PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thơ mới, một khái niệm cho đến giờ đã đặt chúng ta vào những phạm trù
nghĩa khá đa dạng, cần phải suy xét kỹ lưỡng hơn. Bản thân khái niệm này đã
hàm chứa trong đó sự tương sánh với Thơ cũ, đồng thời nó cũng mang ý nghĩa
là một thời đoạn trong lịch sử thơ ca dân tộc, Thơ mới còn là một trào lưu, một
phong cách, một kiểu – một loại hình thơ. Thậm chí, trong suy nghĩ về những
động hướng của một nền văn học, thơ ca tiên tiến, Thơ mới còn đặt ra yêu cầu
có tính cốt thiết về tư duy, tâm thế, bản chất của sáng tạo nghệ thuật. Luận án,
Thơ mới, nhìn từ góc độ loại hình tập trung vào khía cạnh loại hình, kiểu/ lối
Thơ mới nhằm chỉ ra tư cách loại hình của Thơ mới trong tương quan với
những hình thái thơ trước và sau nó.
Cùng với sự phát triển của triết học nhân sinh, triết học ngôn ngữ, khoa học xã
hội nhân văn, sự du nhập của các lý thuyết, phương pháp nghiên cứu văn học
hiện đại, Thơ mới lại có thêm cơ hội để được soi chiếu, thảo luận một cách toàn
vẹn hơn. Bên cạnh đó, vấn đề thực thể Thơ mới vẫn chưa được mô tả một cách
toàn vẹn với sự vắng mặt của những tác giả, tác phẩm bàn nhì, bàn ba, những
diễn ngôn góp phần kiến tạo Thơ mới nhưng không có mặt trong các “điện thờ”
hay bị xem nhẹ, bị mặc nhiên biến thành các diễn ngôn phụ trợ, làm tôn lên các
đỉnh cao. Mặt khác những nghiên cứu ở miền Nam thời kỳ 1954 - 1975 về Thơ
mới cũng chưa được chú ý thỏa đáng để thấy rằng thành tựu nghiên cứu Thơ mới
trong tri thức phổ thông vẫn đầy thiếu khuyết.
Nghiên cứu Thơ mới, quy luật sáng tạo của loại hình thơ này (một loại hình
thơ phát triển rực rỡ bậc nhất trong lịch sử thơ trữ tình Việt Nam) giúp chúng ta
có cái nhìn chân xác hơn về diễn trình và sự vận động của mỹ học thơ ca dân tộc.
Từ đó, hình thành những nhận thức có tính nguyên lý về mỹ học của loại hình
thơ trữ tình nói chung.
Việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập, thưởng thức Thơ mới cần có những định
hướng đa dạng hơn, toàn diện hơn để phù hợp với sự đa dạng, phong phú, tính
phức tạp của bản thân Thơ mới.
1
6. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, và Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận án được cấu
trúc thành 4 chương:
Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Thơ mới từ góc độ loại hình
Chương 2. Vấn đề nghiên cứu loại hình văn học và loại hình thơ
Chương 3. Loại hình Thơ mới, nhìn từ đặc tính kiểu tư duy
Chương 4. Loại hình Thơ mới, nhìn từ cấu trúc kiểu tư duy
Phụ lục: Thơ mới trong bối cảnh phát triển của thơ Đông Á đầu thế kỷ XX
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU THƠ MỚI TỪ
GÓC ĐỘ LOẠI HÌNH
1.1. Nghiên cứu loại hình Thơ mới giai đoạn trước 1945
Đây là giai đoạn có những nghiên cứu đầu tiên về Thơ mới, bắt đầu từ cuộc
tranh luận Mới - Cũ trên báo chí và các diễn đàn văn học lúc bấy giờ. Từ diễn
đàn của Hội khuyến học Sài Gòn, Nhà học hội Quy Nhơn đến mặt báo Phụ nữ
Tân văn, Phong hóa, Ngày nay, Văn học tạp chí, Hà Nội báo, An Nam tạp chí,
Tiểu thuyết thứ bảy, Tri tân, Thanh nghị, Công luận,… Thơ mới và Thơ cũ đã
tranh chiến với nhau một cách quyết liệt. Các đại diện của Thơ mới như: Phan
Khôi, Nguyễn Thị Manh Manh, Lưu Trọng Lư, Nhất Linh, Việt Sinh, An Diễn,
Lê Tràng Kiều, các nhà nghiên cứu như: Hoài Thanh, Hoài Chân, Vũ Ngọc
Phan, Lương Đức Thiệp, Dương Quảng Hàm, Kiều Thanh Quế, đã đưa ra
nhiều lí lẽ, luận cứ đụng chạm đến vấn đề loại hình để minh chứng cho sự xuất
hiện Thơ mới. Từ mục Tin thơ của Lê Ta trên Phong hóa, Ngày nay đến các
công trình dài hơi như: Việt Nam thi ca luận (Lương Đức Thiệp), Thi nhân Việt
nam (Hoài Thanh, Hoài Chân), Nhà văn hiện đại (Vũ Ngọc Phan), Việt Nam văn
học sử yếu (Dương Quảng Hàm) vấn đề loại hình Thơ mới đã manh nha được đề
cập đến nhưng còn rất phiến diện. Ở vấn đề trung tâm, các tranh luận và nghiên
3
cứu vẫn chưa hình thành một hệ quy chiếu có tính khu biệt để định hình Thơ mới
4
chuyên đề về các nhà Thơ mới, các chủ điểm thi ca tiền chiến. Một số công trình
tiêu biểu đã đề cập đến Thơ mới trên bình diện tổng quát. Đáng chú ý là Một thời
lãng mạn trong thi ca Việt Nam của Hà Như Chi do Tân Việt xuất bản năm 1958.
Năm 1966, Nguyễn Tấn Long viết Việt Nam thi nhân tiền chiến, năm sau (1967)
ông cùng Phan Canh viết Khuynh hướng thi ca tiền chiến tập trung vào các tác
giả và vấn đề hình thành thơ tiền chiến như là một biến cố văn học. Năm 1967,
Thanh Lãng hoàn thành công trình Bảng lược đồ văn học Việt Nam: Ba thế hệ
của nền văn học mới 1862-1945 - 2 tập do nhà xuất bản Trình bày ấn hành. Năm
1972, Thanh Lãng cho in Phê bình văn học thế hệ 1932, Phong trào Văn hoá
xuất bản. Riêng về nghiên cứu Thơ mới với tư duy loại hình đã được Thanh
Lãng trình bày trong Quyển hạ của Bảng lược đồ văn học Việt Nam. Năm 1969,
Bằng Giang có một công trình khá cô đọng: Từ thơ mới đến thơ tự do, do Phù sa
xuất bản. Trong công trình này, cùng với việc nhận diện: Thế nào là thơ? Thế
nào là thơ hay? Tiếp cận thơ như thế nào? Ông cũng đã xác định nguyên nhân
ra đời của Thơ mới? Năm 1970, Phạm Công Thiện công bố công trình Ý thức
bùng vỡ, do Phạm Hoàng xuất bản. Cuốn sách này có một bài viết rất ngắn của
Phạm Công Thiện về Thơ mới nhưng vấn đề đặt ra lại khá lý thú. Ông cho rằng
Thơ mới là một sự thất bại của thơ ca Việt. Từ những nghiên cứu này, các vấn đề
của loại hình Thơ mới được hé mở.
1.4. Nghiên cứu loại hình Thơ mới giai đoạn từ 1975 đến nay
Thơ mới đã có ngày về huy hoàng trên một đất nước thống nhất, đặc biệt là
sau bước ngoặt đổi mới (1986). Từ năm 1989, Lê Đình Kỵ tái bản Thơ mới
những bước thăng trầm (xuất bản lần đầu năm 1964) nhận định về bản mệnh của
Thơ mới. Năm 1992, xuất hiện Con mắt thơ của Đỗ Lai Thúy, phê bình phong
cách học Thơ mới với những đỉnh cao rực rỡ của loại hình thơ ca này. Năm
1993, xuất hiện công trình Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca: 60 năm
phong trào thơ mới do Huy Cận, Hà Minh Đức biên soạn trên cơ sở các tham
luận của Hội thảo kỷ niệm 60 năm phong trào Thơ mới. Năm 1994, Nguyễn
Quốc Túy hoàn thành công trình Thơ mới, bình minh thơ Việt Nam hiện đại.
học giả quan tâm. Vấn đề loại hình Thơ mới lại được đặt ra trong các bài viết của
Phan Trọng Thưởng (Thơ mới - Một hiện tượng lịch sử có tính khu vực), Trần
Đình Sử (Mấy vấn đề thi pháp Thơ mới như là một cuộc cách mạng trong thơ
Việt), Hà Minh Đức (Thơ tình trong phong trào Thơ mới 1932 - 1945), Đỗ Lai
Thúy (Thơ mới thành công và thất bại của thành công),…
6
1.5. Tiểu kết
Sau khi đã khảo sát các nghiên cứu về Thơ mới từ khi sinh thành đến nay,
chúng tôi nhận thấy, trong tư duy, ý thức của giới nghiên cứu, vấn đề loại hình
Thơ mới đã từng bước được nêu lên. Giai đoạn trước 1945, do chưa có hệ thống
công cụ, nên nghiên cứu vấn đề loại hình Thơ mới chỉ mới manh nha, còn phiến
diện. Giai đoạn 1945 – 1954, 1954 – 1975 tư duy nghiên cứu loại hình Thơ mới
từng bước được tạo lập với một số công trình của Nghiêm Toản, Phan Cự Đệ, Hà
Như Chi, Thanh Lãng,… nhưng vấn đề vẫn sơ sài, chưa hệ thống. Từ 1975 đến
nay, nhiều công trình nghiên cứu về Thơ mới đã bàn sâu hơn về các khía cạnh
loại hình của Thơ mới. Thuật ngữ loại hình cũng đã được sử dụng phổ biến hơn,
nhưng hệ tiêu chí phổ quát cho loại hình Thơ mới rất tiếc vẫn chưa xuất hiện.
CHƯƠNG 2
VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU LOẠI HÌNH VĂN HỌC VÀ LOẠI HÌNH THƠ
2.1. Loại hình học văn học: những tiền đề lịch sử và nhận thức
Loại hình học (tiếng Anh: typology, tiếng Pháp: typologie) là khoa học nghiên
cứu về loại hình. Nghiên cứu loại hình văn học người ta sẽ không nghi ngờ gì khi
khởi đầu bằng những công trình thời cổ đại của Aristote - người đã hình thành
nguyên lý cơ bản cho tư duy loại hình trong thời đại của ông. Nghiên cứu văn
học trong tư cách là một loại hình nghệ thuật ngôn từ, đặc biệt với Thơ trữ tình -
một biệt ngữ, Mỹ học của Hegel đã gợi mở nhiều tư duy loại hình quan trọng.
Ông chú ý đến “cái nên thơ”, “cách biểu đạt nên thơ”, đi vào từng khía cạnh
chung riêng, phổ biến và đặc thù như: “Tính chất chung của thơ trữ tình”, “Các
phương tiện đặc biệt của thơ trữ tình”. Có thể nói, công trình lý luận mỹ học đồ
sộ này của Hegel là một trong những cẩm nang quan trọng để hình thành tư duy
một không gian nội thể. Nghiên cứu loại hình có hai ngả rất rõ như thế, một
hướng nghiên cứu lịch sử ra đời của các loại hình và một hướng nghiên cứu sự
biến chuyển bên trong của các loại hình. Nghiên cứu của chúng tôi thiên về nội
quan, xem xét sự biến chuyển về đặc tính và cấu trúc của kiểu tư duy Thơ mới.
Tuy nhiên, ngoại quan vẫn tồn tại thường trực khi không tách rời Thơ mới ra
khỏi tổng thể mà nó thuộc về - mỹ học thơ Việt.
2.2. Từ lý thuyết đến thực tiễn ứng dụng
Loại hình học và phương pháp loại hình trong nghiên cứu văn học ở Việt
Nam đã được ứng dụng trong một số công trình của Trần Đình Sử - Những thế
8
giới nghệ thuật thơ, Nguyễn Hữu Sơn - Loại hình tác phẩm Thiền uyển tập anh,
Trần Ngọc Vương - Thực thể Việt nhìn từ các tọa độ chữ, Trần Đình Sử trong
tác phẩm Những thế giới nghệ thuật thơ đã thể hiện cái nhìn loại hình của mình
khi phân chia thơ trữ tình thành các loại hình trữ tình cổ điển, lãng mạn, tượng
trưng, cách mạng. Trần Ngọc Vương nghiên cứu nhà Nho tài tử (trên tinh thần
những phân loại về kiểu nhà nho của Trần Đình Hượu) chính là biểu hiện của tư
duy loại hình với nhưng tiêu chí để phân loại đối tượng,… Căn cứ vào khả năng
quy tụ lực lượng, xu thế vận động, những chủ đề, đề tài phổ biến, cách thức thể
hiện,… có thể nhận thấy một số hướng phân loại loại hình cơ bản sau đây: Loại
hình tác giả/ Loại hình tác phẩm/ Loại hình nhân vật/ Loại hình kết cấu/ Loại
hình phong cách/ Loại hình trào lưu/ Loại hình giọng điệu/ Loại hình âm điệu/
Loại hình nhịp điệu/ Loại hình câu thơ,…
2.3. Nghiên cứu loại hình thơ
Loại hình thơ có thể được tiến hành nghiên cứu trên một hệ quy chiếu: xếp
chồng những tác phẩm thơ để tìm ra những trùng hợp nhất định làm nên tính
tương đồng (Chiều dọc). Khảo sát trong không gian, thời gian với tất cả các tác
phẩm thơ đang vận động trong đời sống văn học nhằm xác định tính phổ quát
chính là thao tác theo chiều ngang. Sự tương đồng ngẫu nhiên trong quan niệm
về chất thơ, trong cách thiết kế thi ảnh, trong cách thức tổ chức văn bản ngôn từ
nghệ thuật, trong việc ưu tiên lựa chọn phương tiện cho sự biểu hiện,… làm nên
nhạc tính thậm chí cả những “khoảng trắng” trong thơ. Tất cả những thành tố
này, trong mối quan hệ mật thiết của chúng, làm nên “chức năng thi ca” (R.
Jakovson), hiệu quả thi ca - đảm bảo tư cách loại hình thơ của một ‘‘diễn từ’’.
3.2. Tính dân tộc và thời đại trong kiểu tư duy Thơ mới
Nói đến tính dân tộc trong Thơ mới thực chất là đi tìm những “mẫu gốc” của
tinh thần dân tộc được thể hiện trong trong hình thức thơ ca, trong thi cách, thi
điệu, nói lên đời sống, sự tiến triển của bản sắc dân tộc trong hình thái Thơ mới.
Sự hài hòa, trọng âm, lấy tình làm bản vị hay tính linh hoạt có thể được nhận ra
trong thể lục bát của Thơ mới. Lục bát của Thơ mới chứ không phải là lục bát
truyền thống, không phải bình mới rượu cũ. Cái mới sinh ra từ một “điệu hồn” đã
không còn nguyên trạng như xưa, từ những quan niệm và thị hiếu thẩm mỹ đã có
nhiều biến cải với tiền kiếp. Từ sự dịch chuyển cảm hứng, thể cách trong thơ
Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, đến Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử,
10
Chế Lan Viên, hay sự ròng nguyên Mùa cổ điển như Quách Tấn,… người ta vẫn
nhận ra cốt cách dân tộc trong thể lục bát, trong tình yêu thương và khát khao
chia sẻ, hòa nhập. Truyền thống lấy tình cảm làm bản vị, duy tình ấy rõ ràng trở
thành một sợi chỉ xuyên suốt diễn trình thơ ca Việt Nam. Tương tự như thế,
không thể phủ nhận sự ảnh hưởng của Thơ mới Việt Nam 1932 - 1945 từ thơ
Pháp thế kỷ XIX. Có nhiều điểm tương đồng trong tư duy, mỹ cảm của các thi sĩ
Thơ mới với các nhà thơ Pháp như Ch. Baudelaire, A. Rimbaud, Verlaine,
Mallarmé,… Nhưng chính trong sự gặp gỡ ấy, người ta vẫn nhận ra sự khác biệt
thuộc về hai dân tộc, hai nền văn hóa có bản sắc không trộn lẫn. Đặc tính dân tộc
như một thứ “vốn” để thi sĩ “thích ứng” với ngoại lai dù đấy là Trung Hoa hay
phương Tây.
Câu chuyện về nền văn học mới theo hướng hiện đại hóa đầu thế kỷ XX có
thể được xem là biểu hiện của một cuộc chuyển biến về hệ giá trị của cá nhân và
thời đại. Điểm quan trọng cốt lõi nhất trong sự dịch chuyển của hệ thống giá trị
nằm ở chính quá trình chuyển biến từ con người siêu cá nhân thời trung đại sang
con người cá nhân, cá thể thời hiện đại. Con người cá nhân thời trung đại dường
lực của Thơ mới - một hệ giá trị nhân văn, nhân bản phản ứng lại với hệ giá trị
cũ. Như cách diễn đạt của Trần Đình Sử đó là “chiến lược phát ngôn của nhà
văn” hướng tới việc kiến tạo một ý thức hệ, một quy ước khác về giá trị, tri thức.
Kiểu tư duy Thơ mới được cấu trúc nên bởi các thành tố: quan niệm về chất thơ,
cách kiến tạo thi giới, tạo lập thi ảnh, các chất liệu và phương tiện nổi bật để tạo
thành diễn ngôn Thơ mới, Cuộc đấu tranh Mới - Cũ chính là “trường tranh
đấu” của hai kiểu tư duy, hai hệ hình mỹ cảm, trong đó Thơ cũ là hệ hình thẩm
mỹ đã không còn đủ sức để khẳng định chân lý và quyền lực của mình. Kiểu tư
duy hướng đến “mỹ học đồng nhất” (IU. Lotman) của Thơ trung đại đã bị tan vỡ
trong thế cuộc của thời cận hiện đại. Con người cận hiện đại không thấy yên ổn
với sự đồng nhất ấy, họ thấy trong họ, cái ái tình không chỉ là hôn nhân, mà trăm
ngàn dáng điệu, cung bậc (ý Lưu Trọng Lư). Vì thế, tư duy Thơ mới đã bung ra,
từ đồng nhất đến đối lập. Đối lập như một thiết chế bên trong để kiến tạo “cái
khác”. Cái tôi Thơ mới đối lập với tha nhân, ngoại vật để khẳng định bản ngã của
mình. Thơ mới là một loại hình thơ, một diễn ngôn, một huyền thoại hay là một
“ký hiệu” bởi lẽ nó biểu đạt/ biểu nghĩa trong sự vận hành, đối thoại của nó.
3.4. Từ Thơ trung đại đến Thơ mới: sự dịch chuyển của những đặc trưng
loại hình
12
Thứ nhất: Từ Thơ trung đại đến Thơ mới đã chứng kiến quá trình dịch chuyển
từ tư duy, mỹ cảm siêu cá thể sang cá thể - một cá thể phát hiện ra chính mình
trong cuộc hội ngộ với Tây phương.
Thứ hai: Trong Thơ mới, cùng với sự xuất hiện của hệ giá trị cá nhân là quá
trình dịch chuyển từ lớp biểu tượng cộng đồng sang biểu tượng cá nhân.
Thứ ba: Tư duy và mỹ cảm Thơ mới phản ứng lại Thơ trung đại để duy trì
quá trình dịch chuyển từ đặc tính quy ước của mỹ học đồng nhất sang tính phi
quy ước của mỹ học đối lập.
Thứ tư: Kiểu tư duy Thơ mới là hình thái của một tiến trình dịch chuyển từ tư
duy liên tục sang tư duy đứt đoạn biểu hiện trong vai trò của các thao tác tư duy:
suy tưởng, liên tưởng và tưởng tượng.
nguyên này. Khi nhân loại kéo đổ những bức tường, khi thế giới đang phẳng ra
từng ngày, con người lại thấy chẳng còn trung tâm nào, chẳng còn đỉnh cao nào
để ngưỡng vọng, tôn thờ hay ít nhất là để tự tín. Một thế giới đổ vỡ, một kỷ đại
thiếu vắng đức tin, một chân trời trập trùng giới hạn là tâm thức của con người
đương đại. Trong bộn bề, sôi nổi của sáng tác thơ ca, chúng ta nhận ra hai hướng
vận động khá rõ, về bản chất là không tách rời, nhưng đã hiển lộ trong thực hành
nghệ thuật của các tác giả giai đoạn này. Hướng thứ nhất: đổi mới, đào sâu, mở
rộng nội dung thể tài, có thể nhận ra ở thơ Nguyễn Duy, Nguyễn Đức Mậu, Đoàn
Thị Lam Luyến, Phạm Thị Ngọc Liên, Dư Thị Hoàn, Xuân Quỳnh, Trương Nam
Hương, Đồng Đức Bốn, Mai Văn Phấn giai đoạn đầu,… Hướng thứ hai, cách tân
ráo riết về hình thức nghệ thuật. Hướng này nổi lên trong thơ Dương Tường, Lê
Đạt, Hoàng Hưng, Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn giai đoạn sau, kéo dài
đến các nhà thơ trẻ hiện nay,… Chất thơ đương đại gói lại là kinh nghiệm bản thể
trong sự tương tác đa chiều với thực tại. Đồng thời, bản thể không phải là cá thể
mà là đa thể/ đa ngã. Cái tôi cá thể Thơ mới khát khao biểu tỏ, khát khao chia
sẻ, còn cái tôi trữ tình trong thơ đương đại là cái tôi không được chia sẻ, ưu tư
vì cô độc. Chất thơ là kinh nghiệm bản thể nên tư duy Thơ đương đại là tư duy
đa thể, đứt đoạn, phân khúc, lập thể hướng tới sự đa nguyên. Nó đứt đoạn
trong chính sự cô độc, bất khả sẻ chia. Có thể điểm chứng bằng trường hợp
Nguyễn Quang Thiều; Mai Văn Phấn; Văn Cầm Hải; Vi Thùy Linh, Nguyễn
Ngọc Tư,…
3.6. Tiểu kết
14
Nghiên cứu đặc tính của kiểu tư duy Thơ mới, nhấn mạnh vào tính dân tộc,
tính thời đại, đặc biệt là tính cá nhân, đối chiếu với Thơ trung đại (trước), các
hình thái thơ sau Thơ mới, có thể thấy:
Một là: Tính dân tộc của Thơ mới là sự kế thừa đồng thời bồi đắp thêm những
giá trị cốt lõi trong truyền thống văn hóa, tinh thần dân tộc. Tính dân tộc của Thơ
mới phải được ý thức là một phẩm tính loại hình, không đơn giản chỉ là sự truyền
thừa từ Thơ trung đại.
Pháp thanh tân, trong trẻo, Hằng Phương trông theo mây trắng thẫn thờ mắt
xanh, Anh Thơ mải mê ngắm Bức tranh quê, Đoàn Phú Tứ thiên thu những
hương sắc thời gian, Phạm Văn Hạnh rũ áo lên đền, Phạm Hầu gieo lệ vàng trên
ngấn nắng, Trần Mai Châu vẫn chưa nguôi lòng phế vương, Nguyễn Viết Lãm
mỏng manh áo sương qua miền Thơ mới,… Mỗi cá nhân là một thế giới, một
trường thẩm mỹ riêng biệt. Đó là điều mà các thi sĩ Thơ mới đã làm được một
cách xuất sắc để vượt qua Thơ trung đại. Thơ mới có điểm chung ở ý thức cao độ
về cá thể - con người cá nhân tư sản trong môi trường đô thị kiểu phương Tây.
Điều đó là căn nguyên cho những thực hành cá nhân đa dạng, phong phú nhưng
không hề rời rạc. Chất Thơ mới trước hết và chung nhất chính là “điệu hồn” của
con người cá nhân tư sản, khước từ truyền thống thi học đạo lý, đồng nhất của tiền
nhân.
4.2. Cách kiến tạo thế giới nghệ thuật của Thơ mới
4.2.1. Mô hình kiến tạo thế giới nghệ thuật của Thơ mới
Trong khảo sát của chúng tôi, Thơ trung đại duy trì khá nhất quán kiểu tư
duy nhất nguyên. Ở đó, hệ giá trị mỹ học thống trị là những quy ước của cộng
đồng tuân theo kinh điển và tri thức bản địa. Đối với Thơ mới, kiểu tư duy nhất
nguyên đã bị phá vỡ, thay vào đó là kiểu tư duy nhị nguyên – phân cực. Kiểu tư
duy này luôn có xu hướng kiến tạo hai trạng thái đối lập, biểu thị hai trạng huống
của tâm lý, mỹ cảm. Các thi nhân Thơ mới bị ám ảnh bởi thời gian - sự chảy trôi,
cái chết, sự hủy diệt; không gian - sự cô đơn, ngăn cách,… Khát vọng sống với ý
nghĩa thực hữu luôn khiến họ “mơ về” một viễn cảnh tươi sáng nhưng đồng thời
cũng ghì riết họ xuống ngục giới tối tăm không giới hạn.
Những tư duy trong việc cảm nhận và thể hiện về không gian, thời gian và
con người, nhằm xây dựng hình ảnh, hình tượng thơ chính là Hướng tư duy theo
16
chiều ngang. Hướng tư duy này thường được biểu hiện trong cách sử dụng các
biện pháp tu từ như ẩn dụ, so sánh, nhân hoá, các điển cố, bí tích tôn giáo, biểu
tượng, Các biện pháp này làm xuất hiện hình ảnh và giúp tư duy thơ luôn vận
động không ngừng. Trường thẩm mỹ vì thế cũng được mở rộng.
được tổ chức với nhịp độ khá tự do.
Quan niệm về văn chương nói chung và thơ thời trung đại, cơ bản ít đề cập
đến nhạc tính trong thơ. Mặt khác, âm nhạc truyền thống và nhạc trong Thơ
trung đại là hợp âm của Ngũ cung như nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra. Tân nhạc do
những ảnh hưởng từ âm nhạc Tây phương nên là sự hòa âm của Ngũ cung trong
nhạc truyền thống với Thất cung trong nhạc Pháp. Sự cất cánh của Nhạc trong
Thơ mới với vai trò to lớn của thanh âm, đã trở thành một sự “nổi loạn” trước
tính chất duy lý của Thơ trung đại tỏ ra khá hoài nghi với những trực cảm siêu
hình gợi lên từ thanh âm.
4.2.2.2. Kiến tạo nhịp điệu của Thơ mới
Nhịp điệu trong thơ, suy đến cùng là sự tổ chức lời thơ, thi ảnh, xúc cảm,…
có tính trùng lặp trong thời gian, không gian văn bản thơ. Thơ trung đại cũng rất
trọng nhịp điệu. Tuy nhiên, kiểu tổ chức nhịp của Thơ trung đại khác Thơ mới.
Thời trung đại, tư duy duy lí gắn với đặc tính nhất nguyên, không phân cực,
hướng đến sự hòa hợp, nhất thể hóa khiến cho sự đăng đối, nhịp nhàng trở thành
yêu cầu của thể loại. Trên bình diện là một phổ niệm loại hình, cấu trúc nhịp 4/3
chung cho phần lớn các thi phẩm trung đại. Phổ niệm này bị phá bỏ trong Thơ
mới hay chính xác hơn là bị quan niệm lại, bị tước bỏ quyền lực. Có thể, thi sĩ
Thơ mới vẫn dùng nhịp 4/3 nhưng tâm thế lại khác hoặc cải biến nhịp truyền
thống này thành nhiều cấu trúc nhịp khác rất bất định.
Trong khi nghiên cứu Thơ mới, chúng tôi nhận ra hiện tượng gia tăng hư từ
để kiến tạo nhịp. Điều này rất hiếm trong Thơ trung đại. Điểm khác biệt của loại
hình Thơ mới và Thơ trung đại trên bình diện cấu trúc nhịp thơ chính là: Thơ
trung đại cấu trúc nhịp dựa trên “chiết đoạn ngữ pháp”, còn nhịp Thơ mới
xây dựng trên “chuỗi không phân lập”. Kiến tạo chuỗi không phân lập tức là
kiến tạo nhịp thơ, hơi thơ. Mỗi chuỗi là một nhịp, một quãng bước trong mạch
vận động của hơi thơ. Ở đó chúng ta nhận ra sự khác biệt, sự phong phú của từng
18
chủ thể trong Thơ mới. Thơ trung đại, cấu trúc nhịp điệu bằng chiết đoạn ngữ
pháp, bị o ép bởi niêm luật nên nhịp điệu ít có cơ hội được bung tỏa theo ý tình.
đến đứt đoạn ở giai đoạn sau. Đứt đoạn và phân lập là một trong những biểu hiện
của thời hiện đại. Thúc đẩy quá trình này trong kiểu tư duy Thơ mới chính là sự
dịch chuyển của thao tác liên tưởng, suy tưởng sang thao tác tưởng tượng. Tư
duy Thơ mới là kiểu tư duy phân cực hướng đến nhị nguyên, còn tư duy thơ
trung đại là tư duy không phân cực, đồng nhất, hướng đến nhất nguyên. Từ kiểu
tư duy cá thể đặc thù như trên của Thơ mới, với quan niệm về chất thơ và giá trị
quan của cá nhân tư sản, các nhà Thơ mới đã thả lỏng tư duy kiến tạo hình thức
nghệ thuật. Thơ mới khẳng định tư cách loại hình của mình bằng cách tổ chức
giai điệu, nhịp điệu, nhạc tính, âm điệu khác biệt so với Thơ trung đại.
KẾT LUẬN
Loại hình học và phương pháp loại hình không phải là một sự bảo thủ, duy ý chí
trong bối cảnh hậu hiện đại như một vài người đã lo lắng. Chính trong sự đa dạng,
phong phú của các thực tại nghiên cứu, tư duy tổng hợp, phân tích, phân loại càng có
điều kiện để triển khai. Không phải là một khoa học vạn năng, nhưng có thể nói, loại
hình học trong giới hạn của mình đã chứng tỏ được ý nghĩa thực tiễn và lý luận của nó.
Khảo sát các công trình giới thiệu cũng như ứng dụng loại hình học, phương
pháp loại hình ở Việt Nam, phần lớn có thể nhận ra các tác giả tập trung vào khía
cạnh tương đồng loại hình, những điểm tương đồng mang tính quy luật của các
hiện tượng văn học. Điều đó cho đến nay vẫn là những nhận thức phổ biến về
loại hình học. Tuy nhiên, như chúng tôi đã chỉ ra trong quá trình thực hành
nghiên cứu loại hình Thơ mới, những điểm khác biệt loại hình, những ranh giới
loại hình,… lại càng phải được ý thức rõ trong nghiên cứu theo phương pháp
này. Điểm cần lưu ý ở đây là tương đồng loại hình chính là phổ niệm có chức
năng định danh còn những khác biệt lại có chức năng định vị.
Loại hình học nghiên cứu văn học là một khoa học có đối tượng là những
tương đồng mang tính quy luật của các hiện tượng văn học. Loại hình thơ tuân
thủ các nguyên tắc loại hình học văn học, trong nghiên cứu này, được nhận diện
trên hệ quy chiếu: kiểu tư duy thơ, quan niệm về chất thơ, cách kiến tạo thi ảnh,
cách kiến tạo văn bản nghệ thuật, các phương tiện biểu hiện nổi bật. Điều này
20
nhìn về những thi sĩ bàn nhì, bàn ba, những nữ sĩ một thời, những dữ liệu liên
21
quan đã tàn khuyết,… như một bổ sung về thực thể Thơ mới. Do dung lượng
luận án, những nghiên cứu cụ thể của chúng tôi về Nghịch âm trong thơ Hàn
Mặc Tử, Ám ảnh không được cứu rỗi trong thơ Hàn Mặc Tử, Triết lý âm dương
trong Đây thôn Vỹ Dạ, Hàn Mặc Tử trong đời sống văn học miền Nam (1954 -
1975), Đinh Hùng, Bích Khê, Hoàng Diệp, Nguyễn Viết Lãm, Phạm Văn Hạnh,
Phạm Hầu, Yến Lan, Đoàn Phú Tứ, Trần Mai Châu, Nguyễn Thị Manh Manh,
Hằng Phương,… chưa thể trình bày một cách căn kẽ. Các nghiên cứu liên đới
như Thơ mới và Hát nói, Thi nhân Việt Nam và hành trình theo chân Dionisos,
Thơ mới và Thơ đương đại (Vang hưởng của Hàn Mặc Tử trong đời sống đương
đại, Vi Thùy Linh, Mai Văn Phấn, Trương Đăng Dung, Nguyễn Quang Thiều,
Nguyễn Bình Phương),… như những đối chứng, những lần tìm về sự đứt gãy và
tính liên tục của những lịch sử mỹ học trong tiến trình thi ca dân tộc cũng chỉ
mới dừng lại ở việc tóm lược.
Thơ mới là một loại hình thơ trong tiến trình thơ Việt Nam từ khởi thủy đến
hiện đại. Từ sự ra đời của Thơ mới đến quá trình đấu tranh giành quyền được cất
tiếng trong lịch sử thi ca dân tộc, Thơ mới nổi bật, phân biệt với Thơ trung đại
bởi Kiểu tư duy mang đặc tính cá thể nổi trội. Đó là tư duy, cảm xúc của con
người cá nhân tư sản trong môi trường đô thị kiểu phương Tây. Chủ thể sáng tạo
này với tham vọng sống và tự biểu hiện của mình đã đẩy tư duy thơ từ những
logic thông thường đến những địa hạt phi lý, siêu logic hơn của trí tưởng. Tư duy
Thơ mới là một hành trình đi từ sự liên tục của liên tưởng, suy tưởng đến sự đứt
đoạn, lập thể của tưởng tượng, từ hữu thức đến vô thức, kéo loại hình Thơ mới đi
từ lãng mạn đến tượng trưng và siêu thực. Thơ mới cũng hiện hình những tư duy
kiến tạo có tính nhị phân, lưỡng cực. Đó là hệ quả tất yếu trong bối cảnh sống
của con người cá nhân tư sản. Thơ mới là quá trình dịch chuyển của những đặc
trưng mang phẩm tính loại hình trong kiểu tư duy thơ. Đó là:
Thứ nhất, từ Thơ trung đại đến Thơ mới đã chứng kiến quá trình dịch chuyển
từ tư duy siêu cá thể sang cá thể - một cá thể phát hiện ra chính mình trong
dự định của mình, chúng tôi đã nghĩ đến những khả năng để tiếp tục nghiên cứu
Thơ mới:
- Những ứng xử của Thơ Pháp, Văn hóa Pháp trong sự “thích ứng” với Văn
hóa, Văn học Việt Nam.
- Bảo tồn bản sắc văn hóa trong Thơ mới.
23
- Diễn ngôn Thơ mới như một ký hiệu biểu đạt nhu cầu, thị hiếu - những đòi
hỏi về “an toàn tinh thần” của cá nhân tư sản trong thời đại hội nhập.
- Mối quan hệ giữa Thơ mới và Tân nhạc, Hội họa tiền chiến.
- Sự vang hưởng của Thơ mới đến những giai đoạn sau của lịch sử thơ ca
Việt Nam
- Thơ trữ tình cận hiện đại Đông Á trong cuộc hội nhập với phương Tây.
- Nghiên cứu sâu hơn nữa về sinh thái học văn hóa trong Thơ mới.
- Nghiên cứu loại hình tác giả Thơ mới chuyển mình sau cách mạng, loại
hình tác giả Thơ mới di cư vào miền Nam.
- Đời sống, thái độ, bệnh tật, tôn giáo, tín ngưỡng của các thi sĩ Thơ mới, gia
đình và xã hội ứng xử với các tác giả và thơ ca của họ.
- Điều tra thái độ xã hội đối với các hiện tượng văn học quá khứ trong
đó có Thơ mới - một đề tài xã hội học văn học và nhiều vấn đề khác có lẽ
còn tiếp tục có thể khai triển…
Loại hình Thơ mới chỉ là một hướng nghiên cứu nội quan trên tinh thần đào
sâu vào bản thể Thơ mới, bởi thế không phải là tiếng nói sau cùng cho một hiện
tượng văn hóa.
24
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Sách
1. “Hàn Mặc Tử trong đời sống văn học miền Nam 1954 - 1975”, in trong sách:
Nhìn lại Thơ mới và văn xuôi Tự lực văn đoàn, Trần Hữu Tá, Nguyễn Thành
Thi, Đoàn Lê Giang (chủ biên), Nxb Thanh Niên, 2013, tr. 251 - 263.