SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
HOẠT ĐỘNG THANH TRA CHUYÊN
NGÀNH TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC
CỦA ĐỊA PHƯƠNG
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nền giáo dục nước ta trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu đáng
khích lệ, góp phần quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chất lượng giáo dục ở
nước ta hiện nay còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển.
Cùng với đó, tình trạ
ng dạy thêm, học thêm vẫn còn tiếp diễn, tình trạng lạm thu ở các
bậc học đang gây nhiều bức xúc trong xã hội, vấn đề quy hoạch, thành lập, nâng cấp
các trường đại học, cao đẳng, liên kết đào tạo còn nhiều bất cập; quản lý giáo dục còn
nhiều lúng túng; công tác thanh tra, kiểm tra chưa thực sự hiệu quả.
Để phát huy những thành tựu đã đạt được, cũng như khắc phục có hiệ
u quả
những yếu kém, để đưa sự nghiệp giáo dục và đào tạo phát triển, đáp ứng yêu cầu của
công cuộc đổi mới, tạo nển tảng đưa nước ta thành một nước công nghiệp theo hướng
hiện đại, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI định hướng: “Tiếp tục đổi mới cơ chế
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận.
1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến Đề tài.
Qua tìm hiểu, tác giả nhận thấy đề tài nghiên cứu có liên quan đến một số đề tài
như:
Các bài viết khoa học trên sách, báo, tạp chí như: Nguyễn Thị Thương Huyền
(2008), “Đánh giá thực trạng pháp luật về tổ chức thanh tra – cơ sở để hoàn thiện pháp
luật thanh tra”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (12), Hà Nộ
i; Phan Trung Lý (2010),
“Thanh tra chuyên ngành: khái niệm, tổ chức và hoạt động”, Tạp chí Nhà nước và
Pháp luật, (12), Hà Nội; Hoàng Văn Vy (2010), “Luật Thanh tra cần có những quy
định linh hoạt cho hoạt động thanh tra chuyên ngành”, Tạp chí Thanh tra, (3), Hà Nội.
Các luận văn chuyên ngành luật học liên quan đến tổ chức và hoạt động thanh
tra chuyên ngành như: Võ Thị Mai Trâm (2005), Hoạt động thanh tra trong lĩnh vực
văn hóa – Thực trạng và kiến nghị, Luận văn cử nhân, Đại học Luật Tp. H
ồ Chí Minh;
Đặng Thị Ngọc Uyên (2006), Hoạt động thanh tra vệ sinh an toàn thực phẩm, Luận
văn cử nhân, Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh; Lý Thanh Long (2008), Thanh tra xây
dựng quận, huyện; thanh tra xây dựng xã, phường, thị trấn tại thành phố Hồ Chí
Minh, Luận văn thạc sỹ, Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh; Thái Bỉnh Nghĩa (2010),
Nâng cao hiệu quả thanh tra đất đai trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc s
ỹ,
trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh; Bùi Ngọc Thanh Trung (2011), Pháp luật về
hoạt động thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực văn hóa, Luận văn thạc sỹ, Đại học
Luật TP.Hồ Chí Minh;
Các công trình trên nghiên cứu nhằm làm rõ những vấn đề lý luận về thanh tra,
kiểm tra, giám sát ở Việt Nam; phân định phạm vi hoạt động giữa thanh tra với kiểm
tra, giám sát; phân biệt giữa hoạt động thanh tra hành chính và thanh tra chuyên
ngành; quá trình hình thành và phát triển của thanh tra chuyên ngành. Tậ
p trung lý
hiệu quả, hiệu lực của hoạt động thanh tra trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp
quyền, cải cách hành chính, yêu cầu giải quyết khiếu nại, tố cáo, chống tham nhũng ở
Việt Nam.
Tuy nhiên, các công trình trên chưa nghiên cứu cơ sở lý luận, pháp luật thanh
tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục, chư
a lý giải những vấn đề về thực tiễn thi
hành pháp luật thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục nói chung và thanh tra
giáo dục địa phương nói riêng. Các đề tài trên cũng chưa đề cập tới tổ chức và hoạt
động thanh tra giáo dục, cũng như hoạt động thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực
giáo dục của địa phương.
Như vậy, đến nay chưa có một đề tài khoa học nào tiếp cận ở góc nhìn pháp lý
về hoạt
động thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục của địa phương một cách
có hệ thống và toàn diện về mặt lý luận cũng như đánh giá thực trạng, đề ra các giải
pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của thanh tra giáo dục.
1.2. Khái niệm, đặc điểm hoạt động thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực
giáo dục của địa phương.
1.2.1. Khái niệm hoạt động thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục.
Theo Từ điển Việt Nam từ thanh tra dùng để chỉ “kiểm soát, xem xét tại chỗ
việc làm của địa phương, cơ quan xí nghiệp”
2
. Với nghĩa này, “thanh tra” bao hàm
kiểm soát, xem xét để phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định.
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học: “Thanh tra” là “việc kiểm tra,
giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước của cơ
quan, tổ chức, cá nhân…”
3
. Theo Từ điển Luật học, “Thanh tra” là hoạt động “xem
101/2002/NĐ-CP) thay thế Nghị định số 358/HĐBT và tại Nghị định này đã đư
a ra
khái niệm pháp lý về thanh tra giáo dục như sau: “Thanh tra giáo dục là thanh tra
2
Viện ngôn ngữ học - Trung tâm từ điển học (1998), Từ điển tiếng Việt, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội,
tr.882.
3
Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, NXB Công an nhân dân, Hà Nôi,
tr 106.
4
Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, NXB Từ điển Bách khoa-NXB Tư pháp, Hà
Nội, tr 696.
5
Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, NXB Công an nhân dân, Hà Nôi,
tr 107.
chuyên ngành về giáo dục. Thanh tra giáo dục thực hiện quyền thanh tra trong phạm
vi quản lý nhà nước về giáo dục, nhằm bảo đảm việc thi hành pháp luật, phát huy
nhân tố tích cực, phòng ngừa và xử lý vi phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và
lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực giáo dục”. Như vậy, tại văn bản
này đã khẳng định thanh tra giáo dục là thanh tra chuyên ngành nhưng nội hàm của
khái niệ
m cũng không làm rõ thế nào là hoạt động thanh tra chuyên ngành về giáo
dục. Đến khi có Luật Thanh tra năm 2004, tại Nghị định số 85/2006/NĐ-CP ngày 18
tháng 8 năm 2006 của Chính Phủ quy định về tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo
dục (sau đây gọi tắt là Nghị định số 85/2006/NĐ-CP) không đưa ra khái niệm thanh
tra giáo dục mà liệt kê các hoạt động thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành
tại Điều 13, Điều 14.
Bất kỳ ở một giai đoạn lịch sử nào, giáo dục - đào tạo luôn đóng một vai trò hết
sức quan trọng đối với sự phát triển của mỗi cá nhân, tập thể, cộng đồng, dân tộc và cả
nhân loại. Giáo dục - đào tạo là chìa khoá, là động lực đối với sự phát triển của xã hội.
Từ lâu Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã nhận thức đượ
c vai trò của giáo
dục.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức rõ vai trò của giáo dục trong việc cải tạo, phát
triển con người, làm biến đổi con người cũ, xây dựng con người mới. Người viết:
“Thiện, ác vốn chẳng phải là bản tính cố hữu, phần lớn đều do giáo dục mà nên”
6
.
Giáo dục là một mặt trận quan trọng trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Giáo dục
có vai trò nâng cao về trình độ nhận thức đường lối, chính trị, giáo dục nhất thiết phải
gắn liền với sản xuất và đời sống nhân dân, theo Người: “Một dân tộc dốt là một dân
tộc yếu”
7
.
Đảng ta khẳng định: “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát
triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước,
xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với
phát triển khoa học và cộng nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào
tạo là đầu tư cho phát triển.”
8
Quản lý nhà nước về giáo dục là sự tác động có tổ chức của bộ máy hành chính
nhà nước đối với các hoạt động giáo dục nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào
tạo. Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương
trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, quy chế thi cử, hệ thống văn
bằng, chứng chỉ; tậ
bức thiết, trong đó có công tác thanh tra giáo dục.
Giữa quan lý nhà nước về giáo dục và thanh tra chuyên ngành về giáo dục có
mối quan hệ mật thiết với nhau. Thế nên nội dung, phạm vi quản lý nhà nước quyết
định phạm vi, nội dung hoạt động thanh tra chuyên ngành về giáo dục. Và thông qua
hoạt độ
ng thanh tra chuyên ngành về giáo dục không chỉ giúp chủ thể quản lý nhà
nước về giáo dục phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, khiếm khuyết của pháp luật
chuyên ngành về giáo dục để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện
pháp khắc phục nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật mà
còn giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật chuyên
ngành, các quy đị
nh về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý ngành; phát huy nhân
tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ
lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Chủ
tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, trong công tác giáo dục “nên kiểm thảo kỹ công tác “cải
cách” về chương trình chủ trương và cách thi hành, để tìm thấy những khuyết điểm
mà sửa đổi, những ưu điểm mà phát triển thêm”
9
Điều 99, Luật Giáo dục quy định nội dung quản lý giáo dục bao gồm:
1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách
phát triển giáo dục;
2. Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục; ban
hành điều lệ nhà trường; ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo
dục khác;
3. Quy định mục tiêu, ch
ương trình, nội dung giáo dục; tiêu chuẩn nhà giáo;
tiêu chuẩn cơ sở vật chất và thiết bị trường học; việc biên soạn, xuất bản, in và phát
hành sách giáo khoa, giáo trình; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ;
4. Tổ chức, quản lý việc bảo đảm chất lượng giáo dục và kiểm định chất lượng
là Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT nhưng ở văn bản này có một điểm mới là quy định trách
nhiệm phụ trách công tác thanh tra của Hiệu trưởng, thủ trưởng các trường trung cấp
chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học: “… Hoạt động thanh tra giáo dục trong cơ sở giáo
dục đại học, trường trung cấp chuyên nghiệp do Hi
ệu trưởng, thủ trưởng cơ sở trực
tiếp phụ trách theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.” (Điều 19, Nghị
định số 85/2006/NĐ-CP).
Như vậy, chủ thể thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực của địa phương bao
gồm: Thanh tra Sở GD&ĐT, Trưởng phòng GD&ĐT, Hiệu trưởng các trường đại học, cao
đẳng, trung cấp chuyên nghiệp đóng trên địa bàn mỗi tỉ
nh.
Chủ thể thanh tra trong lĩnh vực giáo dục của địa phương có một điểm đặc thù
so với các chủ thể thanh tra chuyên ngành khác là có Trưởng phòng GD&ĐT, Hiệu
trưởng các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp đóng trên địa bàn mỗi tỉnh.
Nhưng vấn đề đặt ra là hoạt động thanh tra của các chủ thể này so với Luật Thanh tra
năm 2010 có chính danh hay không. Vì theo quy định của Luật Thanh tra năm 2010
và Nghị định số 07/2012/NĐ-CP ngày 09 tháng 02 năm 2012 của Chính Phủ quy định
về cơ quan được giao thực hiện hoạt động thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh
tra chuyên ngành (sau đây gọi tắt là Nghị định số 07/2012/NĐ-CP) thì Phòng
GD&ĐT không thuộc phạm vi điều chỉnh.
Nội dung thanh tra: Theo quy định tại Điều 14, Nghị định số 85/2006/NĐ-CP,
nội dung hoạt động thanh tra chuyên ngành về giáo dục gồm:
1. Thanh tra vi
ệc thực hiện chính sách, pháp luật chuyên ngành về giáo dục đối
với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi quản lý về giáo dục.
2. Thanh tra việc thực hiện mục tiêu, kế hoạch, chương trình, nội dung, phương
pháp giáo dục, quy chế chuyên môn, quy chế thi cử, cấp văn bằng, chứng chỉ; việc
thực hiện các quy định về điều kiện cần thiết bảo đảm chất lượng giáo dục ở
cơ sở
những biện pháp hữu hiệu hạn chế nạn bằng cấp giả.
- Thanh tra nội dung, phương pháp giảng dạy của giáo viên là một hoạt động
thanh tra đặc thù của thanh tra giáo dục. Đây là biện pháp nhằm tư vấn, thúc đẩy năng
lực sư phạm của giáo viên, ngăn ngừa việc giảng dạy tùy tiện ảnh h
ưởng đến chất
lượng giáo dục cho cả một thế hệ học sinh.
- Thanh tra các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục như: Diện tích khuôn
viên, cảnh quan, môi trường sư phạm; số lượng phòng học, phòng làm việc, phòng thí
nghiệm thực hành, phòng bộ môn, thư viện, phòng đa chức năng, phòng y tế, bếp ăn
tập thể, khu nội trú, bán trú, khu vực để xe, vệ sinh, sân chơi, bãi tập, nhà đa ch
ức
năng, môi trường sư phạm, đội ngũ nhà giáo/quy mô người học, chương trình, giáo
trình… là nội dung thanh tra cần được quan tâm nhiều hơn trong hoàn cảnh các
trường tư thục ngày một nhiều trong khi việc đầu tư nhằm thực hiện các cam kết khi
thành lập trường còn nhiều hạn chế.
Tùy từng cấp học, bậc học, loại hình đào tạo mà chủ thể thanh tra căn cứ vào
các văn bản quy phạ
m pháp luật điều chỉnh cụ thể về mục tiêu, kế hoạch, chương
trình, nội dung, phương pháp giáo dục, quy chế chuyên môn, quy chế đánh giá, xếp
loại nhà giáo và những quy định về điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục, đào tạo để
xác định các nội dung thanh tra tương ứng.
Ví dụ: Ở bậc học mầm non có những nội dung đặc trưng như: đồ dùng,
đồ chơi
trong lớp và ngoài trời, thực hiện kế hoạch chăm sóc giáo dục trẻ (chế độ ăn ngủ, học
tập, tổ chức các hoạt động vui chơi, theo dõi biểu đồ phát triển của trẻ )…; ở các bậc
học phổ thông: bàn nghế, đồ dùng dạy học, sân chơi, bãi tập, tuyển sinh, kiểm tra,
đánh giá xếp loại học sinh, cấp phát văn bằng, chứng chỉ, thi tốt nghi
ệp…
Đối tượng thanh tra:
Đối tượng thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục: Cơ quan, tổ chức, cá
ng lực, kinh nghiệm, nhiệt tình, chủ động trong
hoạt động trên cơ sở chương trình, kế hoạch được phê duyệt. Cộng tác viên thanh tra
được bổ nhiệm theo nhiệm kỳ, được bồi dưỡng nghiệp vụ, chuyên môn, đáp ứng
nhiệm vụ được giao. Các Sở GD&ĐT đã tổ chức thực hiện hoàn thành kế hoạch,
chương trình công tác thanh tra năm học 2009-2010. Hoạt động thanh tra thực hiện có
chất lượng, n
ền nếp, hiệu quả. Qua thanh tra các cấp quản lý đã kịp thời phát hiện,
ngăn ngừa, chấn chỉnh những lệch lạc, xử lý những sai phạm. Hoạt động thanh tra đã
góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, quản lý dạy thêm, học thêm đúng quy định,
việc cấp phát, quản lý văn bằng chứng chỉ chặt chẽ, công tác tiếp công dân và giải
quyết khiếu nại, tố cáo kịp thờ
i, đúng pháp luật, kỷ cương, nền nếp của ngành được
giữ vững.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ngày càng được hoàn thiện, cụ thể, đầy
đủ, đảm bảo cơ sở pháp lý cho hoạt động thanh tra, cụ thể: Nghị định số 85/2006/NĐ-
CP, Thông tư 43/2006/TT- BGDĐT; Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính được ban
hành từ năm 2002 và đến năm 2005, lĩnh vực giáo dục đã có Ngh
ị định số
49/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 4 năm 2005 của Chính phủ quy định về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục (sau đây gọi tắt là Nghị định số
49/2005/NĐ-CP); Thông tư số 51/2006/TT-BGDĐT ngày 13 tháng 12 năm 2006 của
Bộ GD&ĐT Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 49/2005/NĐ-CP ngày
11 tháng 4 năm 2005 của Chính phủ quy định về xử phạtvi phạm hành chính trong
lĩnh vực giáo dục và Nghị định số 40/2011/NĐ-CP ngày 08 tháng 6 năm 2011 Sửa
đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 49/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 4 năm 2005
của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục (sau
đây gọi tắt là Nghị định số 40/2011/NĐ-CP) …
Căn cứ vào các Chỉ
thị của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về nhiệm vụ trọng tâm của
học đào tạo trung cấp chuyên nghiệp và 34 cơ sở khác đào tạo trung cấp chuyên nghiệp.
1010
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), Tài liệu hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2012 – 2013, NXB Giáo dục Việt
Nam, Hà Nội, tr 106-107.
Kết quả thanh tra trong năm 2011-2012:
11
* Thanh tra toàn diện đơn vị
Năm học 2011- 2012 các Sở GD&ĐT đã thanh tra được 668 cơ sở giáo dục đạt
tỷ lệ 18%, các Phòng GD&ĐT đã thanh tra được 7519 cơ sở, đạt tỷ lệ 19%. Các cuộc
thanh tra toàn diện đơn vị đã triển khai theo đúng Thông tư 43/2006/TT-BGDĐT ngày
20/10/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc Hướng dẫn thanh tra toàn diện nhà
trường, cơ sở giáo dục khác và thanh tra hoạt
động sư phạm của giáo viên. Tổ chức
thanh tra đúng quy trình, kế hoạch và đảm bảo tiến độ đề ra. Trên cơ sở các hoạt động
giáo dục của nhà trường, Đoàn thanh tra đánh giá đúng thực trạng, khẳng định những
mặt đã làm được, nêu ra những hạn chế thiếu sót trong công tác quản lý điều hành của
lãnh đạo, thực hiện quy chế chuyên môn, kỷ cương, nền nếp dạ
y học của giáo viên,
kết quả rèn luyện văn hóa, đạo đức của học sinh. Nhận xét, đánh giá của Đoàn là cơ sở
để nhà trường phát huy ưu điểm, tìm giải pháp khắc phục hạn chế thiếu sót, mặt khác
giúp các cơ quan quản lý giáo dục có phương án, quyết sách phù hợp trong việc phát
triển giáo dục địa phương. Các cuộc thanh tra toàn diện đơn vị góp phần quan trọng
trong việc duy trì nền nếp và nâng cao ch
ất lượng hoạt động dạy và học trong các nhà
trường hiện nay.
định về dạy thêm, học thêm của Bộ GD&ĐT và việc ban hành các quy định d
ạy thêm,
học thêm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Qua thanh tra cho thấy: Các Sở GD&ĐT đã tham mưu Uỷ ban nhân dân cấp
tỉnh ban hành Quyết định về dạy thêm, học thêm trên địa bàn tỉnh. Các Sở GD&ĐT
tiến hành cấp giấy phép dạy thêm cho giáo viên dạy chương trình trung học phổ thong
đồng thời hướng dẫn các Phòng GD&ĐT tham mưu Uỷ ban nhân dân cấp huyện cấp
giấy phép dạy thêm cho giáo viên dạy chương trình trung học cơ sở c
ủa địa phương.
Việc tổ chức dạy thêm, học thêm ở các địa phương cơ bản thực hiện đúng quy
định của Bộ GD&ĐT và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Công tác quản lý, thu, chi ở các
lớp dạy thêm, học thêm do nhà trường tổ chức được công khai minh bạch theo đúng
quy định.
Một số cơ sở giáo dục có giáo viên mở lớp dạy thêm, học thêm ngoài nhà
trường đã được chính quyền
địa phương phối hợp cùng nhà trường quản lý nên tránh
được những hạn chế tiêu cực. Những cơ sở không có giấy phép dạy thêm, học thêm
trên địa bàn, các Đoàn thanh tra đã kiến nghị cơ quan quản lý giáo dục phối hợp với
chính quyền địa phương xử lý.
- Thanh tra việc cấp phát, quản lý, sử dụng văn bằng, chứng chỉ.
Tại các địa phương, việc thanh tra, kiểm tra công tác quản lý, cấp phát, sử
dụng
văn bằng chứng chỉ được thực hiện thường xuyên, với hình thức lồng ghép hoặc theo
chuyên đề. Các Đoàn thanh tra đã kiểm tra việc: quản lý và sử dụng phôi bằng; quản
lý hồ sơ cấp phát; thực hiện quy trình cấp phát; quy định việc nhận bằng thay; xử lý
văn bằng viết sai, tồn đọng…Thông qua kiểm tra cho thấy công tác quản lý, cấp phát
văn bằng chứng chỉ ở
các đơn vị theo đúng quy định tại quyết định số 33/2007/QĐ-
BGDĐT ngày 20/6/2007 của Bộ GD&ĐT.
Hầu hết các Sở, Phòng GD&ĐT có đủ hồ sơ cấp phát văn bằng, chứng chỉ theo
thanh tra hoạt động của các trung tâm ngoại ngữ - tin học; thanh tra hoạt động của các
trường ngoài công lập…
Nhìn chung, các Sở, Phòng GD&ĐT đã tích cực triển khai các cuộc thanh tra
chuyên đề, phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương, theo đúng kế hoạch và
tiến độ. Chuyên đề trọng điểm như công tác quản lý tài chính, tài sản; ứng dụng công
nghệ thông tin; đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục; mua sắm, bảo quản, sử
dụng thiết bị
dạy học, đồ chơi tre em được tiến hành ở một số địa phương, nghiêm túc
góp phần chấn chỉnh kịp thời các sai sót trong công tác quản lý của các cơ sở giáo dục
và cơ quan quản lý giáo dục. Công tác tuyển sinh đầu cấp và các khoản thu đầu năm
được thanh tra, kiểm tra trên diện rộng, hầu hết các nhà trường và trung tâm giáo dục
thường xuyên. Các cuộc thanh tra chuyên đề góp phần khẳng định tính chủ động, tích
cực của cán b
ộ quản lý, giáo viên các cơ sở giáo dục trong việc triển khai thực hiện
nhiệm vụ năm học đồng thời nêu ra những hạn chế thiếu sót để đơn vị có biện pháp
khắc phục.
2.2. Những hạn chế, bất cập
2.2.1 Hạn chế về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
- Điều 37, Luật Thanh tra năm 2010 quy định hoạt động thanh tra thực hiện
theo các hình thức: thanh tra theo kế hoạch, thanh tra đột xuất, thanh tra thường
xuyên. Tuy nhiên, hình thức thanh tra thường xuyên chỉ áp dụng cho hoạt động thanh
tra của cơ quan được giao chức năng thanh tra chuyên ngành (khoản 3, Điều 37). Quy
định như trên là không phù hợp với thực tiễn hoạt động thanh tra nói chung và hoạt
động thanh tra chuyên ngành nói riêng. Vì thực tế ngoài các cuộc thanh tra theo kế
hoạch thì cơ quan thanh tra cũng phải căn c
ứ vào tình hình nội bộ của các đối tượng
thanh tra để tiến hành các cuộc thanh tra thường xuyên nhằm kịp thời chấn chỉnh các
tồn tại của các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, khi những
diễn biến này chưa có dấu hiệu rõ của các hành vi vi phạm pháp luật. Hơn nữa, trong
, nhóm làm việc độc lập với Trưởng Đoàn thanh tra, đặc biệt trong
lĩnh vực giáo dục khi tổ chức Đoàn thanh tra thì các tổ, nhóm độc lập đi xuống các
đơn vị trường học và mỗi nhóm lại chia ra để làm việc với từng bộ phận, như vậy liệu
cán bộ được cử giám sát liệu có thực hiện trọn vẹn nhiệm vụ của mình không.
- Chưa có khái niệm về thanh tra giáo dục, khái niệm hoạt động thanh tra
chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục trong Nghị định số 85/2006/NĐ-CP; Hoạt động
thanh tra toàn diện trong Thông tư số 43/2006/TT-BGDĐT không được quy định rõ là
ho
ạt động thanh tra chuyên ngành hay vừa là thanh tra hành chính và chuyên ngành.
- Nghị định số 85/2006/NĐ-CP có một số quy định không còn phù hợp với Luật
Thanh tra năm 2010 và Nghị định số 86/2011/NĐ-CP. Ví dụ nguyên tắc hoạt động
thanh tra quy định tại khoản 1, Điều 3; nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1,
Điều 6, khoản 1, Điều 8, khoản 1, Điều 9, khoản 1, Điều 10; quyền, nghĩa vụ, trách
nhi
ệm và mối quan hệ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động thanh tra
giáo dục quy định tại Chương V
- Quyền hạn, nhiệm vụ của Trưởng phòng GD&ĐT trong hoạt động thanh tra
chưa được quy định cụ thể trong Nghị định số 85/2005/NĐ-CP.
- Thời hạn thanh tra toàn diện quy định tại khoản 3, mục 2, Thông tư số
43/2006/TT-BGDĐT là không phù hợp với Luật Thanh tra và tình hình thực tế của
mộ
t số địa phương.
- Năm 2004, Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư số 07/2004/TT-BGDĐT ngày
30/3/2004 về hướng dẫn thanh tra toàn diện trường phổ thông và thanh tra hoạt động
sư phạm của giáo viên phổ thông đã hướng dẫn khi thanh tra đánh giá có xếp loại nhà
trường, cơ sở giáo dục theo 4 mức: tốt, khá, đạt yêu cầu, chưa đạt yêu cầu nhưng khi
Thông tư số 43/2006/TT-BGDĐT thay thế Thông tư số 07/2004/TT-BGDĐT không
quy định vi
ệc đánh giá xếp loại. Qua thực tiễn thực hiện thanh tra toàn diện tại các cơ
hoặc có đối tượng quản lý nhiều thì vấn đề biên chế cần
được coi trọng.
- Do yêu cầu thanh tra về hoạt động sư phạm của giáo viên với nhiều chuyên
môn khác nhau trong một trường học nên đói hỏi một lực lượng Cộng tác viên thanh
tra lớp có giàu kinh nghiện, giỏi chuyên môn giàu năng lực sư phạm. Nhưng trên thực
tế đội ngũ này khi được trưng tập không hẳn đáp ứng được yêu cầu trên, vì không ít
giáo viên khi được trưng tập không giỏi chuyên môn, thiếu kinh nghiệm nên khi thanh
tra đã không đượ
c đồng nghiệp kính nể và không thực hiện được mục tiêu thanh tra
hoạt động sư phạm của giáo viên là tư vấn, thúc đẩy. Khi thanh tra các đơn vị nếu có
sai phạm thì một số Cộng tác viên thanh tra lúng túng vận dụng các quy định của pháp
luật, cộng với tâm lý cả nể đồng nghiệp nên càng khó khách quan, chính xác để đánh
giá, xử lý.
Thực tế, vẫn còn một số ít Cộng tác viên thanh tra mới bổ nhiệm lần đầu còn
ch
ưa có kinh nghiệm trong phương pháp đánh giá, kỹ năng tư vấn, điều này cũng
chứng tỏ công tác tập huấn, bồi dưỡng chỉ chú trọng đến việc triển khai các quy định
mới về nội dung thanh tra, rút kinh nghiệm tổng thể, chưa đi sâu vào chuyên đề tập
huấn về kỹ năng đánh giá và tư vấn vì đây là những thao tác đòi hỏi nghệ thuật xử lý
tình huống cầ
n phải có sự trao đổi, bàn bạc, định hướng chung; trình độ chuyên môn
của một số Cộng tác viên thanh tra vẫn chưa tạo uy tín và độ tin cậy cao, chủ yếu là ở
những bộ môn mỏng về nhân sự nên việc lựa chọn, bổ nhiệm chưa đảm bảo tính toàn
diện. Một số Cộng tác viên thanh tra lâu năm còn thể hiện những nhận xét, đánh giá
mang tính áp đặt bởi kinh nghiệm tạo cho đối tượng được thanh tra tâm lý căng thẳng,
lo sợ, thậm chí chán nản.
Theo quy định, các Cộng tác viên thanh tra không đủ điều kiện là Thanh tra
viên để thực hiện việc thanh tra độc lập, trong một thời gian dài họ phải đi thanh tra
độc lập để đánh giá hoạt động sư phạm của nhà giáo, từ khi có Luật thanh tra năm
ngoài ra cán bộ thanh tra phải tham mưu thực hiện các đợt thanh tra chuyên đề, tham
mưu công tác giải quyết tố cáo, công tác phòng chống tham nhũng và các công tác
khác…Thực hiệ
n hoạt động thanh tra chuyên ngành lại gặp khó khăn về nghiệp vụ
thanh tra, thực hiện quyền trong quá trình thanh tra theo pháp luật thanh tra cũng khó
vận dụng.
Thủ trưởng các trường trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học là một chủ
thể thực hiện hoạt động thanh tra chuyên ngành giáo dục nhưng so với Luật Thanh tra
năm 2010 thì cũng không phù hợp, hơn nữa các đơn vị này không phải là một cơ quan
quản lý nhà nước mà chỉ là một đơn vị sự nghiệp, vậy hoạt động thanh tra của các chủ
thể này chỉ có thể coi là hoạt động kiểm tra nội bộ. Mặt khác, cán bộ phụ trách công
tác thanh tra tại các đơn vị này lại chưa được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ thanh
tra, thực t
ế các hoạt động thanh tra tại các đơn vị này chỉ mang tính kiểm tra nội bộ
mà không phải là hoạt động thanh tra theo đúng nghĩa.
Thư ký Đoàn thanh tra là thành viên Đoàn thanh tra, được Trưởng đoàn phân
công nhiệm vụ giúp cho lãnh đạo Đoàn chuẩn bị hồ sơ thanh tra, soạn thảo biên bản
thanh tra, ghi chép về các hoạt động của Đoàn thanh tra từ khi công bố quyết định
thanh tra đến khi kết thúc thanh tra, tổng hợp kết quả thanh tra và thực hi
ện các nhiệm
vụ khác theo phân công của Trưởng đoàn. Trong quá trình thanh tra Thư ký Đoàn
thanh tra là người thực hiện các nhiệm, vụ quyền hạn của thành viên Đoàn thanh tra,
ngoài ra giúp Trưởng đoàn thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của
pháp luật thanh tra.
Qua thực tế, Thư ký Đoàn thường thực hiện một số công việc cụ thể: thu thập các
văn bản quy phạm pháp luật, các vă
n bản do các cấp có thẩm quyền ban hành quy
định trong lĩnh vực quản lý giáo dục có liên quan đến nội dung, đối tượng thanh tra;
dự kiến thành phần tham gia Đoàn thanh tra, tham mưu cho lãnh đạo lực chọn hoặc đề
ực hiện các nhiệm vụ theo kế hoạch thanh tra đã đề
ra.
Với vai trò quan trọng, là một trong những nhân tố quyết định thành công hay
thất bại của cuộc thanh tra nhưng pháp luật thanh tra lại chưa quy định chức danh cho
thư ký như tòa án để nâng cao hoạt động thanh tra nói chung và luật hóa chức danh
thư ký Đoàn thanh tra là để khẳng định vị trí, vai trò của người thư ký khi tham gia
hoạt động thanh tra, nâng cao trách nhiệm cho thư ký Đoàn.
2.2.3 Quy trình thanh tra.
- Trong quá trình thanh tra tạ
i các đơn vị, các loại biên bản thanh tra do các
thành viên Đoàn, tổ, nhóm lập không thu thập tài liệu, chứng cứ kèm theo để chứng
minh cho các số liệu, nhận xét, kiến nghị trong biên bản.
- Báo cáo kết quả của các thành viên Đoàn thanh tra chủ yếu thể hiện bằng biên
bản thanh tra tại đơn vị, thành viên đoàn thanh tra hầu như không báo cáo tổng hợp
kết quả thanh tra căn cứ từ biên bản, tài liệu thu thập được: thanh tra toàn diện, thanh
tra thi, thanh tra hoạt động sư phạm của nhà giáo…
- Nghiệp vụ thanh tra của lực lượng Cộng tác viên thanh tra ở một số môn chưa
đều dẫn đến việc đánh giá xếp loại giáo viên chưa có tính thuyết phục cao, nặng về
xếp loại giáo viên chưa chú trọng công tác tư vấn thúc đẩy, mang tính chủ quan, cả nể.
Công tác thanh tra thanh tra hoạt động sư phạm của giáo viên chỉ tập trung vào thanh
tra hoạt động sư phạm c
ủa giáo viên chưa chú trọng đến công tác quản lý chuyên môn
của Hiệu trưởng, Tổ trưởng; điều đó thể hiện ở khâu duyệt kế hoạch thanh tra của Sở,
Phòng GD&ĐT chưa kỹ, chưa định hướng được nhiệm vụ cho cộng tác viên thanh
tra. Khả năng vận dụng các quy định của pháp luật để xử lý các tình huống trong quá
trình thanh tra còn nhiều hạn chế. Việc điều động cộ
ng tác viên thanh tra vẫn còn
nhiều gặp khó khăn đã phần nào ảnh hưởng đến kế hoạch thanh tra, do nhận thức về
công tác thanh tra chưa cao nên một số Hiệu trưởng không tạo điều kiện thuận lợi cho
các giáo viên của mình là Cộng tác viên thanh tra thực hiện nhiệm vụ khi được Sở,
i, bổ sung một
số điều của Nghị định số 49/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 4 năm 2005 của Chính phủ
quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục (sau đây gọi tắ là
Nghị định số 40/2011/NĐ-CP), tuy nhiên số lượng các vụ việc bị xử lý vi phạm hành
chính của thanh tra giáo dục cấp sở rất ít. Cụ thể trên địa bàn tỉnh Đồng Nai: Thanh tra
Sở GD&Đ
T Đồng Nai đã có số lần đã xử phạt vi phạm hành chính như sau: Đã xử
phạt với các hình thức: 02 phạt tiền và 10 cảnh cáo. Nội dung xử phạt: Vi phạm dạy
thêm, học thêm; giáo viên tráo bài thi trong kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 chuyên
Lương Thế Vinh; vi phạm về thành lập và hoạt động của một số trung tâm tin học và
ngoại ngữ. Tổng số tiền xử phạt: 8.600.000 đồng (Tám triệu sáu trăm ngàn đồng).
Ủy
ban nhân dân tỉnh Đồng Nai, Ủy ban nhân dân các huyện trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
không xử phạt trường hợp nào.
- Công tác đúc rút kinh nghiệm sau khi kết thúc Đoàn thanh tra chưa được chú
trọng, còn hình thức, các tổ chức sơ, tổng kết chưa thường xuyên, việc học tập, trao
đổi nghiệp vụ thanh tra giữa đơn vị với các tỉnh bạn còn hạn chế, làm chất lượng, hiệu
12
Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đồng Nai (2012), Báo cáo số 1037/BC-SGDĐT Về Tổng kết công tác thanh
tra năm học 2011-2012, Đồng Nai.
quả hoạt động thanh tra chậm được cải thiện. Hàng năm, chưa tổ chức giao lưu, mở
các cuộc thi nghiệp vụ, tuyên truyền đối với đội ngũ cán bộ, công chức.
2.2.4 Về phối hợp hoạt động.
Các đợt thanh tra giáo dục chủ yếu là do cấp Sở, Phòng GD&ĐT thực hiện theo
kế hoạch, sự phối hợp thanh tra giữa cơ quan thanh tra giáo dục và các đơn vị có liên
quan còn ít.
Vi
ệc thanh tra đột xuất các đơn vị ít, vì cơ chế phối hợp thu thập thông tin từ cơ
- Cần quy định Trưởng đoàn thanh tra được ban hành kết luận thanh tra, vì
Trưởng đoàn thanh tra là người lãnh đạo đoàn và trực tiếp tiến hành cuộc thanh tra, do
đó, hơn ai hết, Trưởng đoàn thanh tra là người hiểu rõ nội dung vụ việc và thấy cần
kết luận như thế nào trên cơ sở quy định của pháp luật. Trên cơ sở đó Điều 50 Luật
Thanh tra năm 2010 quy định trách nhiệm ban hành kết luận thanh tra do người ban
hành quyết định thanh tra, theo cá nhân tôi, là chưa hợp lý vì đây không phải là ngườ
i
trực tiếp tiến hành cuộc thanh tra. Mặt khác, trong một số trường hợp có thể Trưởng
đoàn thanh tra lại không nhất trí với kết luận của người ra quyết định thanh tra, vì thế,
cần quy định Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm kết luận thanh tra để đảm bảo tính
kịp thời và tính tự chịu trách nhiệm của Trưởng đoàn thanh tra.
- Các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp không phải là cơ quan
quản lý hành chính nhà nước nên Luật Giáo dục, Nghị định số 85/2006/NĐ-CP quy
định thẩm quyền của Hiệu trưởng thanh tra tại các đơn vị này là không đúng về chủ
thể quản lý hành chính nhà nước và không phù hợp với Luật thanh tra năm 2010. Vậy
nên chỉ quy định thẩm quyền kiểm tra của Hiệu trưởng đối với đơn vị mình quản lý.
- Bổ sung trong Nghị định số 85/2006/NĐ-CP quy định chế độ
chính sách cho
cộng tác viên thanh tra khi thực hiện hoạt động thanh tra sư phạm của giáo viên.
- Khái niệm thanh tra toàn diện tại Thông tư số 43/2006/TT-BGDĐT cần phải
được khẳng định lại rõ là hoạt động thanh tra chuyên ngành hay gồm thanh tra hành
chính và thanh tra chuyên ngành. Vì trên thực tế, Bộ GD&ĐT khi thanh tra toàn diện
tại các Sở GD&ĐT, Sở GD&ĐT khi thanh tra toàn diện tại các Phòng GD&ĐT trong
quyết định ghi là thanh tra hành chính và chuyên ngành nhưng khi thanh tra các
trường phổ thông trong quyết định lại ghi là thanh tra toàn diện. Điều này ch
ứng tỏ,
khái niệm thanh tra toàn diện được quy định trong Thông tư số 43/2006/TT-BGDĐT
có thể gây ra nhiều cách hiểu khác nhau.
- Sửa đổi về thời hạn thanh tra toàn diện tại Thông tư số 43/2006/TT-BGDĐT