Thơ mới, nhìn từ góc độ loại hình - Pdf 14

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
5. Phƣơng pháp nghiên cứu 5
6. Cấu trúc của luận án 6
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU THƠ MỚI TỪ GÓC ĐỘ
LOẠI HÌNH 7
1.1. Nghiên cứu loại hình Thơ mới giai đoạn trƣớc 1945 7
1.2. Nghiên cứu loại hình Thơ mới giai đoạn 1945 - 1954 19
1.3. Nghiên cứu loại hình Thơ mới giai đoạn từ 1954 - 1975 21
1.4. Nghiên cứu loại hình Thơ mới từ 1975 đến nay 26
1.5. Tiểu kết 30
CHƢƠNG 2. VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU LOẠI HÌNH VĂN HỌC VÀ LOẠI HÌNH THƠ 32
2.1. Loại hình học văn học: những tiền đề lịch sử và nhận thức 32
2.2. Từ lý thuyết đến thực tiễn ứng dụng 44
2.3. Nghiên cứu loại hình thơ 49
2.4. Tiểu kết 52
CHƢƠNG 3. LOẠI HÌNH THƠ MỚI, NHÌN TỪ ĐẶC TÍNH KIỂU TƢ DUY . 53
3.1. Tƣ duy thơ là gì? 53
3.2. Tính dân tộc và thời đại trong kiểu tƣ duy Thơ mới 56
3.3. Thơ mới - diễn ngôn của con ngƣời cá nhân trong môi trƣờng đô thị kiểu
phƣơng Tây 68
3.4. Từ Thơ trung đại đến Thơ mới: sự dịch chuyển của những đặc trƣng loại hình 79
3.5. Từ Thơ mới đến những hình thái thơ sau Thơ mới 91
3.6. Tiểu kết 102
CHƢƠNG 4. LOẠI HÌNH THƠ MỚI, NHÌN TỪ CẤU TRÚC KIỂU TƢ DUY 104
4.1. Quan niệm về chất thơ: hạt nhân trong cấu trúc kiểu tƣ duy thơ 104
4.2. Cách kiến tạo thế giới nghệ thuật của Thơ mới 112

các thƣ viện, trƣờng học, viện nghiên cứu ngƣời ta có thể điểm ra hàng trăm công trình
nghiên cứu về Thơ mới từ tác giả đến tác phẩm, khuynh hƣớng, trƣờng phái, thi pháp,
ngôn ngữ, phong cách, thể loại,… Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của triết học nhân
sinh, triết học ngôn ngữ, khoa học xã hội nhân văn, sự du nhập của các lý thuyết,
phƣơng pháp nghiên cứu văn học hiện đại, Thơ mới lại có thêm cơ hội để đƣợc soi
chiếu, thảo luận một cách toàn vẹn hơn. Hẳn những nhà nghiên cứu hiện nay không
phủ nhận hƣớng nghiên cứu từ góc độ Phân tâm học, Cấu trúc luận, Hiện tƣợng luận,
Nữ quyền luận, nghiên cứu Thơ mới từ lý thuyết diễn ngôn, lý thuyết Trƣờng văn học,
Nhân học văn hóa, Xã hội học văn học, Mỹ học tiếp nhận, Giải cấu trúc, đem đến
nhiều gợi ý cho việc tiếp cận Thơ mới. Bên cạnh đó, vấn đề thực thể Thơ mới vẫn
chƣa đƣợc mô tả một cách toàn vẹn với sự vắng mặt của những tác giả, tác phẩm bàn

2
nhì, bàn ba, những diễn ngôn góp phần kiến tạo Thơ mới nhƣng không có mặt trong
các “điện thờ” hay bị xem nhẹ, bị mặc nhiên biến thành các diễn ngôn phụ trợ, làm tôn
lên các đỉnh cao. Mặt khác những nghiên cứu ở miền Nam thời kỳ 1954 - 1975 về Thơ
mới cũng chƣa đƣợc chú ý thỏa đáng để thấy rằng thành tựu nghiên cứu Thơ mới trong
tri thức phổ thông vẫn đầy thiếu khuyết.
Trong bối cảnh những giá trị truyền thống đang chìm đắm trong khủng hoảng nội
tại đòi hỏi đƣợc giải quyết, các tín hiệu mới từ phƣơng Tây đang du nhập và ảnh
hƣởng mạnh mẽ, đòi hỏi đƣợc khẳng định, đƣợc sinh tồn, văn học là hình thái cơ bản
để biểu đạt những vận động lớn lao, tinh vi ấy. Thơ mới đã hấp thu và biểu hiện trong
mình những giao lƣu vừa đa dạng, vừa phong phú, cả những bí ẩn còn chƣa thể tƣờng
giải. Trong suốt chiều dài nghiên cứu Thơ mới, các thành tựu đã có chƣa phải đã là
đáp số cuối cùng, dĩ nhiên nó cũng đã làm thỏa mãn nhiều trí lực.
Các nhà nghiên cứu, những ngƣời quan tâm có thể liệt kê nhiều công trình nghiên
cứu lớn nhỏ, ở mọi cấp độ về Thơ mới. Tuy nhiên, xem xét Thơ mới từ lý thuyết loại
hình với một hệ nguyên tắc nhận diện, đặt trong tiến trình thơ Việt từ khởi thủy đến
hiện đại hay nhìn ra nền thơ cận hiện đại của các nƣớc trong khu vực Đông Á lại là
vấn đề chƣa đƣợc luận giải một cách hệ thống. Thơ mới, nhìn từ góc độ loại hình

Phạm vi nghiên cứu: xem xét Thơ mới trong tiến trình thơ Việt Nam, nhận diện
loại hình Thơ mới trong sự tƣơng sánh với loại hình Thơ trung đại và một vài hình thái
thơ sau Thơ mới. Nhƣ thế, luận án hƣớng vào nghiên cứu nội quan Thơ mới để chỉ ra
sự khác biệt làm nên tƣ cách loại hình của nó. Nghĩa là nghiên cứu sự biến đổi về đặc
tính và cấu trúc của bản thân Thơ mới đồng thời không tách rời nó khỏi tổng thể là tiến
trình thơ trữ tình Việt Nam.
Để khẳng định Thơ mới là một loại hình thơ chúng tôi hình thành một trục
nghiên cứu có tính chất quy chiếu để nhận diện loại hình Thơ mới: Kiểu tư duy Thơ
mới. Từ kiểu tƣ duy Thơ mới, các vấn đề: quan niệm về chất thơ, hình thức tổ chức
văn bản ngôn từ nghệ thuật đặc thù của Thơ mới, các phương tiện nổi bật (nổi bật
nhất của loại hình này mà yếu hoặc không biểu hiện ở loại hình khác) để kiến tạo thế
giới nghệ thuật, 4
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài đem đến những kiến giải có tính tổng quát về Thơ mới trên phƣơng diện là
một loại hình thơ, đóng góp vào lịch sử diễn giải, nghiên cứu và định vị Thơ mới Việt
Nam 1932 - 1945 trong tiến trình thơ Việt Nam từ khởi thủy đến hiện đại và đề xuất
nghiên cứu Thơ mới trong bối cảnh thơ ca khu vực Đông Á thời cận hiện đại.
Xem xét Thơ mới trong tính tự trị của một trƣờng văn học cùng với sự lý giải từ
các thiết chế, bối cảnh tạo nên “chân lý”, “tri thức”, “quyền lực” (M. Foucault) của
diễn ngôn Thơ mới, hẳn ngƣời nghiên cứu sẽ hiểu vì sao Thơ mới đƣợc sinh ra, tồn tại,
vận hành và tiêu vong, kể cả những “đứt đoạn” mang sử tính trong diễn trình của thơ
Việt từ khởi thủy đến hiện đại. Các vấn đề về sự phân tranh mới cũ hay chính là sự đối
thoại tranh giành quyền lực của các diễn ngôn. Chân lý của thời đại luôn là sự áp chế
và loại trừ những tri thức, chân lý của thời đại khác, của các diễn ngôn khác. Hệ thống
thiết chế mới đƣợc dựng nên là căn nguyên của sự sinh thành một diễn ngôn mới, tạo
nên các trật tự diễn ngôn nhƣ ta đã thấy. Diễn ngôn về diễn ngôn Thơ mới, nhà in, báo
chí, chữ quốc ngữ, sự truyền bá văn hóa phƣơng Tây, sự biển đối của đô thị phong

và sau nó. Mặt khác, trong quá trình thực hiện, thao tác so sánh chính là những hành
động cụ thể nhằm thực hiện nhiệm vụ so sánh loại hình đã đƣợc tiên nghiệm.
5.3. Các phƣơng pháp nghiên cứu nhân học văn hóa
Các phƣơng pháp nghiên cứu nhân học tỏ rõ ƣu thế trong việc thâm nhập vào cấu
trúc tâm lý, tƣ duy và mỹ cảm của con ngƣời cá nhân cá thể. Lịch sử thơ ca là lịch sử
của nhiều loại hình, vì thế, tính đồng đại và lịch đại trong cái nhìn hệ thống cần đƣợc ý
thức và đồng thời đƣợc giải quyết trong quá trình thâm nhập các cấu trúc tƣ duy, mỹ
cảm của con ngƣời ở từng thời kỳ khác nhau. Nhân loại học văn hóa là một ngành
nghiên cứu, một khoa học vì thế nó có nhiều phƣơng pháp, chúng tôi sử dụng những
phƣơng pháp của nhân loại học văn hóa nhƣ phân tích cấu trúc, phƣơng pháp suy luận
sử quan, phân tích xã hội học, phân tích ký hiệu học,
5.4. Các phƣơng pháp nghiên cứu tâm lý học sáng tạo
Tâm lý học sáng tạo cũng mang tham vọng thâm nhập vào bề sâu của hoạt động
sáng tạo nghệ thuật. Hƣớng nghiên cứu lấy Kiểu tƣ duy làm trục lõi trong luận án tự
nó tìm đến tâm lý học sáng tạo nhƣ một phƣơng pháp đặc thù trong nghiên cứu thơ.
Các phƣơng pháp nghiên cứu tâm lý học sáng tạo có thể mang lại những mô tả tƣơng

6
đối về quá trình sáng tạo nghệ thuật thơ cùng với các thao tác trong trí tƣởng, tinh thần
thi sĩ. Cùng với phân tích thế giới nghệ thuật từ các dấu hiệu biểu trƣng trên bề mặt
văn bản nhƣ một hệ thống ký hiệu, nghiên cứu tâm lý học sáng tạo rất cần một năng
lực cảm nhận, trực giác đôi khi không thể lý giải bằng thực nghiệm.
5.5. Phƣơng pháp nghiên cứu liên ngành
Nghiên cứu liên ngành là hƣớng nghiên cứu ngày càng phổ biến và hiệu quả.
Thực ra, bản thân các ngành nghiên cứu Văn học so sánh, Loại hình học, Nhân loại
học văn hóa, Xã hội học, đã thích ứng và thâu nạp trong nó tính ƣu việt của nhiều
phƣơng pháp nghiên cứu trong các ngành khác. Sử dụng liên ngành các phƣơng pháp
là một cơ hội để vấn đề đƣợc soi chiếu nhiều chiều hơn, tránh đƣợc sự phiến diện và
duy ý chí.
6. Cấu trúc của luận án

tƣ cách là một loại hình thơ xét trong tiến trình thơ Việt từ khởi thủy đến hiện đại và
nhìn ra các nền thơ trữ tình cận hiện đại của các quốc gia Đông Á.
1.1. Nghiên cứu loại hình Thơ mới giai đoạn trƣớc 1945
Nhìn nhận ở bình diện tổng quát có thể thấy rằng chính cuộc tranh luận Mới - Cũ
lại là cuộc tranh biện có tính toàn diện nhất về loại hình Thơ mới. Khi ấy, các vấn đề
về thi pháp, giọng điệu, kết cấu, trƣờng phái, khuynh hƣớng,… chƣa đƣợc phổ biến
nhƣ là những hệ thống công cụ để các nhà báo, nhà văn, các tay bỉnh bút, diễn thuyết
tận dụng nhằm công kích hay triệt hạ thành lũy của đối phƣơng. Cuộc đối đầu Mới -
Cũ đơn giản chỉ là sự nỗ lực bằng mọi giá để giành lấy cơ hội sinh tồn trong đời sống
văn học của cả hai phe mới cũ. Từ diễn đàn của Hội khuyến học Sài Gòn, Nhà học hội
Quy Nhơn đến mặt báo Phụ nữ Tân văn, Phong hóa, Ngày nay, Văn học tạp chí, Hà
Nội báo, An Nam tạp chí, Tiểu thuyết thứ bảy,… Thơ mới và Thơ cũ đã tranh chiến
với nhau một cách quyết liệt. Ngày ấy, Tản Đà đã ƣớm ngỏ: Nếu không phá cách vứt
luật điệu/ Khó cho thiên hạ đến bao giờ. Nguyễn Văn Vĩnh dịch thơ La Fontaine cũng

8
đã dự báo trƣớc một hình thái thơ mới sẽ xuất hiện. Tuy nhiên, lịch sử sinh thành của
Thơ mới lại gắn với Phan Khôi - Chiến tƣớng tiên phong của Thơ mới với bài thơ Tình
già. “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ” đăng trên Phụ nữ tân văn, số 122,
ngày 10 tháng 3 năm 1932, chính thức khai sinh một hình thái thơ mới. Phần lớn giới
nghiên cứu đều thống nhất ngày 10/3/1932 là thời khắc Thơ mới cất tiếng giữa làng
thơ (Gần đây, Lại Nguyên Ân trên Báo Điện tử tổ quốc đã công bố thông tin bài “Một
lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ” của Phan Khôi kỳ thực đã đƣợc đăng trên Tập
văn mùa xuân của Báo Đông Tây trƣớc tết năm 1932 - khi ấy, mùng một tết là ngày
6/2/1932 dƣơng lịch, và bài phản hồi lại cũng đăng trên báo ấy ngày 17/2). Trong bài
báo có tính chất tiền phong này, Phan Khôi đã róng riết đặt ra nhu cầu phải cách tân,
phải đổi mới:
Thơ chữ Hán ƣ? Thì ông Lý, ông Đỗ, ông Bạch, ông Tô choán trong đầu tôi
rồi. Thơ Nôm ƣ? Thì cụ Tiên Điền, bà Huyện Thanh Quan đè ngang ngực làm
cho tôi thở không ra. Cái ý nào mình muốn nói lại không nói ra đƣợc nữa, thì đọc

Linh, Giễu các ông làm thơ cũ [51, tr. 19]. Theo hiện tình văn bản, ta thấy rõ không
chỉ các tác giả này giễu Thơ cũ mà, cái chính là giễu lối làm thơ sáo rỗng, máy móc,
lối làm văn vần vè. Chúng tôi rất chú ý đến câu cuối cùng của bài này. Nhất Linh làm
một bài thơ mô phỏng lối thơ mà Phong Hóa phê phán : “Tôi bị mụn ghẻ đầy/ May sao
gặp thuốc hay/ Bôi được một tuần lễ/ Khỏi ngay… Chắc ông Công Luận phục bài thơ
này lắm vì theo ý ông tôi đã tránh đƣợc những tiếng cao nhã (mots nobles) mà dùng
toàn cái giọng thông thƣờng (language vulgaire)” [51, tr. 19]. Nhƣ vậy, sự phê phán
không chỉ là phê phán Thơ cũ mà còn phê phán chính lối làm thơ “bạch thoại” ngớ
ngẩn, vô nghĩa lý nhƣ Nhất Linh, Việt Sinh đã chỉ ra. Thơ cũ có thứ tồn sinh tiêu cực
của nó cần phê phán. Thơ đƣợc gọi là Thơ mới cũng đã xuất hiện thứ dƣ sinh mà các
nhà tân thi sĩ chân chính muốn đánh đổ. Trên Phong Hóa, mục Tin thơ, Lê Ta công
kích Nguyễn Vỹ [86], phê phán tập Mơ màng của Đức Văn, Tình em của Nhuệ Thủy
[86] cũng là một chứng cứ góp thêm vào việc tranh biện rằng Thơ mới còn tranh đấu
với cả thứ Thơ mới sáo rỗng, vô nghĩa.
Nhu cầu cải cách thơ ca đã trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Lƣu Trọng Lƣ trên
Người Sơn Nhân, tháng 5/1933 có bài viết Một cuộc cải cách về thi ca, đăng lại trên
Phụ nữ tân văn số 216, 15.9.1933 với đầu đề Một cái khuynh hướng mới về thi ca:
“một cái khuynh hƣớng mới lạ, mệnh danh là thơ lối mới, muốn cởi trói thi ca ra khỏi
cái niêm luật khắc khổ” [97, tr. 79]. Sự cấp thiết của cuộc canh tân đặt ra từ vấn đề chủ

10
thể sáng tạo - mà ta có thể xem là khởi dựng cho tiểu loại hình tác giả Thơ mới. Lƣu
Trọng Lƣ đã nêu lên nỗi niềm tha thiết của những ngƣời trẻ buổi ấy:
Thanh niên Việt Nam ngày nay đƣơng bơ vơ đi tìm ngƣời thi nhân của
mình, nhƣ ngƣời con đi tìm mẹ…. Ngƣời thanh niên Nam Việt ngày nay chỉ ao
ƣớc có một điều, một điều mà tha thiết hơn trăm nghìn điều khác là đƣợc có một
nhà thi nhân hiểu thấu mình mà yên ủi mình, một bậc thiên tài lỗi lạc đi vào tận
tâm hồn của mình, đến những chỗ cùng sâu, mà vạch những cái kín nhiệm uất
ức… [97, tr. 81].
Với ngƣời thanh niên trẻ tuổi, trẻ lòng, một cá thể sinh thành trong đô thị kiểu phƣơng

(Point de vue la technique) muốn vào trong công trƣờng (atelier) vào trong trung điện
mật nhiệm của nhà nghề, để xem cái tay thơ đƣơng kiến trúc” [97, tr. 149]. Cũng với ý
tƣởng thâm nhập vào “trung điện mật nhiệm của nhà nghề” của thi sĩ, Nhất Linh đã
bàn đến Sự cân nhắc chữ trong Thơ cũ và Thơ mới. Trên Phong Hóa, số 69, ngày
20/10/1933, ông cho rằng:
Nhà thơ cũ cân nhắc từng chữ, cốt ý để câu văn đƣợc chỉnh, đọc lên nghe
cho kêu, có những chữ đối chọi nhau một cách thần tình, khéo léo. Nhà thơ mới
cân nhắc từng chữ để đo đắn xem chữ nào diễn đƣợc cái cảm của mình, tả đƣợc
cái ý của mình đúng hơn hết, xem phải cần đến chữ nào, câu thơ mới có cái điệu
khả dĩ diễn đƣợc sự rung động của linh hồn mình một cách rõ rệt hơn… Một bên
chỉ cốt cân nhắc để tìm những chữ nào đối chọi nhau, cho ý là phụ, một bên cố
cân nhắc để tìm những chữ nào hợp điệu thơ, diễn đúng ý [52, tr. 2].
Sự phòng vệ và phản kháng của Thơ cũ nhằm mục tiêu giữ vững hình thái thơ truyền
thống trung đại. Chính trong luận thuyết của các nhà thơ cũ, chúng ta cũng nhận thấy
có sự khác biệt để hai loại hình Thơ cũ, Thơ mới không thể dung hòa nhau lúc này.
Trên mặt trận diễn thuyết đã có tƣớng tiên phong Nguyễn Văn Hanh tranh đấu cho
Thơ cũ. Trên báo chƣơng, có lẽ Chất Hằng Dƣơng Tự Quán là một trong những tên
tuổi bênh vực Thơ cũ một cách mạnh mẽ. Trên Văn học tạp chí, số 18, 1.6.1933, Chất
Hằng Dƣơng Tự Quán chê thơ Phan Khôi nhạt nhẽo, vô duyên, khắc khổ, hùng hổ.
Phan Khôi là ngƣời ít tình cảm nên không thể làm thơ đƣợc [97, tr. 82]. Mặc dù ý thức
đƣợc rằng: “công cuộc giải phóng cho thơ không phải là chẳng hợp lý và chẳng thích
thời”, nhƣng ông bày tỏ quan điểm:

12
Tôi thích đổi mới cho thơ nhƣng tôi chú trọng về tinh thần của thơ hơn là
đƣờng hình thức. Về đƣờng hình thức tôi dám nói rằng những nhà thơ của Trung
Quốc đáng là thầy ta. Lối thơ Đƣờng luật tuy giam hãm vào cái thi pháp chặt chẽ
nhƣng ta thử hỏi có lối thơ nào mà chẳng phải bó buộc bởi những luật lệ nhất
định. Ngay nhƣ thơ Tây cũng còn phải theo phép tắc rất phiền phức. Vì nếu
không thế không phải là thơ nữa [97, tr. 88].

lý luận của ông lại cũng làm tổn hại không nhỏ đến Thơ cũ. Theo dõi mạch lý luận của
Nguyễn Hữu Tiến, đến chỗ ông viết: Thơ cũ của ta… “không có gì là gò bó khổ khắc.
Ai chịu đọc về lối nào ít bài thì tựa đó mà đặt các bài khác đƣợc ngay. Nhất là lối lục
bát, có ngƣời ít học hoặc trẻ con cũng đặt đƣợc. Tức là những cái “vè” vậy, thế mà
nghe hay đáo để” [107, tr. 109]. Chỗ này lý luận bênh vực Thơ cũ của Nguyễn Hữu
Tiến đã hại Thơ cũ, thể hiện một tƣ duy không chặt chẽ và ý niệm về loại hình thơ mà
mình bào chữa không riết róng, không sắc, nếu không nói rằng bị hời hợt về cuối. Tƣ
tƣởng chủ đạo của Nguyễn Hữu Tiến giống với Chất Hằng Dƣơng Tự Quán khi cho
rằng, chỉ cần mới về ý tƣởng, tinh thần, còn hình thức thơ vẫn là hình thức Thơ cũ, lấy
hình thức cũ để biểu đạt nội dung mới.
Thơ mới, trong thế giằng co với Thơ cũ đã từng bƣớc khẳng định ƣu thế của
mình. Tuy nhiên, đến quãng những năm 1934, sự tranh biện hay định hình Thơ mới
vẫn chƣa tìm đƣợc một xác quyết có tính hệ thống. Ngƣời ta vẫn bàn luận sôi nổi về
Thơ mới, Thơ cũ, vẫn nhắc đi nhắc lại rằng phải cải cách, phải canh tân, cải lƣơng,
phải đổi mới văn thể, đổi mới tinh thần, nội dung cho thơ ca. Đến năm 1934, trên Tiểu
thuyết thứ bảy, số 31, ngày 29/12/1934, Hoài Thanh nhận định: “Vậy bây giờ Thơ mới
có quy tắc gì chƣa? Hiển nhiên là chƣa có. Không theo phép tắc khuôn khổ xƣa thì
ngƣời ta gọi là mới, hai chữ Thơ mới hiện nay chỉ có thể định nghĩa một cách tiêu cực
nhƣ thế mà thôi” [97, tr. 206].
Vấn đề nhƣ thế nào là Thơ mới càng diễn tiến về giai đoạn sau càng đƣợc nhận
diện một cách bài bản và có độ sâu nhất định, tránh đƣợc những bốc đồng hay nông
cạn của giai đoạn đầu. Thiết Diện trong bài Quan niệm của tôi đối với Thơ mới đã cho
thấy nhận thức loại hình là rất cần thiết trong việc định vị Thơ mới. Phê phán Thơ mới,
trên Văn học tuần san, số 8, tháng 8/1935, Thiết Diện đặt vấn đề khá hợp lý:
Cái hồn chƣa thoát khỏi sáo cũ, cũng còn nghe Tiếng sáo Thiên Thai, Tiếng
trúc tuyệt vời, Tiếng nhạn kêu sƣơng v.v… thì đổi cái hình thức phỏng có ích

14
gì? Thế là ở trong những bài thi cũ, ngƣời ta còn dung thứ, chớ đã xƣng là
“Thơ mới” mà còn sáo hƣ nhƣ vậy, thì đâu phải là những “chiến sĩ chắc chắn” để

loại hình. Phải kể đến hàng đầu là tiểu luận Một thời đại trong thi ca và công trình Thi
nhân Việt Nam (1942) của Hoài Thanh, Hoài Chân. Với một bài tiểu luận công phu và
phần bình luận về 46 thi sĩ đƣợc tuyển lựa, Thi nhân Việt Nam đã chính thức đề bia cho
các thi sĩ đã làm nên diện mạo, hình thái Thơ mới. Dƣới góc nhìn loại hình học, hai tác
giả đã vạch ra những suy ngẫm về “lịch sử - sinh thành học” (I. Herde) Thơ mới, phác
thảo loại hình khuynh hƣớng: Thơ mới thuần Việt, Thơ mới ảnh hƣởng Đƣờng thi, Thơ
mới ảnh hƣởng thơ Pháp. Trên phƣơng diện nhận định về phong cách tác giả, Thi nhân
Việt Nam cũng đã đề cập đến tiểu loại hình tác giả Thơ mới với việc xác lập cá tính sáng
tạo của Thế Lữ, Lƣu Trọng Lƣ, Huy Thông, Nguyễn Nhƣợc Pháp, Huy Cận, Nguyễn
Bính, Chế Lan Viên, Xuân Diệu,… Điểm quan trọng trong việc định hình tƣ duy loại
hình trong nghiên cứu Thơ mới chính là Hoài Thanh - Hoài Chân đã khẳng định thời
Thơ mới là thời của cái “Tôi” đối lập với cái “Ta”, cá nhân đối lập với đoàn thể. Tâm
tính, xúc cảm của cái tôi “với cái nghĩa tuyệt đối của nó” là lõi cốt để Hoài Thanh - Hoài
Chân nhận diện Thơ mới. Bƣớc vào “thần điện” với 46 gƣơng mặt thi nhân, Hoài Thanh
- Hoài Chân với sự mẫn cảm của mình đã có những thẩm bình tài hoa, sâu sắc. Đối với
tƣ duy loại hình học, đó là những đóng góp quan trọng cho việc nhìn nhận loại hình tác
giả, phong cách, khuynh hƣớng và trƣờng phái thơ trong Thơ mới [10].
Cùng trên bình diện là những công trình tổng quát về thơ và Thơ mới cần phải
nhắc đến tác phẩm Việt Nam thi ca luận của Lƣơng Đức Thiệp (1942), Nhà văn hiện
đại của Vũ Ngọc Phan (1942) và sau đó là Việt Nam văn học sử yếu của Dƣơng Quảng
Hàm (1943). Rất đáng lƣu ý là bản luận thi ca Việt kim cổ của Lƣơng Đức Thiệp. Cấu
trúc của công trình thể hiện tƣ duy loại hình của tác giả: Phần 1: Nguồn gốc thơ ca Việt
Nam; Phần 2: Thơ hiện đại Việt Nam; Phần 3: Tính cách thơ Việt Nam xưa; Phần 4:
Chủ trương, Định nghĩa, Tôn chỉ, Nguyên tắc,… Không có đƣợc nét tài hoa nhƣ Hoài
Thanh, Hoài Chân, nhƣng Lƣơng Đức Thiệp đã đi cụ thể vào những vấn đề bản thể
của Thơ. Tƣ duy của ông hoạch định trên bốn vấn đề lớn: Nguồn gốc thơ ca, Thơ xưa,
Thơ hiện đại và phần luận thuyết về Thơ. Với đối tƣợng là Thơ hiện đại Việt Nam -
Thơ mới, ông đã có những nhận định khá lý thú:
“Lƣớt qua các phái thơ, dầu ý thức hay vô ý thức, xét qua toàn thể mấy thi sĩ đại
diện cho từng phái, chúng ta nhận thấy thi ca Việt Nam gần đây cũng bƣớc đƣợc

chƣơng soạn cho học sinh nên tác giả trình bày khá bài bản: Định nghĩa, Lai lịch lối

17
thơ mới, Nguồn gốc lối thơ mới, Thể cách lối thơ mới. Trong thể cách Thơ mới, ông
bàn đến số câu, số chữ, cách hiệp vần, điệu thơ (âm thanh, tiết tấu), đề mục và thi hứng.
Về nhận thức chung, Dƣơng Quảng Hàm đã khu biệt Thơ mới với Thơ cũ ở thể cách
và “đƣờng tinh thần”. Ông nhận định: “Các nhà ấy muốn đem các đề mục mới và hết
thảy các cảnh vật, các tình cảm nên thơ mà diễn đạt ra. Đối với các nhà thơ ấy, thơ
phải là “cây đàn muôn điệu” … và “cây bút muôn màu” để vẽ đủ các hình sắc trong
tạo vật” [37, tr. 581]. Dù đã để ý khu biệt Thơ mới và Thơ cũ, nhƣng tƣ tƣởng cốt lõi
của Dƣơng Quảng Hàm lại thể hiện ở kết luận: Điều quan trọng là nhà thi sĩ phải có
chân tài và cứ theo những khuôn khổ (dù là những khuôn khổ rất tự do) mà “diễn đạt
đƣợc tình ý một cách tự nhiên và thành thực” [37, tr. 589].
Một nhân vật nữa cũng đã bày tỏ những quan điểm của mình về Thơ mới, Thơ cũ
nhƣ là những loại hình thơ trong lịch trình biện chứng của lịch sử là Kiều Thanh Quế.
Nhà khảo cứu này, trƣớc cả Hoài Thanh, Hoài Chân, năm 1941 trong công trình Ba
mươi năm Văn học đã bàn đến sự mới cũ. Từ cuộc tranh luận Mới - Cũ, Kiều Thanh
Quế bày tỏ quan điểm tán đồng với Phan Văn Hùm trong Tựa quyển Nói chuyện thi
mới thi cũ của Nguyễn Văn Hanh (1935):
“Thơ cũng nhƣ mọi sự vật khác trong vũ trụ cũng có sanh mạng, cũng có lịch sử
sinh hƣ tiêu trƣởng của nó, cũng phải hiện lịch trình biện chứng (processus dialectique)
thì có lạ gì sự mới cũ phân tranh. Trái trở lại, lại còn phải nhận rằng đến một cái quá trình
kia, thì thơ mới bây giờ sẽ già cỗi mà bị mời vào trong viện cổ vật học” [73, tr. 183].
Khi đã xem mới cũ phân tranh là lẽ tự nhiên của hóa sinh, Kiều Thanh Quế đã
bộc lộ quan điểm của mình về thơ và Thơ mới qua bài Nhân đọc “Thi nhân Việt Nam”
của Hoài Thanh và Hoài Chân trên báo Tri tân, số 134, 1944. Trong bài viết này, tác
giả nhận định về cuốn “hợp tuyển” của Hoài Thanh - Hoài Chân, phê phán thơ Hàn
Mặc Tử, Bích Khê, Nguyễn Xuân Sanh, nhƣng lại “trọng sự tƣởng tƣợng” của Chế
Lan Viên. Đáng chú ý là Kiều Thanh Quế đƣa ra nhận định:
“Thơ ca Việt nam trong mƣời mấy năm gần đây, đi từ cổ điển (với Tản Đà, Trần

góc độ nghiên cứu Thơ mới nhƣ là một thực thể, một hiện tƣợng văn học, văn hóa
những bài tranh luận trên báo chí của cả hai phe, các công trình khảo cứu của các tác
giả cho thấy lộ trình đi từ sự bồng bột, hứng khởi có tính chất phong trào đến tƣ duy
loại hình một cách nghiêm túc. Tuy vậy, cũng có nhiều bài tranh luận thực tế là “nói

19
lấy đƣợc” để bênh vực Thơ mới và hạ bệ Thơ cũ, bôi xấu các yếu nhân của phe đối
phƣơng, thậm chí có bài còn đụng chạm đến lòng tự tôn của các thi sĩ. Ở vấn đề trung
tâm, các tranh luận và nghiên cứu vẫn chƣa hình thành một hệ quy chiếu có tính khu
biệt để định hình Thơ mới trong tƣơng quan với Thơ cũ. Vẫn chƣa thấy một lõi mạch
xuyên suốt phong trào Thơ mới nhằm định danh loại hình thơ này trong dòng chảy của
thơ Việt. Các vấn đề về cái tôi Thơ mới, thể cách, tinh thần Thơ mới, câu chữ, ngôn từ,
vần điệu trong cấu trúc loại hình Thơ mới,… đã đƣợc nhắc đến nhƣng chƣa phân tích và
lý giải một cách có hệ thống, xâu chuỗi toàn thời đại, nối kết các đỉnh cao, liên hệ các
thứ bậc trên cơ sở tri thức về một “hệ hình” thẩm mỹ khác biệt với mỹ học trung đại. Có
lẽ, Thơ mới cũng nhƣ các hiện tƣợng, sản phẩm văn hóa, văn minh khác, phải cần có
thời gian để kiểm chứng, để có cái nhìn mang tính giũa gọt nhằm nhận diện lõi cốt loại
hình. Đặc biệt, trong vai trò là một loại hình thơ, Thơ mới là một trong những sản phẩm
văn hóa trung tâm của thời đại. Các tác giả đƣơng thời Thơ mới chƣa mở rộng trƣờng
nhìn ra tầm mức ấy để thấy đƣợc Thơ mới còn là một kiến tạo văn hóa, một hệ mỹ học,
một không gian văn hóa, văn học khác với thời trung đại. Từ thực tế khảo sát những
nghiên cứu về loại hình Thơ mới trƣớc 1945, có thể nhận thấy một số vấn đề sau:
Thứ nhất: Ý thức phân biệt về mặt loại hình vẫn còn sơ khai, phiến diện, chƣa trở
thành hệ thống với lý thuyết rõ ràng, bài bản.
Thứ hai: Bản thân những manh nha trong nghiên cứu loại hình Thơ mới cũng còn
rất phiến diện khi thiên về nội dung hoặc hình thức mà chƣa thấy đƣợc tính toàn diện
trong tƣ duy loại hình trên cả hai phƣơng diện.
Thứ ba: Trong quá trình đi khẳng định tƣ cách loại hình của Thơ mới, giới
nghiên cứu, phê bình thời kỳ này đã đụng chạm đến các phƣơng diện loại hình, là
móng nền để những nghiên cứu sau này tiếp tục triển khai.

là bài Nói chuyện thơ kháng chiến của Hoài Thanh. Từ Thi nhân Việt Nam đến Nói
chuyện thơ kháng chiến, Hoài Thanh đã thể hiện một xu hƣớng vận động trong nhận
thức về thơ ca cũng nhƣ tƣ tƣởng hệ của mình. Từ ý thức cách mạng, nhìn lại một thời
đại trong thi ca, ông thấy đó là quãng đời lầm lạc, thiếu trách nhiệm. Hoài Thanh phủ
định mọi nỗ lực của mình và Hoài Chân trong việc định vị Thơ mới. Ông phê phán cái
tôi cô độc, ích kỷ, xem Thơ mới là một thứ “nọc độc” đối với thơ kháng chiến, là
“đồng minh của giặc”. Dƣới sự nhìn nhận của loại hình học, vấn đề lại trở nên lý thú
và sáng rõ khi Hoài Thanh, Xuân Diệu, Tế Hanh, càng phủ nhận, khƣớc từ Thơ mới
thì tƣ cách loại hình của Thơ mới càng hiện lên một cách rõ nét - Thơ mới khác Thơ
kháng chiến. Thậm chí Hoài Thanh còn gọi Thơ mới là Thơ cũ - Một loại hình thơ của

21
quá khứ, của ngày cũ, của “thung lũng đau thƣơng”, của ký ức đáng bị nguyền rủa và
lãng quên, Thơ cách mạng lúc này hẳn là Thơ mới - một loại hình thơ tiên tiến, đầy
ánh sáng, sức sống và tƣơng lai nở trên “cánh đồng vui”. Mặc dù, sự phân định loại
hình Thơ mới 1932 - 1945 và Thơ cách mạng lúc này cơ bản không đƣợc nhìn nhận
trên phƣơng diện thẩm mỹ, nghệ thuật mà trên ý thức chính trị, chức năng giáo dục,
tuyên truyền gắn với các tiêu chí dân tộc, khoa học, đại chúng và các luận đề thiết cốt
của ý thức công dân, đảng viên, trí thức Bản thể của loại hình thơ không đƣợc chú ý
nên giá trị phân tích loại hình của các nghiên cứu này thực ra không phải là điều có thể
kế thừa. Tuy nhiên, nhƣ một sự mềm dẻo trong nhận thức về lý thuyết, chúng tôi cho
rằng Hoài Thanh, Xuân Diệu, Tế Hanh mà rộng ra là những ngƣời làm văn hóa, văn
nghệ cách mạng cũng đã nhìn nhận về Thơ trên một hệ tiêu chí nhất định khác với thời
Thơ mới. Về mặt khoa học thuần túy, điều đó bình đẳng với các nghiên cứu khác.
Giai đoạn này ở Sài Gòn cũng có một số công trình nghiên cứu thơ và Thơ mới.
Tiêu biểu nhất là cuốn Văn học sử trích yếu của Hạo Nhiên Nghiêm Toản do Nhà sách
Vĩnh Bảo xuất bản năm 1949. Phần bàn luận về Thơ mới, Nghiêm Toản cho rằng: “vỏ
kén hợp với con nhộng nhƣng không hợp với con ngài” [108, tr. 120]. Thơ mới là cái
thế giới để con Ngài đƣợc tung lƣợn, bởi lẽ: “thời đại mới, thi ca cũng phải thay nguồn.
Tứ đã thay, từ, điệu cũng thay” [108, tr. 122]. Tổng kết nhận thức của mình về Thơ

cực còn có quan điểm của Vũ Đức Phúc (Bàn về những cuộc đấu tranh tư tưởng trong
văn học Việt Nam hiện đại 1930 - 1954), Hồng Chƣơng (Phương pháp sáng tác trong
văn học nghệ thuật). Tuy nhiên, Hồng Chƣơng cũng đã chỉ ra những đóng góp quan
trọng của Thơ mới: phá bỏ luật lệ khắt khe của Thơ cũ, sáng tạo thể thơ tự do, loại bỏ
điển tích, sử dụng tiếng nói hàng ngày, hình thức thơ có nhiều biến đổi,… Đặc biệt
ông nhấn mạnh: “Tóm lại, chủ nghĩa lãng mạn giúp cho thơ ca cũng nhƣ văn xuôi
nƣớc ta có bƣớc phát triển lớn, đạt đến mức tƣơng đối hoàn bị của nền văn học hiện
đại” [111, tr. 72]. Năm 1969 xuất hiện công trình Thơ ca Việt Nam hình thức và thể
loại của Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức. Công trình này đề cập đến nhiều thể loại của
văn học Việt Nam, nguồn gốc, sự vận động của thể loại. Đáng chú ý là các tác giả đã
bàn đến những thể thơ, thanh điệu, nhịp điệu và vần trong phong trào Thơ mới, đồng
thời nhận định “những hình thức biểu hiện của Thơ mới không đoạn tuyệt với quá khứ
hoặc mang tính chất ngoại lai” [26, tr. 299]. Có thể thấy, vấn đề loại hình Thơ mới với
đặc trƣng mỹ học riêng biệt trong thế tƣơng sánh với thơ trƣớc Thơ mới và sau Thơ
mới vẫn còn bỏ ngỏ trong giai đoạn này. Đó cũng là những giới hạn của thời đại mà sự
diễn giải không thể vƣợt qua.

23
Nghiên cứu Thơ mới ở miền Nam giai đoạn 1954 - 1975 diễn ra sôi nổi hơn. Ở
miền Bắc, Xuân Diệu có ý tƣởng chứng minh Từ ấy của Tố Hữu “thoát thai” từ Thơ
mới hẳn đã nhận ra đƣợc sự vang hƣởng của loại hình thơ này lên các thực thể thơ
khác sau Thơ mới. Về mặt hình thái, Thơ mới đã hoàn kết diện mạo của mình trƣớc
1945. Tuy nhiên, Thơ mới không chết, những “mã gen” của loại hình thơ này tiếp tục
đƣợc lƣu sinh trên những miền không gian khác.
Nghiên cứu Thơ mới ở miền Nam đặc biệt sôi nổi ở cấp độ tác giả. Các nhà
nghiên cứu xoay quanh các tờ báo, tạp chí, nguyệt san nhƣ: Lành Mạnh, Đức Mẹ La
Vang, Văn, Văn học, Văn hóa Á châu, Văn hóa tuần san, Phổ thông, Bách Khoa, các
nhà xuất bản: Trình bầy, Sống mới, Giao điểm, đã có những số báo, những chuyên
đề về các nhà Thơ mới, các chủ điểm thi ca tiền chiến. Một số công trình tiêu biểu đã
đề cập đến Thơ mới trên bình diện tổng quát. Đáng chú ý là Một thời lãng mạn trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status