DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 1
1. Trần Thanh Lịch
2. Hà Ngọc Lan
3. Lê Thị Thu Hằng
4. Đỗ Thị Vàng
5. Phạm Lan Anh
6. Bùi Văn Dương
7. Nguyễn Thị Quyên
8. Vũ Thị Cảnh
9. Lưu Thị Lan Phương
10. Hoàng Thị Hồng Thu
11. Trần Thị Hải Yến
LỜI MỞ ĐẦU
Trong vài năm trở lại đây, bạo lực gia đình - một vấn đề có tính toàn
cầu - được xem là đề tài thu hút giới nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã
hội và nhân văn.
Đối với những nước kém hoặc đang phát triển, những vùng nông
thôn, thì nạn bạo hành đối với người phụ nữ trở nên phổ biến hơn nhiều lần,
do những nguyên nhân như nhận thức của cả người bạo hành và nạn nhân
bạo hành, do văn hoá, hoặc cơ chế xử phạt còn chưa nghiêm minh…
Đối tượng của các hành vi bạo lực trong gia đình thường là những
người yếu đuối, dễ bị tổn thương và trong hầu hết các trường hợp là phụ nữ,
làm tổn hại cả về thể chất và tinh thần của người phụ nữ và làm mất ổn định
cuộc sống, hạnh phúc gia đình. Nạn bạo lực đối với phụ nữ gây nên nhiều
tổn thất nghiêm trọng. Nó không chỉ hạn chế sự tham gia của phụ nữ vào đời
sống xã hội, gây hậu quả về thể chất, tâm lý cho bản thân phụ nữ mà còn với
cả trẻ em, gia đình và toàn xã hội. Vì vậy, những nỗ lực xóa bỏ nạn bạo lực
trên cơ sở giới, trong đó có thiết lập một khuôn khổ pháp lý quốc gia là hết
là sức cần thiết.
Từ những vấn đề trên, nhóm 1 – Lớp Đ3CT5 xin dành một phần nhỏ
những công sức của mình vào nghiên cứu thực trạng bạo lực đối với phụ nữ
Liên hợp quốc về bạo lực đối với phụ nữ, 1993)
II. Hình thức bạo lực thể chất
Trong bộ luật của Liên Hợp Quốc về bạo lực gia đình đã xác định:
+ Bạo lực về thể chất: đây là hình thức bạo lực bao gồm bất cứ hành
vi bạo lực thể chất gây ra thương tích về thể chất hoặc tổn thương thân thể ở
bất kỳ mức độ nào.
+ Bạo lực về thể chất đối với người phụ nữ: là sự bất bình đẳng trong
mối quan hệ trong hôn nhân, ngoài hôn nhân hoặc trong những mối quan hệ
liên quan tới hôn nhân đối với người phụ nữ, gây ra những thương tích về
thân thể, xa hơn là gây nên các hậu quả về tinh thần, hoặc tính mạng.
III. Các dấu hiệu giúp phát hiện bạo hành thể xác
• Thờ ơ
• Ngắt véo gây đau
• Đánh đau, gây thương tích ở khu vực khó phát hiện
• Xô đẩy, kềm xiết
• Giật, kéo, lắc mạnh; kéo, rứt tóc
• Tát, cắn
• Đấm đá
• Bóp cổ, ném đồ vật vào nạn nhân
• Đánh đập nặng, gây thương tích (gãy xương, chấn thương nội
tạng)
• Quăng ném nạn nhân
• Đánh đá vùng bụng gây sẩy thai hoặc sinh non
• Sử dụng hung khí có sẵn trong nhà tấn công nạn nhân
• Gây thương tích nặng, không cho nạn nhân chữa trị
• Dùng phương tiện có dự định (dao, súng,… )
• Hủy hoại, làm biến dạng hình thể (acid, cắt xẻo…)
• Giết
PHẦN II. TỔNG QUAN ĐỊA PHƯƠNG
I. Tình hình kinh tế xã hội tại phường Quang Trung – Thị xã
Có 112 gia đình có 3 con trở lên.
Số phụ nữ đã kết hôn (có giấy đăng kí kết hôn) là 578/802 hộ dân, số
còn lại sống chung không có hôn thú, hoặc goá chồng.
PHẦN III. THỰC TRẠNG
I. Thực trạng về thu nhập của phụ nữ tại thị xã Uông Bí – Tỉnh
Quảng Ninh
(Số liệu điều tra từ hội phụ nữ thị xã Uông Bí năm 2009, rút gọn
nghiên cứu đối với phụ nữ trong hôn nhân và sống chung không hôn thú là
622 người)
1. Công việc
Công việc thực tại Tỉ lệ(%)
Công nhân viên chức 21,03%
Buôn bán 26,01%
Nội trợ 9,19%
Công nhân xí nghiệp 18,24%
Làm ruộng 5,34%
Thất nghiệp 4%
Khác 16.19%
Như vậy, tỉ lệ bạo hành tuy không phải tuyệt đối nhưng có nguy cơ
cao nhất trở thành nạn nhân là các phụ nữ bị phụ thuộc kinh tế (chiếm
khoảng 15%). 15% tỷ lệ phụ nữ này đã được xác nhận là từng bị đánh đập,
hoặc ít nhất là đã bị đe dọa bạo hành từ chính người chồng gắn bó với họ.
Những người phụ nữ đang bị thất nghiệp, không muốn kiếm tìm việc
làm do những nguyên nhân như nhận thức muốn hưởng thụ, dựa vào lời hứa
của chồng trước khi kết hôn (cho vợ một cuộc sống sung túc không phải làm
việc), hoặc thậm chí là bị chồng ép buộc ở nhà nội trợ. Có một vài nguyên
nhân khác như công việc không ổn định, làm đồng áng tạo ra thu nhập thấp
nên không chia sẻ được kinh tế với gia đình cũng là một trong số những
nguyên nhân dẫn đến bạo hành về thể chất.
hàng đầu; tôn trọng sự lựa chọn của người bạo hành về phương pháp, cách
thức giải quyết tình trạng của bản thân họ; đảm bảo bảo mật thông tin cá
nhân của người bị bạo hành; đặt quyền lợi của người phụ nữ và bình đẳng
giới là định hướng cho nội dung hỗ trợ; căn cứ vào các quy định của pháp
luật Việt nam khi hỗ trợ người bị bạo hành.
* Để làm được điều này, cần tiến hành các lớp nâng cao kiến thức về
giới, bình đẳng giới cho người phụ nữ. Quan niệm trọng nam khinh nữ ở
Việt Nam tuy không còn quá nặng nề nhưng nó vẫn tác động một phần tới
suy nghĩ là "phái yếu" của họ, đôi khi họ quan niệm rằng trụ cột đàn ông
trong gia đình cần phải thể hiện được uy quyền của mình, vì vậy, người phụ
nữ thường chấp nhận những tư tưởng và hành vi áp đặt họ từ lâu.
Đảm bảo một tư tưởng tiến bộ và đúng đắn cho chính thân chủ là
những người phụ nữ là điểm trọng yếu. nhưng bên cạnh đó một điều hết sức
quan trọng là đối tác (tức là những đối tượng bạo hành) cũng cần có những
nhận thức đầy đủ về giới, sự tôn trọng cần có trong cùng một gia đình.
* Truyền thông các vấn đề về giới và bạo lực gia đình rộng rãi trên
toàn bộ các phương tiện đại chúng (tờ rơi, áp phích, truyền thanh truyền
hình… )
* Thành lập một số trung tâm tư vấn cho người phụ nữ (VD các tổ
phụ nữ cơ sở) sẽ làm rất tốt vai trò là thành viên của tổ hòa giải cơ sở, kịp
thời tư vấn, hòa giải về các vụ bạo lực nảy sinh tại địa phương, cũng như các
vấn đề dưới dạng nguy cơ nảy sinh bạo lực.
* Cộng đồng cần chung tay phòng chống bạo lực gia đình, sự tham gia
của những người hàng xóm, gia đình hai bên vợ/chồng, CA viên… Sự giám
sát và khuyên giải kịp thời của họ sẽ làm giảm đáng kể các hành vi bạo lực
của người chồng.
* Sự can thiệp và phát hiện kịp thời của các nhân viên y tế phường,
khu. Các nhân viên y tế thường là những người phát hiện sớm nhất, tiếp xúc
đầu tiên với phụ nữ bị bạo hành khi họ bị đánh đập dẫn đến thương tích. Vì
vậy, cần có các lớp tập huấn cho cán bộ y tế, để họ có những kĩ năng cơ bản
Đối với các dịch vụ hỗ trợ và trung tâm tư vấn đưa ra các biện pháp giúp đỡ
cho người phụ nữ biết cách ứng phó với những tình huống bạo hành do
chồng gây ra, và xa hơn nữa là giúp đỡ họ học cách “lấy lòng” chồng để
ngăn ngừa hành động bạo lực có nguy cơ xảy ra bên cạnh giúp đỡ thân chủ
(người bị bạo hành) biết cách ứng phó và giải quyết, ngoài ra còn giáo dục ý
thức cho người chồng, để người đàn ông có thể hiểu được bạo hành là việc
làm sai trái và là nguyên nhân dẫn đến sự đỗ vỡ của gia đình.
Đối với trung tâm y tế : với chức năng chữa trị, phục hồi thể chất cho người
phụ nữ, bởi khi bị chồng đánh dập, hành hạ thì người phụ nữ có thể bị những
chấn thương, tổn hại đến sức khoẻ, thể xác.
Đối với các cấp chính quyền : dùng pháp luật để cưỡng chế việc đánh đập,
xâm phạm thân xác người vợ, người phụ nữ do người chồng, người đàn ông
gây ra. Bên cạnh biện pháp cưỡng chế (răn đe) thì các cấp chính quyền còn
có thể giáo dục ý thức cho người chồng nhận thức được hành động bạo hành
của họ là sai trái.
Điều quan trọng mà các dịch vụ hỗ trợ, trung tâm tư vấn, y tế và các cấp
chính quyền cần quan tâm đó là : giáo dục cho người phụ nữ, người vợ
(những người bị hại) ý thức được việc họ bị đánh đập, hành hạ là trái với
pháp luật, họ có thể nhờ người khác giúp đỡ. Bởi việc bạo hành không còn
là vấn đề riêng tư của gia đình họ nữa.
Biện pháp kế tiếp là gián tiếp gây ý thức cho người đàn ông, người chồng
bằng cách tuyên dương, khen thưởng những gia đình gương mẫu, gia đình
văn hoá. Qua việc những gia đình này đã có ý thức giữ gìn trật tự khu phố,
làng xóm; bầu khí gia đình đầm ấm, hạnh phúc, vợ chồng con cái sống hoà
thuận … Để qua việc khen hưởng đó mà người đàn ông, người chồng
thường có hành vi bạo hành với vợ con hiểu được việc làm của anh ta là sai
trái, không được làng xóm, xã hội chấp nhận.
Biện pháp cuối cùng cần đặt ra đó là sự can thiệp của các tổ chức xã hội, các
ban ngành chính quyền địa phương cần tích cực và chính xác hơn.
Nói tóm lại, vấn đề bạo hành đói với phụ nữ trong gia đình Việt Nam hiện