Đề tài: "Tình hình triển
khai nghiệp vụ bảo hiểm
hàng hoá xuất nhập khẩu
vận chuyển bằng đường
biển tại Bảo Minh Hà Nội"
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
Chơng III: Kiến nghị và giải pháp nhằm phát triển nghiệp vụ bảo hiểm hàng
hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đờng biển tại Bảo Minh Hà Nội
Do thời gian thực tập không nhiều và còn hạn chế trong lý luận cũng nh kinh
nghiệm thực tế nên đề tài không tránh khỏi thiếu sót nhất định. Em rất mong nhận
đợc những đóng góp và ý kiến của các thầy cô.
Em xin chân thành cảm ơn!
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
Chơng I
Lý luận chung về bảo hiểm hàng hoá
xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đờng biển
1. Vai trò của vận tải biển và sự cần thiết của bảo hiểm hàng hoá xuất
nhập khẩu vận chuyển bằng đờng biển.
1.1. Vai trò của vận chuyển bằng đờng biển.
Việc thông thơng buôn bán hàng hoá đóng vai trò quan trọng đối với mỗi
quốc gia. Để vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu ngời ta sử dụng nhiều phơng
thức khác nhau nh: đờng bộ, đờng sắt, đờng biển, đờng hàng không Nhng
đến nay, vận tải đờng biển vẫn giữ một vị trí quan trọng trong các phơng thức vận
tải hàng hoá. Có đợc vai trò quan trọng nh vậy là do vận tải biển có những u
điểm vợt trội nh:
- Chi phí cho việc xây dựng, cải tạo, bảo dỡng các tuyến đờng biển thấp vì
hầu hết là những tuyến giao thông tự nhiên (trừ các cảng biển).
- Năng lực chuyên chở của phơng tiện vận tải biển thờng rất lớn: một tuyến
có thể tổ chức chạy nhiều chuyến tàu trong cùng một thời gian cho cả hai chiều,
đồng thời phơng tiện vận tải biển có thể chở đợc hầu hết các loại hàng hoá với
khối lợng lớn. Vận tải bằng đờng biển còn tỏ ra đặc biệt có u thế trong việc vận
chuyển nhiều loại hàng hoá khác nhau, đặc biệt là khả năng sử dụng để vận chuyển
các Container chuyên dụng.
chuyên chở giới hạn trách nhiệm bồi thờng. Vì vậy, các nhà xuất nhập khẩu không
bù đắp đợc thiệt hại thực tế xảy ra.
Để kịp thời khắc phục những rủi ro, tổn thất, một mặt ngời ta ngày càng hiện
đại hoá, nâng cao chất lợng các đội tàu, mặt khác phải tiêu đến một biện pháp hữu
hiệu để giải quyết các thiệt hại bằng bù đắp kinh tế, đó là thông qua bảo hiểm - hình
thức phân tán rủi ro theo nguyên lý cộng đồng.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu đã ra đời từ rất sớm, đợc thừa nhận, đợc
ủng hộ và phát triển không ngừng. Đến nay, bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận
chuyển bằng đờng biển đã có bề dày lâu năm và mặc nhiên trở thành tập quán
thơng mại quốc tế trong hoạt động ngoại thơng.
2. Các loại rủi ro và tổn thất trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu
vận chuyển bằng đờng biển
2.1. Các loại rủi ro
Rủi ro hàng hải là những rủi ro do thiên tai, tai nạn bất ngờ trên biển gây ra
làm h hỏng hàng hoá và phơng tiện chuyên chở.
Trong hoạt động hàng hải có nhiều loại rủi ro khác nhau làm thiệt hại đến hàng
hoá và phơng tiện vận chuyển. Ngời ta có thể phân loại rủi ro dựa trên các căn cứ
khác nhau:
* Căn cứ vào nguyên nhân gây ra tổn thất, rủi ro đợc chia làm 3 loại:
- Rủi ro do thiên tai gây ra nh biển động, bão lốc, sóng thần, thời tiết quá xấu.
- Rủi ro do tai nạn bất ngờ ngoài biển nh: bao gồm rủi ro do mắc cạn, chìm
đắm, mất tích, đâm va với tàu khác
- Rủi ro do con ngời gây ra: các rủi ro nh ăn trộm, ăn cắp, chiến tranh, đình
công, bắt giữ, tịch thu
* Căn cứ vào nghiệp vụ bảo hiểm, rủi ro đợc chia làm 3 loại:
Loại 1: Những rủi ro thông thờng đợc bảo hiểm, bao gồm:
- Rủi ro mắc cạn: Tàu bị chạm đáy vào chớng ngại vật nào đó mà không thể
tiếp tục hành trình đợc nữa.
hàng hoá nhng cha ở mức độ mất hoặc giảm hoàn toàn. Tổn thất bộ phận đợc
chia ra 4 trờng hợp sau:
- Giảm về số lợng: Hàng hoá bị thiếu bao thiếu kiện.
- Giảm về trọng lợng: Hàng hoá còn nguyên bao nhng bị mốc rách.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
- Giảm về giá trị: Số lợng, trọng lợng của hàng hoá có thể còn nguyên nhng
giá trị thì không còn đợc nh lúc đầu, ví dụ nh trờng hợp lơng thực thực phẩm
bị ngấm nớc dẫn đến mốc, ẩm
Có hai loại tổn thất toàn bộ là tổn thất toàn bộ thực tế và tổn thất toàn bộ ớc
tính.
- Tổn thất toàn bộ thực tế: là toàn bộ đối tợng bảo hiểm theo một hợp đồng
bảo hiểm bị h hỏng, mất mát, thiệt hại hoặc bị biến chất, biến dạng không còn nh
lúc mới đợc bảo hiểm hay bị mất đi, bị tớc đoạt không lấy lại đợc nữa. Chỉ có
tổn thất toàn bộ thực tế trong 4 trờng hợp sau đây:
+ Hàng hoá bị huỷ hoại hoàn toàn.
+ Hàng hoá bị tớc đoạt không lấy lại đợc.
+ Hàng hoá không còn là vật thể bảo hiểm.
+ Hàng hoá ở trên tàu đợc tuyên bố là mất tích.
- Tổn thất toàn bộ ớc tính: là trờng hợp đối tợng bảo hiểm bị thiệt hại, mất
mát cha tới mức độ toàn bộ thực tế, nhng không thể tránh khỏi tổn thất toàn bộ
thực tế, hoặc nếu bỏ thêm chi phí cứu chữa thì chi phí cứu chữa có thể bằng hoặc lớn
hơn giá trị bảo hiểm. Khi gặp trờng hợp này tốt nhất chủ hàng sẽ thông báo từ bỏ lô
hàng và bảo hiểm phải bồi thờng tổn thất cho các bên và quyền sở hữu lô hàng này
thuộc về bảo hiểm.
* Căn cứ vào quyền lợi bảo hiểm: Tổn thất đợc chia làm 2 loại:
o Tổn thất riêng: là loại tổn thất chỉ gây ra thiệt hại cho một hoặc một số
quyền lợi của các chủ hàng và chủ tàu trên một con tàu. Nh vậy, tổn thất riêng,
ngoài thiệt hại vật chất còn phát sinh các chi phí liên quan đến tổn thất riêng nhằm
hạn chế những h hại khi tổn thất xảy ra. Những chi phí đó gọi là tổn thất chi phí
phép giải quyết bồi thờng một cách thuận lợi, nhanh chóng. Trong hoạt động xuất
nhập khẩu thì hàng hoá có nhiều khả năng gặp rủi ro cho nên các thơng gia phải
mua bảo hiểm cho hàng hoá vận chuyển bằng đờng biển. Nh vậy, đối tợng của
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đờng biển là các hàng hoá
xuất nhập khẩu.
ở Việt Nam,căn cứ vào Quyết định số 254/TCCDBN ngày 25/5/1990 của Bộ
Tài chính, hàng hoá xuất nhập khẩu hoạt động trong vòng nội thuỷ và hàng hải Việt
Nam không phân biệt thành phần kinh tế đều có thể tham gia bảo hiểm tại các công
ty bảo hiểm đợc Bộ Tài chính cấp giấy phép hoạt động.
b. Phạm vi bảo hiểm
Phạm vi bảo hiểm là giới hạn rủi ro đợc bảo hiểm và cũng là giới hạn trách
nhiệm của công ty bảo hiểm. Hàng hoá đợc bảo hiểm theo điều kiện nào thì chỉ
những rủi ro tổn thất quy định trong điều kiện đó mới đợc bồi thờng. Phạm vi
trách nhiệm càng rộng thì những rủi ro đợc bảo hiểm càng nhiều và kéo theo mức
phí lớn.
Căn cứ vào các điều khoản bảo hiểm ICC (Institule Casgo Claude) 1/1/1982, để
phù hợp với tình hình thực tế tại Việt Nam đối với quá trình bốc dỡ vận chuyển hàng
hoá ở các cảng Việt Nam, Bộ Tài chính đã ban hành Quy tắc chung về bảo hiểm
hàng hoá vận chuyển bằng đờng biển gọi tắt là QTC 1990. Quy tắc này đợc xây
dựng trên cơ sở điều khoản ICC 1/1/1982. Đối với hàng hoá nhập khẩu từ các cảng
nớc ngoài về Việt Nam thờng đợc bảo hiểm theo QTC 1990.
Để phù hợp với tập quán quốc tế, khi bán bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu,
Công ty Bảo Minh thờng áp dụng ICC 1/1/1982. Khi hàng hoá có tổn thất, ngời
nhận hàng dễ dàng nhận biết ngay đợc hàng hoá bị tổn thất đó có nằm trong phạm
vi bảo hiểm hay không.
3.2. Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm.
a. Giá trị bảo hiểm.
Giá trị bảo hiểm của hàng hoá là giá trị hàng hoá tại cảng đi "C" cộng với phí
Trong đó:
C (Cost) : Giá hàng đợc tính bằng giá FOB ở cảng đi
F (Freight) : Cớc phí vận chuyển
Nếu bảo hiểm cả phần lãi dự tính thì:
( ) . (1 )
1
C F a
V
R
Trong đó: a là số % lãi dự tính
b. Số tiền bảo hiểm:
Số tiền bảo hiểm là số tiền đăng ký bảo hiểm đợc ghi trong hợp đồng bảo
hiểm. Giá trị bảo hiểm là cơ sở của số tiền bảo hiểm, ngời tham gia có thể mua bảo
hiểm bằng giá trị bảo hiểm (bảo hiểm đúng giá trị) nhỏ hơn giá trị bảo hiểm (bảo
hiểm dới giá trị) hoặc mua bảo hiểm với số tiền bảo hiểm lớn hơn giá trị bảo hiểm
(bảo hiểm trên giá trị).
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
Về nguyên tắc số tiền bảo hiểm có thể nhỏ hơn hoặc bằng giá trị bảo hiểm, nếu
số tiền bảo hiểm lớn hơn giá trị bảo hiểm thì phần lớn hơn thực chất chỉ là bảo hiểm
phần lãi dự kiến. Ngợc lại nếu số tiền bảo hiểm nhỏ hơn giá trị bảo hiểm tức là
ngời đợc bảo hiểm tự bảo hiểm lấy một phần thì ngời bảo hiểm cũng chỉ bồi
thờng trong phạm vi số tiền bảo hiểm sẽ bồi thờng theo tỉ lệ giữa số tiền bảo hiểm
và giá trị bảo hiểm.
Nếu đối tợng bảo hiểm đợc bảo hiểm trùng nghĩa là cùng một rủi ro cùng
một giá trị bảo hiểm nhng lại bảo hiểm tại nhiều công ty thì trách nhiệm của các
(Nếu không bảo hiểm lãi dự tính)
Tỉ lệ phí bảo hiểm đợc ghi trong hợp đồng bảo hiểm theo thoả thuận giữa
ngời tham gia bảo hiểm và ngời bảo hiểm.
3.3. Điều kiện bảo hiểm:
Điều kiện bảo hiểm là những điều quy định phạm vi trách nhiệm của ngời bảo
hiểm đối với tổn thất của hàng hoá. Hàng đợc bảo hiểm theo điều kiện bảo hiểm
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
nào, chỉ những rủi ro tổn thất quy định trong điều kiện đó mới đợc bồi thờng. Sau
đây là các điều kiện bảo hiểm của Viện những ngời bảo hiểm Luân Đôn (Institute
of London Underwriters - ILU).
a. Hệ điều kiện bảo hiểm ra đời năm 1963:
Ngày 01/01/1963, ILU xuất bản ba điều kiện bảo hiểm hàng hoá là FPA, WA
và AR. Các điều kiện bảo hiểm này đợc áp dụng rộng rãi trong hoạt động thơng
mại quốc tế.
* Điều kiện bảo hiểm FPA (Free from Particular Average) - (Điều kiện bảo
hiểm miễn tổn thất riêng).
Trách nhiệm bảo hiểm của FPA bao gồm:
- Tổn thất toàn bộ do thiên tai, tai nạn bất ngờ trên biển hoặc dỡ hàng tại cảng
lánh nạn thuộc tổn thất riêng.
- Tổn thất bộ phận vì thiên tai, tai nạn bất ngờ trên biển hoặc dỡ hàng tại cảng
lánh nạn do rủi ro chính đem lại.
- Mất nguyên kiện hàng trong quá trình xếp dỡ, chuyển tải.
- Bồi thờng các chi phí sau:
+ Chi phí đóng góp tổn thất chung.
+ Chi phí cứu nạn.
+ Chi phí đề phòng, hạn chế tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm do ngời thứ ba
-> Rủi ro đợc bảo hiểm (Ricks covered): trừ các rủi ro loại trừ đợc quy định
dới đây, điều kiện này bao gồm:
- Cháy hoặc nổ.
- Tàu bị mắc cạn, chạm đất, bị đắm hoặc lật úp.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
- Tàu đâm va nhau hoặc tàu, sà lan, phơng tiện vận chuyển đâm va phải vật
thể khác không phải là nớc.
- Dỡ hàng tại cảng lánh nạn
- Tổn thất chung.
- Phần trách nhiệm mà ngời đợc bảo hiểm phải chịu theo điều khoản hai tàu
đâm va nhau đều có lỗi (Both to Blame Collisim Clause) quy định trong hợp đồng
vận tải.
-> Rủi ro loại trừ (Exclusions).
Trong mọi trờng hợp, ngời bảo hiểm không bồi thờng những rủi ro sau đây:
- Tổn thất hay tổn hại do hành vi xấu, cố ý của ngời bảo hiểm.
- Rò rỉ, hao hụt thông thờng về trọng lợng, khối lợng hoặc hao mòn tự
nhiên của đối tợng bảo hiểm.
- Mất mát, h hỏng hoặc chi phí do bao bì đầy đủ hoặc không thích hợp.
- Mất mát, h hỏng hoặc hci phí do nội tỷ (Inherent vice) hoặc bản chất của đối
tợng bảo hiểm.
- Mất mát, h hỏng hoặc chi phí mà nguyên nhân là chậm trễ, cho dù chậm trễ
là do một rủi ro đợc bảo hiểm gây nên.
- Mất mát, h hỏng hoặc chi phí do tình trạng không trả đợc nợ hoặc thiếu
thốn về mặt tài chính của chủ tàu, ngời quản lý tàu, ngời thuê tàu hoặc ngời khai
thác tàu.
- Thiệt hại cố ý hoặc sự phá hoại cố ý đối tợng đợc bảo hiểm do hành động
phạm pháp của bất kỳ ngời nào.
- Mất mát, h hỏng hoặc chi phí do việc sử dụng bất kỳ một vũ khí chiến tranh
nào có dùng đến năng lợng nguyên tử, hạt nhân hoặc các chất phóng xạ.
biển.
a. Khái niệm và tính chất của hợp đồng bảo hiểm.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
Hợp đồng bảo hiểm là một văn bản trong đó ngời bảo hiểm cam kết bồi
thờng cho ngời đợc bảo hiểm những mất mát, thiệt hại của đối tợng bảo hiểm
do một rủi ro đợc bảo hiểm gây nên còn ngời đợc bảo hiểm cam kết trả phí bảo
hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm là giấy tờ có giá trị pháp lý cao, nó quy định quyền lợi và
nghĩa vụ của các bên và là cơ sở quan trọng để giải quyết tranh chấp, khiếu nại sau
này.
Hợp đồng bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đờng biển mang tính chất là
một hợp đồng bồi thờng (contract of indemnity) và là một hợp đồng tín nhiệm
(contract of good faith). Thể hiện nh sau:
- Khi tổn thất xảy ra do các rủi ro đợc bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm sẽ
bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm nhằm khôi phục lại vị thế tài chính của họ. Đây
là tính chất bồi thờng của hợp đồng bảo hiểm.
- Tính chất tín nhiệm thể hiện ở chỗ:
+ Phải có lợi ích bảo hiểm (Insurable interest) mới ký kết hợp đồng bảo hiểm.
Lợi ích bảo hiểm không nhất thiết phải ký kết hợp đồng nhng phải có khi xảy ra
tổn thất.
+ Ngời đợc bảo hiểm phải thông báo mọi chi tiết về hàng hoá, mọi thay đổi
làm tăng hoặc giảm rủi ro cho ngời bảo hiểm biết.
+ Khi ký kết hợp đồng bảo hiểm, nếu hàng hoá đã bị tổn thất mà ngời đợc
bảo hiểm đã biết thì hợp đồng bảo hiểm sẽ vô hiệu lực, ngợc lại ngời đợc bảo
hiểm cha biết hợp đồng bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm coi nh đợc ký kết khi ngời bảo hiểm chấp nhận văn
bản. Văn bản đó là đơn bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm. Chúng là chứng
từ có thể lu thông đợc (Negotiable) và có thể chuyển nhợng đợc cho ngời khác
bằng cách ký hậu.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
Giấy chứng nhận bảo hiểm chỉ có nội dung nh mặt 1 của đơn bảo hiểm.
Để thanh toán theo phơng thức tín dụng chứng từ, ngày ghi trên đơn bảo hiểm
và giấy chứng nhận bảo hiểm không đợc muộn hơn ngày xếp hàng lên tàu hoặc
ngày nhận hàng để chở, loại tiền phải giống loại tiền trong th tín dụng trừ khi có
quy định khác.
Khi xuất trình để thanh toán, phải xuất trình trọn bộ (Full set) hoặc một bản
gốc duy nhất (A sole original) cho ngân hàng.
* Hợp đồng bảo hiểm bao (còn gọi là hợp đồng bảo hiểm mở) - (Open policy,
Floating policy, Open cover).
Hợp đồng bảo hiểm bao là hợp đồng bảo hiểm nhiều chuyến hàng trong một
thời gian nhất định, thờng là một năm. Đối với các chủ hàng có khối lợng hàng
hoá xuất nhập khẩu lớn và ổn định, thông thờng họ ký kết với công ty bảo hiểm
một hợp đồng bảo hiểm bao, trong đó ngời bảo hiểm cam kết sẽ bảo hiểm tất cả
các chuyến hàng xuất nhập khẩu trong năm.
Trong hợp đồng bảo hiểm bao hai bên chỉ thoả thuận với nhau những vấn đề
chung nh: tên hàng đợc bảo hiểm, loại tàu chở hàng, cách tính giá trị bảo hiểm, số
tiền bảo hiểm tối đa cho mỗi chuyến và điều kiện bảo hiểm, cách thức thanh toán
phí bảo hiểm và tiền bồi thờng cấp chứng từ bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm bao có lợi ích cho cả ngời bảo hiểm và ngời đợc bảo
hiểm. Ngời bảo hiểm đảm bảo tu đợc khoản chi phí bảo hiểm trong thời hạn bảo
hiểm. Ngời đợc bảo hiểm vẫn đợc bồi thờng nếu tàu đã bị tai nạn rồi mà cha
kịp thông báo bảo hiểm, phí bảo hiểm rẻ hơn.
Trong hợp đồng bảo hiểm bao có thể quy định một hạn ngạch của số tiền bảo
hiểm (Floating policy), khi hết số tiền bảo hiểm đó hợp đồng sẽ hết hiệu lực.
Trong hợp đồng bảo hiểm bắt buộc phải có 3 điều kiện cơ bản sau:
- Điều kiện xếp hạng tàu đợc thuê chuyên chở hàng hoá sẽ đợc bảo hiểm.
Tàu phải có cấp hạng cao và nếu do 10 hãng đăng kiểm nổi tiếng trên thế giới cấp
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
- Xác định trách nhiệm tổn thất thuộc về ai.
Giám định chính xác, trung thực kết quả nói lên ngời phải chịu trách
nhiệm và bồi thờng tổn thất cho hàng hoá, khiến họ không thể từ chối trách
nhiệm của mình. Đó có thể là ngời mua, ngời bán, ngời vận tải, ngời bảo
hiểm hoặc cơ quan giao nhận cảng.
- Giám định tổn thất là cơ sở tiến hành khiếu nại đòi bồi thờng và giải
quyết khiếu nại.
Yêu cầu của công tác giám định tổn thất phải:
- Kịp thời đầy đủ, trung thực và kết quả nhằm xác định chính xác
nguyên nhân tổn thất.
- Bám sát hiện trờng để phản ánh đợc cụ thể tình hình tổn thất của tài
sản bảo hiểm.
- Có ý kiến tham gia với ngời nhận hàng trong các khâu: cứu chữa, xử
lý hàng h hỏng, để phòng và giảm nhẹ tổn thất, bốc dỡ giao nhận, yêu cầu về
bao bì hàng hoá khiếu nại ngời thứ ba có trách nhiệm đối với hàng hoá tổn
thất.
b. Công tác bồi thờng tổn thất.
Sau khi lập đợc biên bản giám định, ngời bảo hiểm tiến hành giám
định bồi thờng. Đây là công đoạn rất quan trọng và nhạy cảm vì nó gắn liền
với lợi ích của cả ngời đợc bảo hiểm và ngời bảo hiểm vì vậy việc giám
định bồi thờng phải đáp ứng đợc một số nguyên tắc sau.
- Nhanh chóng, kịp thời: để giúp khách hàng nhanh chóng khôi phục
hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả nhất.
- Kết quả chính xác: Phải tuân theo những điều kiện, điều khoản của
hợp đồng bảo hiểm và thực tế thiệt hại.
- Công bằng, trung thực: Phải dựa trên tình huống tai nạn, quan hệ hợp
tác mà giám định bồi thờng linh hoạt, thoả mãn những yêu cầu hợp lý của
khách hàng.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
này còn rất nhiều hạn chế, hoạt động của thị trờng không có sự cạnh tranh.
Thời kỳ bảo hiểm hoạt động trong nền kinh tế thị trờng: Vào những năm cuối
thập niên 80, với chính sách kinh tế mở, cùng với nhịp độ phát triển của nền kinh tế,
ngành bảo hiểm đã có những bớc phát triển đáng kể. Đứng trớc yêu cầu đa dạng
hoá các loại hình kinh doanh bảo hiểm phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển ổn định và nhằm khai thác tốt hơn tiềm năng
bảo hiểm trong nớc để đầu t lại phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nớc, Nghị định 100/CP ngày 18/12/1993 của Chính phủ về hoạt động kinh
doanh bảo hiểm đã đợc ban hành. Sau khi Nghị định này ra đời, hoạt động kinh
doanh bảo hiểm theo hớng thị trờng mở trên thị trờng bảo hiểm Việt Nam đã bắt
đầu phát triển, nhiều công ty bảo hiểm mới ra đời trên thị trờng đã có sự cạnh tranh
gay gắt giữa các công ty bảo hiểm để giành khách hàng và tăng doanh thu phí.
Nhiều vấn đề mới nảy sinh và bất cập trong thời kỳ này đã ảnh hởng đến hoạt động
của các công ty bảo hiểm. Nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
và tổ chức tham gia bảo hiểm, đẩy hoạt động kinh doanh bảo hiểm, góp phần thúc
đẩy và duy trì sự phát triển bền vững của nền kinh tế - xã hội, Luật kinh doanh bảo
hiểm đã đợc Quốc hội thông qua ngày 09/12/2000, có hiệu lực thi hành từ ngày
01/4/2001. Sau khi Luật này đợc ban hành, Chính phủ và Bộ Tài chính đã ban hành
những văn bản thi hành Luật nhằm phát huy tối đa hiệu quả của Luật kinh doanh
bảo hiểm.
Bảo Minh là công ty bảo hiểm gốc của Nhà nớc đầu tiên đợc thành lập sau
Nghị định 100/CP. Ra đời trên cơ sở là một chi nhánh của Bảo Việt tại thành phố Hồ
Chí Minh, Công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh (gọi tắt là Bảo Minh) đã chính
thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/1995, đợc phép hoạt động trên phạm vi cả
nớc và quốc tế, đảm nhận kinh doanh mọi loại hình nghiệp vụ bảo hiểm.
Từ 1995 đến nay, thị trờng bảo hiểm Việt Nam có nhiều thay đổi khi có chính
sách mở cửa hoàn toàn, đặc biệt là thị trờng bảo hiểm. Thách thức lớn đối với các
công ty bảo hiểm trong nớc là phải có đủ khả năng cạnh tranh quốc tế. Nhằm mục