Lời cảm ơn:
Thực hiện đề tài này, em đã được sự đóng góp ý kiến nhiệt tình của
T.S Vũ Công Hảo – giảng viên trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 –
Em xin chân thành cãm ơn thầy !!!
Lời cam đoan:
X.A.Exenhin là một tác giả lớn trong văn học Nga. Thật khó có thể
hiểu hết được sự nghiệp văn học của ông. Đã có nhiều người nghiên
cứu Exenhin, nhưng đặt ông bên cạnh Nguyễn Bính là một hương đi
mới. Người viết đề tài đã tham khảo những tài liệu có liên quan đến
tác giả và sử dụng một số lời nhận xác đáng vào bài viết. Tuy nhiên
hương đi của đề tài không trùng khít với các tài liệu đó. Hi vọng sẽ
được các thầy cô đóng góp ý kiến và bổ xung thêm.
Phụ lục:
A. Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
4. Phạm vi đề tài và đối tương nghiên cứu
5. Cấu trúc khóa luận
B. NỘI DUNG
Chương 1: Những vấn đề chung về lí luận văn học so sánh
1.1. Khái quát văn học so sánh
1.1.2 Khái niệm
1.1.3. Văn học so sánh ở Việt Nam
1.2. So sánh loại hình với một lối đi riêng
Chương 2: X. A. Extenhin và Nguyễn Bính nhìn từ góc độ so sánh
loại hình
2.1. Sự gặp gỡ ngẫu nhiên ma kì lạ
2.1.1 Những nét tương đồng về nguồn gốc hình thành hồn thơ
2.1.2 Những nét tương đồng về thế giới nghệ thuật thơ
2.2 Sự khác biệt độc đáo
khác trên thế giới.
Với đề tài: “X.A.Exenhin và Nguyễn Bính nhìn từ góc độ loại hình”
người viết muốn chỉ ra một vài khía cạnh về “ lịch sử tâm hồn Nga” khi
nước Nga bước vào “ thời đại bão tát cách mạng đầu thế ki XX” mà
Exenhin là một trong những chứng nhân của sự biến thiên lịch sử ấy.
Đồng thời, qua đó khẳng định thêm giá trị thơ Exenhin trong lịch sử
văn học dân tộc nói riêng và trong nền văn học thế giới nói chung.
1.2 Sức mạnh của văn học nói chung, của thơ ca nói riêng không chỉ
bó hẹp trong pham vi một dân tộc, mà nó còn lan rộng trên toàn thế
giới.Thơ Exenhin cũng vậy – đôi khi những tiếng lòng riêng ông lại
được tìm thấy trong thơ của nhiều nhà thơ khác. Khi mà việc nghiên
cứu văn học theo phương pháp so sánh loại hình đang phát triển và
có nhiều triển vọng thì việc đặt Exenhin và Nguyễn Bính bên cạnh
nhau để thấy được những nét tương đồng và khác biệt là một việc làm
cần thiết và có ý nghĩa. Sự gặp gỡ ngẫu nhiên mà kì lạ giữa một hồn
thơ Nga và một hồn thơ Việt cho thấy một biểu hiện khác của sự gặp
gỡ Đông - Tây đã xuất hiện từ nhiều thập kỉ trước.
1.3 Đã từ rất lâu, bài thơ “Thư gửi mẹ” của Exenhin được đưa vào
giảng dạy trong trường phổ thông ở Việt Nam. Từ bài thơ này, thơ ông
đã được biết đến nhiều hơn và để lại ấn tượng sâu hơn trong lòng bạn
đọc Việt Nam. Là một giáo viên trong tương lai, chúng ta không thể
không có một vài hiểu biết về một tác giả văn học nước ngoài lớn như
Exenhin, càng không thể không thấy được mức độ ảnh hưởng của
thơ ông đối với nền văn học nước nhà. Việc tìm ra những nét tương
đồng và khác biệt giữa Exenhin va Nguyễn Bính sẽ giúp chúng ta có
một cái nhìn toàn diện va sâu sắc hơn về mỗi nhà thơ, đồng thời thấy
được những giá trị cao đẹp mà những tiếng thơ ấy mang lại.
Vơi tất cả nhưng lí do trên, người viết đã đi vào nghiên cứu đề tài
này với lòng say mê và nhiệt thành của bản thân mình.
2. Lịch sử vấn đề
cái bóng hiện lên trên gương mặt anh” [ ]
L. Ersốp bắt đầu nhận ra tư tưởng lớn lao nơi thơ ông khi ông này
cho rằng: “Thơ trữ tình Exenhin chủ yếu có tính tâm tình độc bạch” và
những bài thơ tâm tình nhất của ông được chiếu rọi bằng ánh sáng
của lý tưởng nhân đạo cao cả” [ ]
Iu.L . Prôkusép nhận thấy trong thơ Exenhin có nhiều tính chất tự
thuật “Đó là lời bộc bạch trung thực và dũng cảm của nhà thơ” [ ]
Gordan Macvay đã nhìn nhận Exenhin ở góc nhìn của một nhà văn
hóa lớn, ông khẳng định: “Exenhin nổi lên như một hiên tượng lạ trong
văn học” mà “tên tuổi đã nhanh chóng đi vào huyền thoại” không chỉ
nhân thấy tầm vóc lớn của thi nhân, tác giả cũng đánh giá một cách
chính xác bản chất của thơ Exenhin: “Thơ Exenhin có tính tự thuật và
tính tự thú cao” [ ]
Hầu hết các nhà nghiên cứu trên đều chỉ ra nét đậm trong thơ
Exenhin là chất trữ tình đằm thắm và tính tự thuật – vôn là chiều sâu
tâm hồn thi sĩ. Tuy nhiên chua ai đi sâu vào thế giới nghệ thuật thơ
Exenhin để thấy được vẻ đẹp thuần khiết của đất nước và con người
Nga được ông thể hiện trong thơ. Cũng chua ai lí giải cặn kẽ những
căn nguyên của nỗi niềm day dứt ngẹn ngào trong thơ ông. Người viết
đề tài này sẽ lấy những đánh giá xác đáng của những nhà nghiên cứu
đó để đi sâu vào thế giới nghệ thuật thơ Exenhin, thẩm định lại giá trị
của nó, cố gắng tìm ra những ẩn số còn là bí mật đối với giới phê bình
văn học.
Từ những năm 1960, thơ Exenhin đã đến với độc giả Việt Nam
qua bản dich của nhiều dịch giả như: Thúy Toàn, Đăng Bẩy, Tế Hanh,
Bằng Việt, Xuân Diệu,… và nhanh chóng đi vào tâm hồn Việt như là
một tất yếu không thể nào khác được. Bởi lẽ giưa thơ Exenhin và tâm
hồn người Việt có một nét chung nào đó. Đấy phải chăng chính là sự
“đồng điệu giữa tình yêu thiên nhiên,yêu quê hương bất tận ở Exenhin
và cái căn tính hướng về làng quê nơi nguồn cội trong tâm linh người
cùng của nước Nga - Xô Viết” thật không đơn giản. Nhà thơ đã bộc
bạch một cách trung thực và dũng cảm những mâu thuẫn phức tạp
trong con người mình. Exenhin phải trải qua một cuộc đấu tranh vật
lộn dữ dội với chính bản thân mình để vượt lên chính mình” [ ]
Đoàn Minh Tuấn trong bài giảng phỏng vấn: “những dòng thơ
như là số phận” đã hơn một lần thừa nhận sức ám ảnh cửa Exenhin là
do sự chân thành của thi sĩ: “trong thơ Exenhin có sự chân thành đén
kỳ lạ”, “một sự chân thành đến kỳ lạ”, “ một sự chân thành đến xót
xa”… Với sự tri âm đó, dịch giả đã đem đến cho bạn đọc “một số nét
còn ít được biết đến của nhà thơ” khiến bạn đọc “ hiểu hơn, yêu hơn
những gì mà nhà thơ trải qua trong cuộc đời ngắn ngủi và bi thảm của
ông” [ ]
Trong cuốn “Nét đẹp Nga trong thơ văn va ngôn ngữ Nga” Trần
Vĩnh Phúc đã đi sâu hơn nữa vào thế giới nghệ thuật thơ Exenhin và
phát triển ra sự phức tạp trong việc bộc lộ cảm xúc và thể hiện thế giới
hinh ảnh thơ, nhưng ông mới chỉ nhận thấy khía cạnh bi quan chán
nản của nhà thơ mà không thấy được chiều sâu của dòng cảm xúc
trong thơ Exenhin là tình yêu vô tận với đất nước và con người
Nga.Tác giả này cũng rất có lý khi cho rằng: “Exenhin với sức mạnh
nghệ thuật phi thường đã thể hiện trong thơ mình những tình cảm nổi
loạn và những tâm trạng mâu thuẫn của quần chúng nhân dân ở thời
đại lớn, phức tạp của những biến đổi cách mạng lịch sử”. [ 24, 36 ]
Hồng Thanh Quang trong bài “ không sống thì không thể chết”
khi đi vào lí giải căn nguyên của những mâu thuẫn không thể hóa giải
của thi nhân đã mơ hồ nhận thấy, cái cốt yếu trong thơ Exenhin không
chỉ có nội dung phản ứng lại thời cuộc mà sâu săc hơn ở tình yêu quê
hương đất nước: “sinh thời Exenhin chênh vênh giữa hai trạng thái
ham sống tột cùng và cũng chán sống tột cùng. Nhà thơ được ví như
cây đại phong cầm của nước Nga, làm rung lên những giai điệu thuần
khiết nhất của dân tộc Nga là tư tưởng vĩ đại đã phải mang trong mình
giới nghệ thuật thơ Nguyễn Bính đã có liên hệ tới Exenhin. Bà khẳng
định: “xét về vị trí của hai nhà thơ trong nền văn hóa dân tộc thì có
những nét gần gũi nhau, giống nhau và lí giải nguồn gốc của sự tương
đồng: cả hai người đều tìm đến văn hóa dân gian để trở thành những
nhà thơ chân quê [ 579, 25 ]. Điều đó đã gợi mở những điều hết sức
mới mẻ về nhà thơ Nguyễn Bính đồng thời giúp chúng ta co một cách
nhìn và cách đánh giá thơ Exenhin trên một góc đọ khác. Với đề tài
X. A Exenhin và Nguyễn Bính nhìn từ góc độ so sánh loại hình, nhười
viết sẽ chỉ ra những nét đặc sắc về thế giới nghệ thuật thơ Exenhin
trong tương quan với thế giới nghệ thuât thơ Nguyễn Bính. Từ đó làm
rõ đặc trưng của văn hóa truyền thông mà mỗi nhà thơ trên tiếp nhận.
Có thể thấy đây là một hướng đi mới trong việc nghiên cứu một nhà
thơ Nga vĩ đại trên cơ sở những lời nhận định những bài viết trên làm
định hướng, người viết hi vọng sẽ góp một tiếng nói nhỏ vào việc
thẩm định văn chương và khơi mở những gì còn chìm sâu trong bí
mật về Exenhin.
III. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, người viết đề ra cho mình những nhiệm
vụ sau:
Góp phần khẳng định thêm giá trị của thơ Exenhin và thơ
Nguyễn Bính trong nền văn học thế giới đồng thời chỉ ra sự gặp gỡ
ngẫu nhiên mà kỳ lạ giữa hai nhà thơ vốn có sự cách biệt về không
gian và thời gian văn học. Từ đó chỉ ra những nét đặc sắc riêng của
mỗi người trong dòng chảy lịch sử văn học dân tộc và văn học thế
giới.
Trên cơ sở so sánh với thơ Nguyễn Bính để khám phá những
giá trị thẩm mĩ còn chưa được hiểu hết trong thơ Exenhin, khám phá
chiều sâu tư tưởng trong thế giới nghệ thuật thơ của Exenhin cũng
như nhận diện rõ hơn một số đặc điểm phong cách nghệ thuật của
nhà thơ này.
Chương 2: X.A.Exenhin và Nguyễn Bính nhìn từ góc độ so sánh loại
hình.
NỘI DUNG
Chương 1: Những vấn đề chung về lí luận so sánh.
1.1. Khái quát về văn học so sánh.
1.1.1. Khái niệm:
Theo Lại Nguyên Ân thì “văn học so sánh” là một chuyên
ngành văn học sử nghiên cứu sự giống và khác nhau, tương quan và
tương tác, liên hệ và ảnh hưởng của các nền văn học khác nhau trên
thế giới [ ].
Sự xuất hiện của văn học so sánh đã không được chào đón
nồng nhiệt, thậm chí có người đã phản đối nó, bởi họ không thấy
được rằng “ mọi nền văn học định kỳ đều cảm thấy nhu cầu quay nhìn
ra nước ngoài” (Goethe) .Khi mà văn học so sánh không còn tồn tại thì
người ta lại nhận ra những yêu cầu bức thiết cần có nó. Đó là cái vòng
luẩn quẩn nhưng là biện pháp hữu hiệu để đi tìm những giá trị vĩnh
hằng của đời sống. Sự giẫm đạp của các bước đi sẽ ít nhiều kinh
nghiệm cho các nhà nghiên cứu văn học.
Thế kỷ XXI, văn học so sánh được chú ý nhiều hơn bởi sự
giao thoa văn hóa ngày càng rộng, nhu cầu tìm hiểu mối liên hệ giữa
các nền văn học càng lớn. Từ đây nhiều người đã quay nhìn lại những
chặng đường mà văn hóco sánh đã đi qua để trầm trồ và thán phục.
1.1.2. Lịch sử ra đời.
Thuật ngữ “ văn học so sánh” sinh ra trên đất Pháp, sau đó lan
sang các nước Châu Âu khác, là một thuật ngữ ít được nhiều người
biết đến. Mãi sau này khi nhu cầu nghiên cứu sự giao thoa ảnh hưởng
giữa các nền văn hóa văn học lớn trên thế giới trở thành bức thiết thì
thuật ngữ này mới được nói đến nhiều hơn.
Trong “tuyên ngôn của Đảng cộng sản”(1847), Mác và Angel
đã chỉ ra xu thế vận động của nền văn học thế giới. Đó là xu thế thoát
để tồn tại và khẳng định mình. Không có lí do gì để người ta có thể
phủ nhận sự tồn tại của nó. Và chúng ta có thể hình dung quá trình
phát triển của bộ môn văn học so sánh qua các chặng đường lịch sử
như sau:
Nửa cuối thế kỉ XIX: là giai đoạn hình thành và khẳng định. Ở
giai đoạn này có công lao của các nhà sử gia văn học Anh, Pháp,
Đức, Thụy sỹ, Italia.
Nửa cuối thế kỷ XX: là giai đoạn chủ yếu của sự ảnh hưởng
vay mượn. Ở giai đoạn này nổi bật lên một số trường phái thực chứng
lịch sử của một nhóm các nhà nghiên cứu so sánh người Pháp, đại
diện
của nó là Fernaud, Paul van, Tieghem… Đây là giai đoạn mà văn hóco
sánh rơi vào khủng hoảng vì có những ngộ nhận giữa so sánh văn
học và văn học so sánh.
Nửa sau thế kỷ XX, chúng ta lại chứng kiến một sự phục hồi và
phát triển mãnh mẽ của văn học so sánh trên thế giới. Và ngày nay
ngành họ này đã mang tính toàn cầu và toàn diện hóa, dù rằng vẫn
chưa hết những khó khăn song dường như con đường đi ngày càng
rõ, càng thoáng, càng mở ra những triển vọng mới. Đây được coi là
giai đoạn hoàn chỉnh bộ môn văn học so sánh bằng cách mở rộng đối
tượng nghiên cứu của nó sang lĩnh vực các hiện tượng tương đồng.Ở
đây phải kể đến công lao chủ yếu của V.zhir munki và R.E’tiemble.
Đặc biệt Zhimunsxki đã nhắc đến thuật ngữ “loại hình”. Ông nói khi
nghiên cứu các trào lưu tiến hóa văn học quốc tế ,chúng ta cần phân
biệt những điểm tương đồng về loại hình với những sự du nhập văn
học hoặc sự ảnh hưởng” ( theo Nguyễn Văn Dân).
Trong quá trình phát triển văn học so sánh cũng đã hình thành
các trường phái so sánh khác nhau:
Trường phái Pháp: nghiên cứu sự ảnh hưởng, đại diện tiêu
biểu là P.V.Tieghen, J.M.carre’, M.F.Guyard.
đã làm cho Việt Nam càng Việt Nam hơn. Và Trần Thanh Đạm đã
khẳng định: “Nền văn học hiện đại Việt Nam đã ra đời và phát triển từ
sự giao lưu, hội nhập gian nan, đầy mâu thuẫn, nghịch lý với văn hóa
Pháp và Phương Tây, và sau này cả văn học thế giới”.
Có thể thấy văn học so sánh ở Việt Nam mang tính quá trình.
Ban đầu nó chỉ những hiện tượng đơn lẻ nhằm khẳng định bản sắc
văn hóa dân tộc trong sự giao lưu hội nhập với nền văn hóa thế giới.
Sau này, nó được mở rộng và trở thành một chuyên ngành không thể
thiếu trong nghiên cứu văn học. Điều này có thể lý giải bằng dòng
chảy lịch sử. Cụ thể là, trong hàng nghìn năm Bắc thuộc, bên cạnh
việc vay mượn học hỏi văn hóa của người Hán, người Việt cũng luôn
có ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Sự tiếp nhận,
ảnh hưởng và sự tự khẳng định bản sắc văn hóa đã làm cho người
Việt luôn tồn tại ý thức so sánh.
Thật thế, trong suốt thời trung đại, thơ ca người Việt luôn mang
âm hưởng Đường thi, thậm chí dùng những điển cổ, điển tích của văn
học Trung Quốc để làm chất liệu văn học. Mặt khác chúng ta cũng ý
thức được rằng chúng ta học hỏi được ở họ những gì và sáng tạo
thêm những gì. Từ thế kỉ XVIII, Lê quí đôn đã viết :” nước Việt Nam ta
mở mang nền văn minh vốn không kém Trung Hoa…”. Trong bài tựa “
Quốc âm từ điệu” Phạm Đình Toác đã cho rằng cần phải phân tích thể
thơ lục bát để thấy cái hay của ngôn ngữ thơ ca Việt nam, thấy khả
năng tranh đua của nó với thơ ca Trung Quốc (dẫn theo Nguyễn Văn
Dân).
Ý thức so sánh nói trên tồn tại xuyên suốt trong quá trình văn
hóa lịch sử Việt Nam. Ở đây các học giả cổ điển Việt Nam đã so sánh
bằng cách phân tích các đặc điểm đặc thù của hai hiện tượng văn hóa
văn học quốc tế được đem so sánh. Đây cũng chính là tiền đề tư
tưởng rất quan trọng cho văn học so sánh của nước ta sau này.
Đầu thế kỉ XX, vị trí chữ quốc ngữ được khẳng định ý thức so
rất nhiều công trình tiến hành so sánh các hiện tượng văn học có sự
ảnh hưởng lẫn nhau một cách có hệ thống hơn. Chu Văn Sơn trong
khi tiến hành Hoa ác của Baudelaire thì không có Hàn Mạc Tử…
Nguyễn Thị Bích Hải trong khi phác thảo những nét tương đồng
và dị biết của ba thể thơ: tuyệt cú, hai kư và lục bát đã phát hiện ra sự
giao thoa giữa các nền văn hóa Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam đã
có từ rất lâu…
Văn học so sánh ở Việt Nam cũng nằm trong xu thế chung của
nền văn học thế giới – tức là các bước đi của nó không tuần tự và có
khi rơi vào khủng hoảng. Có rấ nhiều người đã nhầm lẫn ngộ nhận khi
muốn khẳng định sức mạnh của văn hóa dân tộc đã phủ nhận những
ảnh hưởng từ bên ngoài. Tất nhiên sự khủng hoảng của văn học so
sánh ở Việt Nam nói riêng và trong nền văn học thế giới nói chung chỉ
là một bước tự hoàn thiện mình của văn học so sánh bởi bất cứ sự đi
lên nào cũng cần có một bước đi tuần tự. Từ sự ra đời cho đến khi nó
đạt được một vài thành tựu nào đấy là cả một quá trình đau xót giống
như tác phẩm văn chương tự mài mòn qua thời gian khắc nghiệt để tự
khẳng định giá trị.
Cho đến nay, văn học so sánh đã có một vai trò rất lớn trong
lịch sử nghiên cứu văn chương. Nhà nghiên cứu Bửu Nam khẳng
định: “Thế kỉ XXI được xem như thế kỉ đăng quang của ngành văn học
so sánh, một lĩnh vực đầy sức sống và triển vọng nhất trong khoa
nghiên cứu văn học và khoa học nhân văn. Sự đăng quang này phù
hợp với tinh thần thời đại: một tinh thần thế giới hóa, toàn cầu hóa,
quốc tế hóa, một thời đại nhấn mạnh đến giao lưu quan hệ đa phương
đa chiều, hợp tác và hội nhập để phát triển như một xu thế chung của
các nước trên thế giứi. (T29 - văn học so sánh - nghiên cứu và triển
vọng).
Những thành tựu mà văn học so sánh đạt được có sự đóng
góp của so sánh loại hình - một phương pháp nghiên cứu độ đáo
khái quát các chuỗi (rériter) của cái chung. Sự biện chứng giữa tính
loại hình và tính khác biệt chính là sự biến chứng giữa cái chung và
cái riêng, cái phổ quát và cái độc đáo. Như vậy Bửu Nam trong khi
chia tách tính loại hình và tính khác biệt đã một lần nữa khẳng định
con đường riêng của so sánh loại hình.
Thế kỉ XVIII ở Châu Âu những người mở đường cho văn học
so sánh đã bắt đầu nghiên cứu những ảnh hưởng trong văn học từ đó
họ tìm ra nguồn gốc vay mượn để đánh giá nguồn gốc của ngừoi cho
vay Vantieghem đã khẳng định :”…Thuật ngữ “so sánh” cần phải trút
bỏ mọi giá trị thẩm mĩ và nhận lấy một giá trị lịch sử, còn việc tìm ra
những điểm giống nhau giữa hai hay nhiều tác phẩm chỉ là điểm xuất
phát cần thiết cho phép chúng ta phát hiện một sự ảnh hưởng, một sự
vay mượn và từ đó có thể phần nào giải thích một tác phẩm thông qua
một tác phẩm khác ?(theo Nguyễn Văn Dân).
Có rất nhiều nhà nghiên cứu đã phê phán quan điểm của
vantieghem và chỉ ra những hạn chế của ông nhưng vẫn thừa nhận
phương pháp lịch sử của ông. Thực tế là văn học so sánh chỉ có thể
thoát khỏi sự khủng hoảng bằng cách tự phát triển, tự vượt lên những
định kiến cũ và hạn chế để tìm đến những chân trời mới và nó đã tìm
đến một đối tượng khác, rất phong phú có ích cho nghiên cứu văn học
: nghiên cứu những điểm tương đồng ngoài quan hệ trực tiếp. Từ đó
việc tiếp cận văn học theo phương pháp so sánh loại hình ra đời ngẫu
nhiên nhưng là tất yếu đối với lịch sử văn học.
Lối đi riêng của văn học so sánh được thể hiện rất rõ trong
hướng nghiên cứu. Nếu như phướng pháp thực chúng đi tìm sự giống
nhau giữa các hiện tượng văn học quốc tế để từ đó rút ra mức độ ảnh
hưởng và vay mượn trong văn học còn phương pháp loại hình là
nghiên cứu sự tương đồng lịch sử ( bao gồm tương đồng cùng thời và
tương đồng kế tiếp) và tương phi lịch sử.
Như vậy, việc nghiên cứu văn học theo phương pháp so sánh
Tấn(1881 - 1936) Nam Cao(1917 - 1951) cho ta sự hình dung gắn nối
Đông Tây, khu vự và nhân loại đã có thể diễn ra trong bối cảnh mới
của thời đại như thế nào để đến cùng một đỉnh cao và điểm nối…
So sánh loại hình có một lịch sử riêng như vậy và những gì mà
nó đem lạicũng thật lớn lao. Nghiên cứu Exenhin và Nguyễn Bính theo
hướng này chúng ta phải đặt hai ông vào bối cảnh chung của thời đại
lịch sử.
1.3.Sự tiếp xúc giữa văn học Nga và văn học Việt Nam.
Nền văn học Nga thật đồ sộ và có sức lôi quốn kỳ diệu. Sức
mạnh nghệ thuật của nó đã vượt qua biên giới hạn hẹp của một quốc
gia và đến với nhiều nước trên thế giới. Với văn học Việt Nam, văn
học Nga cũng có những ảnh hưởng nhất định. Để có thể khẳng định
đó là sự ảnh hưởng trực tiếphay gián tiếp, chúng ta phải đặt những
tác phẩm văn học đó theo hệ thống, đồng thời đi tìm sự thật lịch sử và
sự thật cuộc đời đằng sau những tác phẩm đó. Chắc chắn rằng giữa
người Việt và người Nga không hề có những mối giao lưu văn hóa
trực tiếp nhưng từ rất lâu truyền thống và vẻ đẹp dân tộc Nga được
người Việt biết đến và một lòng ngưỡng mộ. Trong thời kì lịch sử đầy
những biến cố dữ dội thì sức mạnh của người Nga, tinh thần Nga có
tác dụng cổ vũ rất lớn trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của
người Việt. Vậy thì thơ ca Nga đến với Việt Nam bằng cách nào ?
Phạm Tiến Duật đã nói đến con đường kì diệu thơ ca Nga - đến với
đát nước chúng ta là con đường đi qua các ca khúc Nga. Hàng loạt
các bài thơ đã để lại dấu ấn đậm trong lòng người Việt bằng giai điệu
trữ tình ngọt ngào của các khúc ca, bài thơ “ mình tôi đi trên đường”-
của nhà thơ lermontop - nhạc sĩ Trelop, bài thơ Cachiusa -
(M.Isakovski) - do M.blanter phổ nhạc…Không chỉ thế, thơ ca Nga còn
đến với Việt Nambằng con đường nghien cứu và dịch thuật. Có những
bài thơ Nga khi được dịch ra tiếng Việt đã có sức hấp dẫn lớn hơn
nhiều so với nguyên tác ( bài thơ “đợi anh về” - Ximônốp - do Tố Hữu
rõ ràng. Như Trekhov vaới Nam Cao,Dostoiepxki với Thạch Lam, … là
những ảnh hưởng trực tiếp, còn Exenhin với Nguyễn Bính là ảnh
hưởng gián tiếp. Trên con đường về với chân quê Nguyễn Bính đã
gặp gỡ Exenhin từ góc nhìn và tư tưởng nghệ thuật . Ở đây chúng ta
không đi tìm dấu ấn người Nga trong những tác phẩm của Nguyễn
Bính mà đi tìm những giá trị nghệ thuật đã có sức ám ảnh đối với
nhiều thế hệ bạn đọc. Đã có rất nhiều người áp dụng thành công việc
nghiên cứu văn học theo phương pháp loại hình và khám phá ra
những điều độc đáo từ tác phẩm văn học. Đi theo hướng này có rất
nhiều thuận lợi và khó khăn, song điều quan trọng là chúng ta tìm ra
được chân lí nghệ thuật.
Chương 2: X. A. Exenhim và nguyễn Bính nhình từ góc độ so sánh
loại hình
2.1.Sự gặp gỡ ngẫu nhiên và kì lạ.
2.1.1. Những nét tương đồng về nguồn gốc hình thành hồn thơ.
Nói đến nguồn gốc hình thành hồn thơlà nói đến những yếu tố
đã tác động đến tư tưởng thẩm mỹ và tâm hồn của người nghệ sĩ. Có
thể tìm đến những đầu mối quan trọng gắn Exenhin và Nguyễn Bính
trong những nét giống và khác nhau giữa hai người từ nguồn gốc hình
thànhhồn thơ. Cũng như rất nhiều nghệ sĩ khác, ở Exenhin và Nguyễn
Bính nguồn gốc hình thành nguồn thơ không tách rời khỏi những yếu
tố con người thời đại và vốn sống cá nhân. Tất nhiên chúng ta không
loại trừ sự ảnh hưởng của tính cách và tâm hồn dân tộc đối với thi ca
của họ.
Trước hết, cần nhận thấy cả Exenhin và Nguyễn Bính đều
mang trong mình gốc gác nông dân thuần phác. Xegây
Alechxanddrovits Exenhin sinh ở lành Kônxtantinônvô, tỉnh Riatan
trong một gia đình nông dân. Từ thuở nhỏ đã được dạy dỗ tại gia đình
ông ngoại, một con người tháo vát và khá giả am hiểu sách nhà thờ.
Thưở nhỏ Exenhin đã được cậu rèn cho lòng dũng cảm và sự táo
nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Phủ Lý…Bài thơ “ Cô hái mơ” là một
bài thơ như vậy. Hình ảnh bến nước và cô gái chiều chiều chờ
kháchqua sông đã dệt nên những câu chuyện tình yêu ngang trái. Đấy
là cảm quan bị chi phối bởi cái nhìn rất dân quê.
Như vậy, cả trong thơ Exenhin và trong thơ Nguyễn Bính đều
mang đậm dấu vết tinh thần của người dân quê. Exenhin thì luôn
mong muốn mình là người hát mãi bài hát “nỗi sầu đồng ruộng nước
Nga vàng” còn Nguyễn Bính thì nài nỉ đến thắt lòng” van em em hãy
giữ nguyên quê mùa”. Tất cả đều bị chi phối bởi cái tinh thần dân quê
mà những nhà thơ đã trót nặng mang không muốn giủ bỏ.
Ngoài sự ảnh hưởng của những yếu tố quê hương, gia đình
trong thơ Exenhin và Nguyễn Bính đều mang đậm dấu ấn của yếu tố
thời đại lịch sử. Thơ của Exenhin bắt nguồn từ trong căn nhà gỗ nông
dân, từ ngọn nguồn, ngôn từ nhân dân, trải qua thử thách của cả thời
đại bão tố cuộc thế chiến 1914 – 1918, cuộc cách mạng tháng hai,
cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng mười vĩ đại, cuộc nội chiến,
giai đoạn bắt đầu biến đổi về kinh tế xã hội và kinh tế nông thôn Nga,
rồi thời ky kinh tế mới. Thơ ca Exenhin phản ánh đầy đủ những chặng
đường ấy trong cuộc đời của nhà thơ. Chính Exenhin đã tự nhận xét:
“Những điều gì khác liên quan đến tiểu sử của tôi đều chứa đựng
trong thơ của tôi” (dẫn theo Thúy Toàn).
Gắn liền với một thời đại bão táp cách mạng, gắn liền với tình
yêu lớn lao với tổ quốc thơ Exenhin cũng mang đầy những mâu
thuẫn, trong đó khối mâu thuẫn lớn nhất chính là mâu thuẫn giữa thơ
và thời. Đúng như nhận định của tác giả hà Thị Hòa: “Trong tất cả
những mâu thuẫn mà nhà thơ trải qua có lẽ cái mâu thuẫn giữa thơ và
thời là nặng hơn cả” (………). Từ đó dấy lên trong lòng nhà thơ những
nghi ngờ đổ vỡ. Một mặt ông tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng
Tháng Mười, mặt khác ông lại lo sợ những giá trị tinh thần sẽ bị phá
vỡ trong một thời kỳ lịch sử mới. Trước cuộc sống lịch sử xã hội diễn
Lều gỗ thẩy đều xiêu vẹo
Vẻn vẹn được năm ba
Mái phồng lên bọt trắng
Trong ánh nắng chiều tà
Dưới mái hiên che phủ
Vì kèo long lô xô
Gió rắc ánh dương vụn
Lên mặt mốc xám tro
(1914- Thuý Toàn dịch)
Đã bao lần nhà thơ phải kêu lên thống thiết: “Ôi quê hương u ám mưa
nhiều.
Sự im lặng nay đây mai đó”
“Ôi quê hương tôi nỗi buồn lưu cữu”, “Miền quê ta hoang vắng, miền
quê ta trống trải” và day dứt không nguôi cho số phận những người
nông dân hiền lành lầm lũi ngàn đời trong cơ cực trong đói rách kiệt
quệ dưới chế độ Nga Sa Hoàng .
Chính vì vậy, khi cách mạng tháng Mười nổ ra Exenhin đã bộc
lộ một nguồn nhiệt hứng mãnh liệt với hy vọng lớn lao về một sức
mạnh kì diệu đổi thay
Ôi tôi tin, tôi tin đời hạnh phúc.
Và mặt trời còn chưa tắt hào quang.
Như một kẻ nguyện cầu thân đỏ rực
Hoàng hôn loan báo trước một tin lành
Ôi tôi tin, tôi tin đời hạnh phúc (1917- Thuý Toàn)
Những rung cảm mãnh liệt như thể là một điểm nhấn đặc biệt quan
trọng trong bức tranh tâm trạng hầu như luôn thấm một “nỗi sầu đồng
ruộng” của cái tôi trữ tình. Exenhin hiều rằng cuộc cách mạng là một
bước ngoặt vĩ đại của lịch sử nước Nga , nó là sự hiện thực hoá khát
vọng về tự do cho dân tộc Nga qua Những Puskin, Lecmôntop.
GôgolTuôcghênhép, L. Tônxtôi, Đôtxtôiepxki Như vậy niềm tin càng
dòng sông văn hoá của buổi giao thời. Điều đó đã tạo cho thơ Nguyễn
Bính những âm hưởng lạ kì da diết. Như vậy là yếu tố thời đại tác
động đến hồn thơ Nguyễn Bính không hẳn là những biến cố dữ dội
của lịch sử mà chính là sự chuyển mình của nền văn minh nông
nghiệp lúa nước sang nền văn minh đô thị hiện đại. Ở Nguyễn Bính
không có sự khủng hoảng tinh thần lớn như ở Exenhin nhưng những
chuyển biến tâm trạng của ông trước thời đại lịch sử giống như nhà
thơ Nga ấy hết sức phức tạp. Những biến cố lịch sử ấy đã tác động
mạnh mẽ tới hồn thơ của họ, Thơ Exenhin thì mang nặng nỗi buồn
đau. Còn với Nguyễn Bính sự đổi thay thời cuộc đã đem lại cho thơ
ông mối sầu đô thị và sự thương tiếc khôn nguôi vẻ đẹp truyền thống
của quê hương cùng với những chuyển biến của dòng chảy lịch sử thì
hồn thơ của họ cũng có những thay đổi. Exenhin từ một người hát mãi
bài ca đồng ruộng buồn trở thành người ca ngợi sự đổi thay kì diệu
của quê hương. Còn Nguyễn Bính từ chỗ viết rất hay về văn hoá làng
quê với những giấc mơ huyền thoại xoay sang viết thấm thía về nỗi
sầu đô thị.
Một phương diện quan trọng khác ảnh hưởng đến hồn thơ của hai thi
sỹ chính là tính cách và tâm hồn dân tộc trong cuộc hành trình đi tìm:
tính cách và dân tộc” đã phát hiện ra rằng: Những nét đậm trong tính
cách Nga chính là lòng nhiệt thành, sự bột phát, lòng yêu cái đẹp, sự
thông thái sự đau khổ, thiên chiam sự thánh thiện Tất cả điều đó
vừa tạo nên nét đẹp, vừa mạnh mẽ vừa mang nỗi nuồn thẳm sâu.
Lòng yêu cái đẹp Nga bộc lộ một tìnhyêu sâu sắc và buồn bã với thiên
nhiên Nga mênh mông và huyền bí, yêu những tâm hồn trong sáng
như một chiếc đĩa bạn không chỉ thể hiện ở những thiếu nữ Nga hiền
thục mà ở cả vũ trụ những khía cạnh này được biểu hiện rõ không chỉ
trong thơ Exenhin mà còn trong thơ của nhiều nhà thơ khác. Ta hiểu vì
sao thơ Exenhin vừa thấm đẫm nỗi buồn muôn thủa vừa mang vẻ đẹp
Nga không thể phai mờ. Đọc thơ ông ta thấy hình ảnh những người