 1,49 tỷ USD,
gấp 4,5 lần 5 năm trước. Trong 5 năm 2001-2005, thu ngân sách trong khối doanh
nghiệp ĐTNN đạt hơn 3,6 tỷ USD, tăng bình quân 24%/năm. Riêng 2 năm 2006 và
2007 khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đã nộp ngân sách đạt trên 3 tỷ USD, gấp đôi thời
kỳ 1996-2000 và bằng 83% thời kỳ 2001-2005.
NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM
Trang 18
ĐTNN tác động tích cực đến các cân đối lớn của nền kinh tế như cân đối ngân sách,
cải thiện cán cân vãng lai, cán cân thanh toán quốc tế thông qua việc chuyển vốn vào
Việt Nam và mở rộng nguồn thu ngoại tệ gián tiếp qua khách quốc tế, tiền thuê đất,
tiền mua máy móc và nguyên, vật liệu
- ĐTNN góp phần giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế quốc tế:
Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của khu vực ĐTNN tăng nhanh, cao hơn mức bình
quân chung của cả nước, đóng góp quan trọng vào việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu
của cả nước. Thời kỳ 1996-2000, xuất khẩu của khu vực ĐTNN đạt 10,6 tỷ USD
(không kể dầu thô), tăng hơn 8 lần so với 5 năm trước, chiếm 23% kim ngạch xuất
khẩu cả nước; năm 2000 chiếm 25%, năm 2003 chiếm 31%; tính cả dầu thô thì tỷ
trọng này đạt khoảng 54% năm 2004 và chiếm trên 55% trong các năm 2005, 2006 và
2007.
ĐTNN chiếm một tỷ trọng cao trong xuất khẩu một số sản phẩm: 100% dầu khí, 84%
NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM
Trang 19
ĐTNN đã góp phần quan trọng trong việc xóa bỏ cấm vận của Hoa Kỳ đối với Việt
Nam, tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế theo hướng đa phương hóa và đa
dạng hóa, thúc đẩy Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, đẩy
nhanh tiến trình tự do hoá thương mại và đầu tư.
Đến nay, Việt Nam là thành viên chính thức của ASEAN, APEC, ASEM và WTO.
Nước ta cũng đã ký kết 51 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, trong đó có
Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ (BTA), Hiệp định tự do hoá, khuyến khích
và bảo hộ đầu tư với Nhật Bản. Thông qua tiếng nói và sự ủng hộ của các nhà đầu tư
nước ngoài, hình ảnh và vị thế của Việt Nam không ngừng được cải thiện.
c. Về mặt môi trường:
Theo kết quả điều tra năm 2002 (của Viện Quản lý kinh tế trung ương), đa số các doanh
nghiệp có vốn ĐTNN tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường Việt Nam và có kết quả môi trường
tốt hơn so với số đông các doanh nghiệp trong nước (có 77% doanh nghiệp có kết quả về các
thông số gây ô nhiễm môi trường thấp hơn tiêu chuẩn cho phép của Việt Nam). Đáng chú ý là
60% doanh nghiệp ĐTNN trong lĩnh vực chế biến thực phẩm đã lắp đặt thiết bị xử lý nước
thải đúng tiêu chuẩn (so sánh với tỷ lệ 10% của các doanh nghiệp trong nước). Không có
doanh nghiệp ĐTNN nào được điều tra vi phạm tiêu chuẩn môi trường Việt Nam.
3.3.2. Mặt hạn chế:
Tuy đạt được những kết quả quan trọng nêu trên, nhưng hoạt động ĐTNN tại Việt Nam còn
những mặt hạn chế như sau:
a. Sự mất cân đối về ngành nghề, vùng lãnh thổ:
- Mục đích cao nhất của các nhà đầu tư là lợi nhuận. Do đó những lĩnh vực, ngành, dự án
có tỷ suất lợi nhuận cao đều được các nhà đầu tư quan tâm, còn những dự án, lĩnh vực
mặc dù rất cần thiết cho dân sinh, nhưng không đưa lại lợi nhuận thỏa đáng thì không thu
hút được đầu tư nước ngoài.
- Các nhà ĐTNN trong khi lựa chọn địa điểm để triển khai dự án đầu tư thường tập trung
vào những nơi có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thuận lợi, do đó các thành phố lớn,
những địa phương có cảng biển, cảng hàng không, các tỉnh đồng bằng là nơi tập trung
khác. Tính phổ biến của việc nhập máy móc thiết bị là giá cả đươc ghi trong hóa đơn
thường cao hơn giá trung bình của thị trường thế giới. Nhờ vậy một số nhà ĐTNN có thể
lợi dụng để khai tăng tỷ lệ góp vốn trong các liên doanh với Việt Nam.
- Việc chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam được thực hiện thông qua các
hợp đồng và được cơ quan quản lý nhà nước về khoa học công nghệ chuẩn y. Tuy vậy,
đây là một hoạt đông cực kỳ khó khăn đối với các nước tiếp nhận đầu tư nói chung, kể cả
Việt Nam, bởi khó có thể đánh giá chính xác giá trị thực của từng loại công nghệ trong
những ngành khác nhau, đặc biệt trong những ngành công nghệ cao. Do vậy, thường phải
thông qua thương lượng theo hình thức mặc cả đến khi hai bên có thể chấp nhận được, thì
ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ.
3.4. Bài học kinh nghiệm đối với việc quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Từ thực tiễn 20 năm hoạt động ĐTNN tại Việt Nam cũng như kinh nghiệm của một số nước
trong khu vực có thể rút ra một số bài học sau:
- Một là, cần thống nhất nhận thức và có cách nhìn nhạy bén về kinh tế, chính trị, nắm bắt
thời cơ, thuận lợi, thấy rõ được những khó khăn, thách thức từ bên trong cũng như bên
ngoài để kịp thời đề ra được chủ trương, đường lối đúng đắn, tập trung lực lượng, giải
quyết dứt điểm các vấn đề nảy sinh. Chủ trương, đường lối khi đã đề ra phải được quán
triệt thông suốt, đầy đủ từ trung ương đến địa phương và phải được cụ thể hóa kịp thời,
tạo ra sự thống nhất và quyết tâm cao trong việc tổ chức thực hiện để đảm bảo thành
công.
- Hai là, các chủ trương, phương hướng lớn phải được nhanh chóng thể chế hóa thành pháp
luật, cơ chế, chính sách một cách đồng bộ, tạo đủ hành lang pháp lý cho việc thực hiện.
Pháp luật và văn bản liên quan về ĐTNN phải minh bạch, rõ ràng và phù hợp với thông lệ
quốc tế có chú ý tới điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của nước ta. Cơ chế, chính sách phải
đồng bộ thể hiện tính khuyến khích và canh tranh cao so với các nước trong khu vực, có
tính tới quy luật cạnh tranh và xu hướng tự do hóa trong thu hút đầu tư p hù hợp với tiến
trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, đồng thời tạo điều kiện, khuyến khích sự
chủ động, sáng tạo của người thực hiện.
- Ba là, công tác chỉ đạo, điều hành phải thông suốt, thống nhất, có nền nếp, kỷ cương
trong bộ máy công quyền, tạo niềm tin và độ tin cậy đối với nhà đầu tư, đặc biệt đối với
3.5.2.Nhóm giải pháp về hạ tầng: Phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng, quy hoạch hợp lý các
khu công nghiệp tại các địa phương, đặc biệt chú trọng hình thành các khu công nghệ cao thu
hút đầu tư nước ngoài để nâng cao hiệu quả của khu vực FDI. Cần có giải pháp khuyến khích
và thu hút FDI vào các địa phương trong cả nước, trong đó chú trọng tìm ra các thế mạnh, lợi
thế so sánh của từng địa phương để hướng FDI vào các địa phương và cũng giúp giảm sức ép
quá tải về hạ tầng cho các đô thị.
3.5.3.Nhóm giải pháp về phát triển nguồn nhân lực: Giá nhân công rẻ, nguồn nhân lực dồi
dào là một lợi thế so sánh của Việt Nam khi thu hút FDI. Nhưng lợi thế này sẽ dần mất đi khi
nền kinh tế phát triển. Chính vì vậy, lợi thế ở nguồn nhân lực sẽ được khai thác ở khía cạnh
nhân lực có trình độ kỹ thuật, tay nghề cao, có kinh nghiệm quản lý, sẵn sàng đáp ứng được
với trình độ công nghệ mới và hiện đại. FDI là một kênh đào tạo và phát triển nguồn nhân
lực. Tuy nhiên, cần chủ động phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam theo hướng chuyên
môn hoá, tập trung đào tạo nguồn nhân lực có kỹ thuật, tay nghề và trình độ quản lý tốt để
chủ động hơn, sẵn sàng nắm bắt và tiếp nhận công nghệ ở trình độ cao. Một ví dụ là, Tập
đoàn IBM dự định sẽ tuyển 250 chuyên gia công nghệ thông tin vào làm việc tại Trung tâm
Dịch vụ toàn cầu của tập đoàn này tại Việt Nam, và Trung tâm này có thể tiếp nhận từ 3.000
đến 5.000 lao động Việt Nam có trình độ cao về công nghệ thông tin vào làm việc. Tuỳ thuộc
vào tốc độ phát triển, tập đoàn này tuyên bố có thể tiếp nhận 20.000 lao động có trình độ nếu
NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM
Trang 22
Việt Nam đáp ứng đủ
5
. Tuy nhiên thực tế hiện nay, Việt Nam chưa đáp ứng đủ số lượng lao
động có trình độ cao theo yêu cầu của khu vực FDI nói riêng và nhu cầu của xã hội nói
chung.
Mặc dù còn có nhiều hạn chế, nhưng bằng những đóng góp cụ thể vào tăng trưởng, tạo công
ăn việc làm, tăng thu ngân sách, chuyển giao công nghệ, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế đã
chứng minh vai trò quan trọng của FDI trong nền kinh tế của Việt Nam. Tuy nhiên vai trò của
FDI chỉ thực sự phát huy hiệu quả và góp phần vào sự phát triển bền vững khi nó được lựa
chọn và khuyến khích vào những ngành, những khu vực thật sự cần thiết cho nền kinh tế để
T
ỔNG SỐ
375
3980.6
Nông nghi
ệp v
à lâm nghi
ệp
38
485.3
Th
ủy sản
5
9.7
Công nghi
ệp khai thác mỏ
46
ệp; Sửa chữa xe có động c
ơ, mô tô,
xe máy, đồ dùng cá nhân và gia đình 32 40.7
NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM
Trang 23
Khách s
ạn v
à nhà hàng
12
9.0
V
ận tải; kho b
ãi và thông tin liên l
ạc
30
127.0
Các ho
ạt động li
ên quan đ
ến kinh doanh t
ài s
ản
và dịch vụ tư vấn 77 274.0
Giáo dục 1 0.1
phân theo đối tác đầu tư chủ yếu
Đối tác Số dự án
V
ốn đăng ký
(Triệu đô la Mỹ)
(*)
T
ỔNG SỐ
375
39
80.6
Trong đó:
Ăng
-
gô
-
la
5
run
2
43.0
Cam
-
pu
-
chia
39
176.3
CHLB Đ
ức
6
11.5
CHND Trung Hoa
6
10.8
C
Korea Rep. of
7
2.1
Hoa K
ỳ
40
80.1
In
-
đô
-
nê
-
xi
-
a
3
46.1
I
-
-
lai
-
xi
-
a
7
812.4
Nam Phi
1
1.0
Nh
ật Bản
8
2.8
Ôx
-
trây
-
li
-
3.5
Thái Lan
4
10.4
U
-
crai
-
na
5
4.3
Xin
-
ga
-
po
21
29.7
tại thị trường Campuchia, NH Đầu tư- Phát triển VN (BIDV) cho biết, đã có kế hoạch cung
cấp tín dụng cho các dự án của DN VN. Cụ thể, vừa qua BIDV đã quyết định cung cấp tín
dụng cho dự án sản xuất phân bón của Cty cổ phần quốc tế Năm Sao với tổng vốn đầu tư 65
triệu USD, cho Viettel CPC vay 40 triệu USD; đồng thời, BIDV cũng đang xúc tiến bàn thảo
để ký được các thoả thuận cấp tín dụng triển khai các dự án đầu tư tại CPC trong lĩnh vực xay
xát lúa gạo, trồng cao su công nghiệp, khai khoáng
Theo Bộ KHĐT, hiện bộ này đang hoàn thiện dự thảo trình Chính phủ nghị định (NĐ) sửa
đổi NĐ 78/2006/NĐ-CP, quy định về ĐTRNN của các DN trong nước. Mục đích là nhằm tạo
điều kiện thông thoáng hơn nữa cho hoạt động của DN theo hướng đơn giản hóa thủ tục cấp
giấy phép đầu tư; đề xuất Chính phủ giao Bộ Tài chính nghiên cứu thành lập quỹ hỗ trợ để
cho DN ĐTRNN vay vốn ưu đãi.
Bên cạnh đó, một đề án thúc đẩy đầu tư VN ra nước ngoài đã được Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt, trong đó xác định các lĩnh vực ưu tiên được Nhà nước hỗ trợ khi DN ĐTRNN như
năng lượng, sản xuất điện, khai thác khoáng sản để thay thế nhập khẩu phục vụ sản xuất, chế
biến trong nước Theo đó, những dự án này sẽ được vay vốn của Nhà nước với mức vay tối
thiểu 30% tổng vốn đầu tư của dự án, lãi suất ưu đãi và được miễn hình thức đảm bảo tiền
vay bằng tài sản.
NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM
Trang 25
Ngoài ra, các dự án nếu đầu tư tại Nga, Lào, CPC sẽ được Chính phủ bảo lãnh vốn vay của
DN tại các NHTM trong nước, với mức vay được vượt quá 15% vốn điều lệ của NH. Những
dự án này còn được miễn nộp thuế thu nhập DN đối với phần lợi nhuận chuyển về nước đã
được nộp thuế thu nhập DN tại nước mà DN đầu tư. Tại một số dự án đặc biệt, DN còn có thể
đề nghị Nhà nước góp vốn đầu tư.
Sự tăng trưởng vượt bậc của đầu tư ra nước ngoài trong năm 2009 vượt xa dự báo của Cục
Đầu tư nước ngoài. Thời gian tới, nhiều văn bản pháp quy sẽ được ban hành và có hiệu lực,
lĩnh vực đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam hứa hẹn những thành công mới trên con đường
hội nhập.
4.2. Một số bài học rút ra từ thực trạng đầu tư trưc tiếp ra nước ngoài của Việt Nam
Thứ nhất, số lượng dự án và quy mô vốn đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra
khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam ĐTRNN.