skkn hoạt động thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục của địa phương thpt chuyên phan bội châu - Pdf 25

TÊN ĐỀ TÀI:
HOẠT ĐỘNG THANH TRA CHUYÊN NGÀNH
TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC CỦA ĐỊA PHƯƠNG
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nền giáo dục nước ta trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu đáng
khích lệ, góp phần quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chất lượng giáo
dục ở nước ta hiện nay còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát
triển. Cùng với đó, tình trạng dạy thêm, học thêm vẫn còn tiếp diễn, tình trạng lạm
thu ở các bậc học đang gây nhiều bức xúc trong xã hội, vấn đề quy hoạch, thành
lập, nâng cấp các trường đại học, cao đẳng, liên kết đào tạo còn nhiều bất cập;
quản lý giáo dục còn nhiều lúng túng; công tác thanh tra, kiểm tra chưa thực sự
hiệu quả.
Để phát huy những thành tựu đã đạt được, cũng như khắc phục có hiệu quả
những yếu kém, để đưa sự nghiệp giáo dục và đào tạo phát triển, đáp ứng yêu cầu
của công cuộc đổi mới, tạo nển tảng đưa nước ta thành một nước công nghiệp theo
hướng hiện đại, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI định hướng: “Tiếp tục đổi
mới cơ chế quản lý giáo dục, đào tạo trên tinh thần tăng cường tính tự chủ, tự chịu
trách nhiệm của các cơ sở giáo dục, đào tạo. Thực hiện hợp lý cơ chế tự chủ đối
với các cơ sở giáo dục, đào tạo gắn với đổi mới cơ chế tài chính. Làm tốt công tác
xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển, quản lý mục tiêu, chất lượng giáo dục,
đào tạo. Phát triển hệ thống kiểm định và công bố công khai kết quả kiểm định
chất lượng giáo dục, đào tạo; tổ chức xếp hạng cơ sở giáo dục, đào tạo. Tăng
cường công tác thanh tra; kiên quyết khắc phục các hiện tượng tiêu cực trong giáo
dục, đào tạo…”
1
Với định hướng trên, Thanh tra giáo dục đóng vai trò quan trọng, như một
kênh để đánh giá chất lượng giáo dục. Tuy nhiên, hoạt động thanh tra giáo dục còn
gặp nhiều khó khăn như: bất cập, chồng chéo trong cơ chế quản lý giữa các ngành,
các cấp; các quy định của pháp luật chuyên ngành mâu thuẫn, chồng chéo; đối
tượng thanh tra đa dạng, phức tạp; phạm vi thanh tra rộng; tổ chức thanh tra chưa

Luận văn thạc sỹ, trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh; Bùi Ngọc Thanh Trung
(2011), Pháp luật về hoạt động thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực văn hóa,
Luận văn thạc sỹ, Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh;
Các công trình trên nghiên cứu nhằm làm rõ những vấn đề lý luận về thanh
tra, kiểm tra, giám sát ở Việt Nam; phân định phạm vi hoạt động giữa thanh tra với
kiểm tra, giám sát; phân biệt giữa hoạt động thanh tra hành chính và thanh tra
chuyên ngành; quá trình hình thành và phát triển của thanh tra chuyên ngành. Tập
trung lý giải những vấn đề về khái niệm, vị trí, vai trò của thanh tra, kiểm tra, giám
sát; đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của các cơ quan thanh tra chuyên
ngành. Lý giải những vấn đề về thực tiễn thi hành pháp luật thanh tra nói chung và
pháp luật thanh tra chuyên ngành nói riêng, bất cập, vướng mắc và giải pháp hoàn
2
thiện pháp luật thanh tra nói chung và pháp luật thanh tra chuyên ngành nói riêng,
các biện pháp tăng cường cơ chế quản lý ngành.
Luận án tiến sĩ luật học: Nguyễn Thị Thương Huyền (2009), Hoàn thiện
pháp luật thanh tra trong giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sỹ, Viện Nhà nước và
Pháp luật, Hà Nội.
Luận án đã có cách tiếp cận mới trong việc phân tích làm sáng tỏ cơ sở lý
luận của việc hoàn thiện pháp luật thanh tra với quan điểm là một chức năng của
quản lý nhà nước nhằm kiểm soát thực hiện quyền lực nhà nước trong hành pháp.
Pháp luật thanh tra với tính cách là một chế định của ngành Luật hành chính và
những đặc điểm, nội dung cơ bản của chúng. Luận án đã chỉ ra những tiêu chí xác
định đối tượng điều chỉnh của pháp luật thanh tra, đặc điểm của quan hệ pháp luật
thanh tra cũng như tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật thanh tra.
Luận án đã so sánh đối chiếu tổ chức và hoạt động thanh tra hành chính và chuyên
ngành của Việt Nam với một số quốc gia trên thế giới.
Từ cơ sở lý luận của khoa học hành chính và luật học, Luận án đã phân tích,
tổng kết và chỉ ra những thành công cũng như hạn chế của pháp luật thanh tra từ
góc độ pháp luật thực định cũng như thực tiễn việc thực hiện pháp luật là những
nguyên nhân chủ yếu làm hạn chế hiệu quả, hiệu lực của hoạt động thanh tra.

. Theo Từ điển Luật học, “Thanh tra” là hoạt động “xem
xét để làm rõ việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước
của các cơ quan, tổ chức, cá nhân…”
(4)
. Từ đó, Thanh tra được hiểu là hoạt động
nhằm nhận xét, làm rõ quá trình thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật,
nhiệm vụ của các chủ thể.
Còn Thanh tra chuyên ngành theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học: “Tổ
chức thanh tra thuộc bộ, sở có quyền thanh tra mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân
trong việc thực hiện chính sách, pháp luật liên quan tới chức năng quản lý nhà
nước chuyên ngành của bộ, sở.”
5
Từ các khái niệm trên, thanh tra chuyên ngành được hiểu là việc xem xét,
làm rõ, ngăn chặn việc thực hiện chính sách, pháp luật liên quan tới chức năng
quản lý nhà nước chuyên ngành của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Khi có Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 đến trước thời điểm Luật Thanh tra
năm 2004 ban hành thì chưa có một khái niệm pháp lý đầy đủ về thanh tra chuyên
ngành. Sau khi có Pháp lệnh Thanh tra 1990, khái niệm thanh tra chuyên ngành
cũng chưa được khẳng định. Điều 1, Nghị định số 358/HĐBT ngày 28 tháng 9 năm
1992 của Hội đồng bộ trưởng quy định về tổ chức và hoạt động thanh tra giáo dục
(sau đây gọi tắt là Nghị định số 358/HĐBT) đưa ra một khái niệm chung về thanh
tra giáo dục như sau mà không thể hiện rõ như thế nào là hoạt động thanh tra
chuyên ngành: “Thanh tra giáo dục thực hiện quyền thanh tra Nhà nước về giáo
dục và đào tạo trong phạm vi cả nước nhằm tăng cường hiệu lực quản lý, bảo đảm
2
Viện ngôn ngữ học - Trung tâm từ điển học (1998), Từ điển tiếng Việt, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội,
tr.882.
3
Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, NXB Công an nhân dân, Hà
Nôi, tr 106.

sách, pháp luật chuyên ngành về giáo dục, những quy định về chuyên môn – kỹ
thuật, quy tắc quản lý của ngành, lĩnh vực thuộc quyền quản lý về giáo dục”.
1.2.2. Đặc điểm hoạt động thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo
dục của địa phương.
Hoạt động thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục cũng là một chức
năng cơ bản và vô cùng thiết yếu của hoạt động quản lý nhà nước về giáo dục .
Theo quy định của Luật Giáo dục số 38/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm
2005 của Quốc hội khóa XI được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 44/2009/QH12 ngày
25 tháng 11 năm 2009 của Quốc hội khóa XII (sau đây viết tắt là Luật Giáo dục)
thì giáo dục bao gồm giáo dục và đào tạo. Giáo dục cũng được hiểu bao gồm việc
dạy và học và đôi khi nó cũng mang ý nghĩa như là quá trình truyền thụ, phổ biến
tri thức, truyền thụ sự suy luận đúng đắn, truyền thụ sự hiểu biết. Giáo dục là nền
tảng cho việc truyền thụ, phổ biến văn hóa từ thế hệ này đến thế hệ khác. Giáo dục
là phương tiện để đánh thức và nhận ra khả năng, năng lực tiềm ẩn của chính mỗi
cá nhân, đánh thức trí tuệ của mỗi người. Nó ứng dụng phương pháp giáo dục, một
5
phương pháp nghiên cứu mối quan hệ giữa dạy và học để đưa đến những rèn luyện
về tinh thần, và làm chủ được các mặt như: ngôn ngữ, tâm lý, tình cảm, tâm thần,
cách ứng xử trong xã hội. Theo từ "Giáo dục" tiếng Anh - "Education" - vốn có
gốc từ tiếng La tinh "Educare" có nghĩa là "làm bộc lộ ra". Có thể hiểu "giáo dục là
quá trình, cách thức làm bộc lộ ra những khả năng tiềm ẩn của người được giáo
dục".
Bất kỳ ở một giai đoạn lịch sử nào, giáo dục - đào tạo luôn đóng một vai trò
hết sức quan trọng đối với sự phát triển của mỗi cá nhân, tập thể, cộng đồng, dân
tộc và cả nhân loại. Giáo dục - đào tạo là chìa khoá, là động lực đối với sự phát
triển của xã hội.
Từ lâu Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã nhận thức được vai trò của giáo
dục.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức rõ vai trò của giáo dục trong việc cải tạo,
phát triển con người, làm biến đổi con người cũ, xây dựng con người mới. Người

gia-Sự thật, Hà Nội, tr.77.
6
trung học cơ sở, trung học phổ thông; giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên
nghiệp và dạy nghề; giáo dục đại học, sau đại học đào tạo trình độ cao đẳng, trình
độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ.
Giáo dục và đào tạo nước ta trong thập kỷ tới phát triển trong bối cảnh thế
giới có nhiều thay đổi nhanh và phức tạp. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế về
giáo dục đã trở thành xu thế tất yếu. Cách mạng khoa học công nghệ, công nghệ
thông tin và truyền thông, kinh tế trí thức ngày càng phát triển mạnh mẽ, tác động
trực tiếp đến sự phát triển của các nền giáo dục trên thế giới. Trong khi đó, quản lý
giáo dục vẫn còn nhiều bất cập, còn mang tính bao cấp, ôm đồm, sự vụ và chồng
chéo, phân tán; trách nhiệm và quyền hạn quản lý chuyên môn chưa đi đôi với
trách nhiệm, quyền hạn quản lý về nhân sự và tài chính. Hệ thống pháp luật và
chính sách về giáo dục thiếu đồng bộ, chậm được sửa đổi, bổ sung. Sự phối hợp
giữa ngành giáo dục và các bộ, ngành, địa phương chưa chặt chẽ. Vậy nên, vấn đề
đổi mới về quản lý giáo dục đặt ra hết sức bức thiết, trong đó có công tác thanh tra
giáo dục.
Giữa quan lý nhà nước về giáo dục và thanh tra chuyên ngành về giáo dục
có mối quan hệ mật thiết với nhau. Thế nên nội dung, phạm vi quản lý nhà nước
quyết định phạm vi, nội dung hoạt động thanh tra chuyên ngành về giáo dục. Và
thông qua hoạt động thanh tra chuyên ngành về giáo dục không chỉ giúp chủ thể
quản lý nhà nước về giáo dục phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, khiếm khuyết
của pháp luật chuyên ngành về giáo dục để kiến nghị với cơ quan nhà nước có
thẩm quyền biện pháp khắc phục nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi
phạm pháp luật mà còn giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định
của pháp luật chuyên ngành, các quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản
lý ngành; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt
động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp
của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, trong công tác
giáo dục “nên kiểm thảo kỹ công tác “cải cách” về chương trình chủ trương và

Từ đó, hoạt động thanh tra chuyên ngành về giáo dục nói chung và hoạt
động thanh tra chuyên ngành của địa phương có những đặc điểm sau:
Chủ thể thanh tra:
Sau khi có Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 thì lĩnh vực giáo dục đã có Nghị
định số 358-HĐBT, tại văn bản này đã quy định hệ thống thanh tra giáo dục gồm
Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT và “ở huyện và cấp tương đương, công tác thanh tra giáo
dục do Trưởng phòng Giáo dục - Đào tạo trực tiếp phụ trách” (khoản 3, Điều 3).
Thực hiện Luật Giáo dục, kế thừa Nghị định số 358-HĐBT, Nghị định số
85/2006/NĐ-CP khẳng định cơ quan thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo
dục là Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT nhưng ở văn bản này có một điểm mới là quy
định trách nhiệm phụ trách công tác thanh tra của Hiệu trưởng, thủ trưởng các
trường trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học: “… Hoạt động thanh tra giáo
8
dục trong cơ sở giáo dục đại học, trường trung cấp chuyên nghiệp do Hiệu trưởng,
thủ trưởng cơ sở trực tiếp phụ trách theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
Đào tạo.” (Điều 19, Nghị định số 85/2006/NĐ-CP).
Như vậy, chủ thể thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực của địa phương bao
gồm: Thanh tra Sở GD&ĐT, Trưởng phòng GD&ĐT, Hiệu trưởng các trường đại học,
cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp đóng trên địa bàn mỗi tỉnh.
Chủ thể thanh tra trong lĩnh vực giáo dục của địa phương có một điểm đặc
thù so với các chủ thể thanh tra chuyên ngành khác là có Trưởng phòng GD&ĐT,
Hiệu trưởng các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp đóng trên địa bàn
mỗi tỉnh. Nhưng vấn đề đặt ra là hoạt động thanh tra của các chủ thể này so với
Luật Thanh tra năm 2010 có chính danh hay không. Vì theo quy định của Luật
Thanh tra năm 2010 và Nghị định số 07/2012/NĐ-CP ngày 09 tháng 02 năm 2012
của Chính Phủ quy định về cơ quan được giao thực hiện hoạt động thanh tra
chuyên ngành và hoạt động thanh tra chuyên ngành (sau đây gọi tắt là Nghị định số
07/2012/NĐ-CP) thì Phòng GD&ĐT không thuộc phạm vi điều chỉnh.
Nội dung thanh tra: Theo quy định tại Điều 14, Nghị định số 85/2006/NĐ-
CP, nội dung hoạt động thanh tra chuyên ngành về giáo dục gồm:

cấp giả đang tràn lan trong xã hội, len lõi khắp các ngành nghề và hành vi làm
bằng cấp giả ngày một tinh vi hơn thì nội dung thanh tra văn bằng, chứng chỉ là
một trong những biện pháp hữu hiệu hạn chế nạn bằng cấp giả.
- Thanh tra nội dung, phương pháp giảng dạy của giáo viên là một hoạt động
thanh tra đặc thù của thanh tra giáo dục. Đây là biện pháp nhằm tư vấn, thúc đẩy
năng lực sư phạm của giáo viên, ngăn ngừa việc giảng dạy tùy tiện ảnh hưởng đến
chất lượng giáo dục cho cả một thế hệ học sinh.
- Thanh tra các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục như: Diện tích khuôn
viên, cảnh quan, môi trường sư phạm; số lượng phòng học, phòng làm việc, phòng
thí nghiệm thực hành, phòng bộ môn, thư viện, phòng đa chức năng, phòng y tế,
bếp ăn tập thể, khu nội trú, bán trú, khu vực để xe, vệ sinh, sân chơi, bãi tập, nhà
đa chức năng, môi trường sư phạm, đội ngũ nhà giáo/quy mô người học, chương
trình, giáo trình… là nội dung thanh tra cần được quan tâm nhiều hơn trong hoàn
cảnh các trường tư thục ngày một nhiều trong khi việc đầu tư nhằm thực hiện các
cam kết khi thành lập trường còn nhiều hạn chế.
Tùy từng cấp học, bậc học, loại hình đào tạo mà chủ thể thanh tra căn cứ vào
các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh cụ thể về mục tiêu, kế hoạch, chương
trình, nội dung, phương pháp giáo dục, quy chế chuyên môn, quy chế đánh giá, xếp
loại nhà giáo và những quy định về điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục, đào tạo
để xác định các nội dung thanh tra tương ứng.
Ví dụ: Ở bậc học mầm non có những nội dung đặc trưng như: đồ dùng, đồ
chơi trong lớp và ngoài trời, thực hiện kế hoạch chăm sóc giáo dục trẻ (chế độ ăn
ngủ, học tập, tổ chức các hoạt động vui chơi, theo dõi biểu đồ phát triển của trẻ )
…; ở các bậc học phổ thông: bàn nghế, đồ dùng dạy học, sân chơi, bãi tập, tuyển
10
sinh, kiểm tra, đánh giá xếp loại học sinh, cấp phát văn bằng, chứng chỉ, thi tốt
nghiệp…
Đối tượng thanh tra:
Đối tượng thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục: Cơ quan, tổ
chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia hoạt động giáo

11
thực hiện có chất lượng, nền nếp, hiệu quả. Qua thanh tra các cấp quản lý đã kịp
thời phát hiện, ngăn ngừa, chấn chỉnh những lệch lạc, xử lý những sai phạm. Hoạt
động thanh tra đã góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, quản lý dạy thêm, học
thêm đúng quy định, việc cấp phát, quản lý văn bằng chứng chỉ chặt chẽ, công tác
tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo kịp thời, đúng pháp luật, kỷ cương,
nền nếp của ngành được giữ vững.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ngày càng được hoàn thiện, cụ thể,
đầy đủ, đảm bảo cơ sở pháp lý cho hoạt động thanh tra, cụ thể: Nghị định số
85/2006/NĐ-CP, Thông tư 43/2006/TT- BGDĐT; Pháp lệnh xử lý vi phạm hành
chính được ban hành từ năm 2002 và đến năm 2005, lĩnh vực giáo dục đã có Nghị
định số 49/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 4 năm 2005 của Chính phủ quy định về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục (sau đây gọi tắt là Nghị định số
49/2005/NĐ-CP); Thông tư số 51/2006/TT-BGDĐT ngày 13 tháng 12 năm 2006
của Bộ GD&ĐT Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 49/2005/NĐ-
CP ngày 11 tháng 4 năm 2005 của Chính phủ quy định về xử phạtvi phạm hành
chính trong lĩnh vực giáo dục và Nghị định số 40/2011/NĐ-CP ngày 08 tháng 6
năm 2011 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 49/2005/NĐ-CP ngày 11
tháng 4 năm 2005 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giáo dục (sau đây gọi tắt là Nghị định số 40/2011/NĐ-CP) …
Căn cứ vào các Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về nhiệm vụ trọng tâm
của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục
chuyên nghiệp; văn bản của Bộ GD&ĐT về Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ thanh
tra năm học và các văn bản chỉ đạo của địa phương, các Sở và Phòng GD&ĐT đã
xây dựng kế hoạch thanh tra năm học trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Kế hoạch
thanh tra cơ bản đã triển khai được các nhiệm vụ trọng tâm của năm học và phù
hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Thanh tra chuyên ngành đã được triển
khai cụ thể, thiết thực, có trọng tâm, trọng điểm. Các chỉ tiêu thanh tra toàn diện
đơn vị và thanh tra hoạt động sư phạm của giáo viên các địa phương xây dựng sát
với chỉ tiêu Bộ GD&ĐT quy định. Một số chuyên đề về đổi mới công tác quản lý,

sở các hoạt động giáo dục của nhà trường, Đoàn thanh tra đánh giá đúng thực
trạng, khẳng định những mặt đã làm được, nêu ra những hạn chế thiếu sót trong
công tác quản lý điều hành của lãnh đạo, thực hiện quy chế chuyên môn, kỷ cương,
nền nếp dạy học của giáo viên, kết quả rèn luyện văn hóa, đạo đức của học sinh.
Nhận xét, đánh giá của Đoàn là cơ sở để nhà trường phát huy ưu điểm, tìm giải
pháp khắc phục hạn chế thiếu sót, mặt khác giúp các cơ quan quản lý giáo dục có
phương án, quyết sách phù hợp trong việc phát triển giáo dục địa phương. Các
cuộc thanh tra toàn diện đơn vị góp phần quan trọng trong việc duy trì nền nếp và
nâng cao chất lượng hoạt động dạy và học trong các nhà trường hiện nay.
* Thanh tra hoạt động sư phạm của giáo viên.
Các Sở, Phòng GD&ĐT tổ chức thanh tra hoạt động sư phạm của giáo viên
theo các chuyên đề riêng hoặc lồng ghép trong cuộc thanh tra toàn diện đơn vị.
Không tổ chức cho Cộng tác viên thanh tra tiến hành thanh tra độc lập. Tổng số
giáo viên được thanh tra là 23.722, đạt tỷ lệ 14,5%. Các cuộc thanh tra được triển
10
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), Tài liệu hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2012 – 2013, NXB Giáo dục
Việt Nam, Hà Nội, tr 106-107.
11
Thanh tra Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), Tài liệu Hội nghị Triển khai nhiệm vụ thanh tra khối các Sở
Giáo dục và Đào tạo năm học 2012 – 2013, Hà Nội, tr 17-19.
13
khai đồng đều ở các cấp học mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ
thông và trung tâm giáo dục thường xuyên. Trong quá trình thanh tra, các Cộng tác
viên đã phát huy tinh thần trách nhiệm và năng lực nghiệp vụ, phát hiện những
điểm mạnh, điểm yếu của giáo viên qua việc kiểm tra hồ sơ, giáo án, việc thực hiện
chương trình quy chế chuyên môn, dự giờ thăm lớp, qua đó đánh giá toàn diện chất
lượng hoạt động sư phạm của giáo viên. Giúp giáo viên ở các đơn vị thấy rõ các ưu
điểm để phát huy, những tồn tại để rút kinh nghiệm. Trên cơ sở những hạn chế
thiếu sót, Cộng tác viên thanh tra đã tư vấn trao đổi về phương pháp, kinh nghiệm
giảng dạy, giáo dục học sinh để giáo viên tham khảo, áp dụng. Mặt khác, kết quả

bằng; quản lý hồ sơ cấp phát; thực hiện quy trình cấp phát; quy định việc nhận
bằng thay; xử lý văn bằng viết sai, tồn đọng…Thông qua kiểm tra cho thấy công
tác quản lý, cấp phát văn bằng chứng chỉ ở các đơn vị theo đúng quy định tại quyết
định số 33/2007/QĐ-BGDĐT ngày 20/6/2007 của Bộ GD&ĐT.
Hầu hết các Sở, Phòng GD&ĐT có đủ hồ sơ cấp phát văn bằng, chứng chỉ
theo đúng mẫu. Các cơ sở giáo dục được hướng dẫn cụ thể nên hồ sơ sổ sách nhận
và cấp bằng tốt nghiệp cho học sinh đầy đủ, khoa học. Những văn bằng, chứng chỉ
có nghi vấn tiến hành phối hợp với Công an tỉnh, Sở Tư pháp xác minh. Kiên
quyết thu hồi, xử lý văn bằng, chứng chỉ bất hợp pháp.
* Thanh tra các kỳ thi.
Thực hiện kế hoạch thanh tra thi, các Sở GD&ĐT đã thành lập các đoàn
thanh tra thi. Kiểm tra việc quán triệt các văn bản chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, Ủy ban
nhân dân các tỉnh, thành phố và ban hành các văn bản chỉ đạo về công tác thi và
tuyển sinh.
Tiến hành thanh tra công tác chuẩn bị thi, coi thi, chấm thi, phúc khảo các
kỳ thi tốt nghiệp, thi tuyển sinh, thi nghề, thi cấp chứng chỉ ngoại ngữ, tin học, thi
chọn học sinh giỏi; công tác tuyển sinh đầu cấp, xét hoàn thành chương trình tiểu
học, xét công nhận tốt nghiệp trung học cơ sở.
Tại các địa phương đã xây dựng kế hoạch tổ chức thi, thành lập Ban Chỉ đạo
thi; soạn thảo các văn bản chỉ đạo về kỳ thi; chuẩn bị lực lượng tham gia kỳ thi; tổ
chức tập huấn, học tập quy chế thi, bố trí các phương án phối hợp bảo vệ kỳ thi và
xử lý sự cố bất thường có thể xảy ra trong khi tổ chức thi; điều động cán bộ trực
tiếp thanh tra tại các Hội đồng coi thi, thành lập đoàn thanh tra lưu động phối hợp
với thanh tra uỷ quyền của Bộ GD&ĐT trực tiếp kiểm tra, giám sát các Hội đồng
coi thi; cử cán bộ, giáo viên thanh tra công tác chấm thi, phúc khảo tại các Hội
đồng chấm thi, phúc khảo theo sự điều động của Bộ GD&ĐT.
Cán bộ thanh tra đã phát huy tinh thần trách nhiệm và trình độ nghiệp vụ nên
đã góp phần đưa công tác thi vào kỷ cương nền nếp.
Ngoài ra, còn có các cuộc thanh tra chuyên ngành khác như: thanh tra công
tác đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục, thực hiện 3 công khai; thanh tra

- Thẩm quyền của thanh tra chuyên ngành của thanh tra Sở GD&ĐT theo
quy định của Luật Thanh tra là thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành,
quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý ngành, lĩnh vực của cơ quan,
tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của sở. Theo phân cấp quản lý có những cơ
quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực giáo dục thuộc thẩm quyền quản
lý của các Bộ, ngành hoạt động tại địa phương, khi có hành vi vi phạm thì Thanh
tra Sở không thể tiến hành thanh tra chuyên ngành để xử lý.
- Về giám sát hoạt động của Đoàn thanh tra: Theo Quy chế giám sát, kiểm
tra hoạt động của Đoàn thanh tra hiện hành thì sau khi thành lập Đoàn thanh tra,
người ra quyết định thanh tra phải giám sát Đoàn thanh tra hoặc cử người giám sát.
16
Tuy nhiên, quá trình áp dụng quy định này trên thực tế đã gặp không ít khó khăn,
việc thực hiện việc giám sát hoạt động thanh tra thực hiện khó khả thi. Thực tiễn
các cuộc thanh tra trong lĩnh vực giáo dục trên địa bàn tỉnh Đồng Nai hầu như
không thực hiện. Lý do: Thứ nhất: Người ra Quyết định thanh tra thường là Thủ
trưởng cơ quan hoặc là Chánh Thanh tra nên việc bố trí thời gian để giám sát các
Đoàn trong thực tế không thể thực hiện, Thứ hai: nếu giao cho cán bộ, công chức
không thuộc biên chế của cơ quan thanh tra đi giám sát thì yêu cầu về sự am hiểu
pháp luật thanh tra, nghiệp vụ thanh tra không đảm bảo nên cũng khó có thể thực
hiện; nếu giao cho Cán bộ thanh tra, Thanh tra viên thuộc biên chế của Thanh tra
Sở đi giám sát thì biên chế không đảm bảo và trong trường hợp này Trưởng Đoàn
thanh tra là Chánh Thanh tra thì liệu cán bộ giám sát có thực thi nhiệm vụ khách
quan không; trong trường hợp trưởng Đoàn thanh tra là Chánh Thanh tra đồng thời
đảm nhận hai chức trách là Trưởng đoàn và cán bộ giám sát thì việc cử người giám
sát là rất hình thức. Đặc thù của hoạt động thanh tra được chia thành các tổ, nhóm
làm việc độc lập với Trưởng Đoàn thanh tra, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục khi tổ
chức Đoàn thanh tra thì các tổ, nhóm độc lập đi xuống các đơn vị trường học và
mỗi nhóm lại chia ra để làm việc với từng bộ phận, như vậy liệu cán bộ được cử
giám sát liệu có thực hiện trọn vẹn nhiệm vụ của mình không.
- Chưa có khái niệm về thanh tra giáo dục, khái niệm hoạt động thanh tra

- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành thường xuyên thay
đổi, thiếu tính ổn định. Có một số quan hệ pháp luật phát sinh không điều chỉnh
kịp thời ví dụ như: liên kết đào tạo, tin học ngoại ngữ…
- Các Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục quy
định còn nhiều sơ hở, chưa toàn diện nên có những hành vi vi phạm không thể xử
lý. Ví dụ: hành vi tổ chức thi lấy chứng chỉ ngoại ngữ có yếu tố nước ngoài.
- Thực tế hiện nay, mỗi địa phương vận dụng Thông tư số 28/2009/TT-
BGDĐT ngày 21 tháng 10 năm 2009 của Bộ GD&ĐT Quy định chế độ làm việc
với giáo viên phổ thông để thực hiện chế độ thanh tra cho đỗi ngũ Cộng tác viên
thanh khác nhau và Thông tư này chỉ điều chỉnh đối với đội ngũ Cộng tác viên
thanh tra phổ thông còn đội ngũ Cộng tác viên thanh tra bậc học mầm non vẫn
chưa có quy định chế độ mới.
- Còn có sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà
nước về GD&ĐT, giữa cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và các cơ quan chủ
quản, giữa quản lý GD&ĐT theo ngành và theo lãnh thổ nên các hoạt động thanh
tra chuyên ngành cũng gặp nhiều khó khăn.
2.2.2 Cơ cấu, tổ chức, nhân sự.
- Biên chế cho thanh tra Sở GD&ĐTquá ít trong khi địa bàn, phạm vi thanh
tra rộng, có những địa phương khó khăn về mặt địa lý như các tỉnh miền núi phía
bắc hoặc có đối tượng quản lý nhiều thì vấn đề biên chế cần được coi trọng.
- Do yêu cầu thanh tra về hoạt động sư phạm của giáo viên với nhiều chuyên
môn khác nhau trong một trường học nên đói hỏi một lực lượng Cộng tác viên
thanh tra lớp có giàu kinh nghiện, giỏi chuyên môn giàu năng lực sư phạm. Nhưng
18
trên thực tế đội ngũ này khi được trưng tập không hẳn đáp ứng được yêu cầu trên,
vì không ít giáo viên khi được trưng tập không giỏi chuyên môn, thiếu kinh
nghiệm nên khi thanh tra đã không được đồng nghiệp kính nể và không thực hiện
được mục tiêu thanh tra hoạt động sư phạm của giáo viên là tư vấn, thúc đẩy. Khi
thanh tra các đơn vị nếu có sai phạm thì một số Cộng tác viên thanh tra lúng túng
vận dụng các quy định của pháp luật, cộng với tâm lý cả nể đồng nghiệp nên càng

hàng trăm đơn vị trường học, hàng ngàn cán bộ, giáo viên chưa kể là trong giai
19
đoạn hiện nay các nhóm trẻ dân lập thành lập ngày một nhiều. Xin lấy đơn cử tại
Phòng GD&ĐT thành phố Biên Hòa, Đồng Nai: cán bộ phụ trách công tác thanh
tra là người tham mưu cho Trưởng phòng về công tác thanh tra nhưng chưa qua
bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra viên chuyên ngành, các đơn vị trực thuộc nhiều (tại
Phòng GD&ĐT Biên Hòa đơn vị trực thuộc: mầm non 53, tiểu học 52, trung học
cơ sở 31), khối lượng công việc phụ trách lớn. Tại phòng GD&ĐT Biên Hòa, trong
một năm học để thực hiện thanh tra toàn diện đạt tỷ lệ 20% đơn vị trực thuộc thì
Phòng GD&ĐT Biên Hòa phải thanh tra được gần 27 đơn vị (mầm non, tiểu học,
trung học cơ sở), mỗi cuộc thanh tra toàn diện từ khâu chuẩn bị thanh tra đến khi
kết thúc thanh tra phải mất thời gian ít nhất một tuần, nếu đi 27 đơn vị thì phải mất
27 tuần mà trong một năm học chỉ có 35 tuần (chiếm 2/3 thời gian), ngoài ra cán
bộ thanh tra phải tham mưu thực hiện các đợt thanh tra chuyên đề, tham mưu công
tác giải quyết tố cáo, công tác phòng chống tham nhũng và các công tác khác…
Thực hiện hoạt động thanh tra chuyên ngành lại gặp khó khăn về nghiệp vụ thanh
tra, thực hiện quyền trong quá trình thanh tra theo pháp luật thanh tra cũng khó vận
dụng.
Thủ trưởng các trường trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học là một
chủ thể thực hiện hoạt động thanh tra chuyên ngành giáo dục nhưng so với Luật
Thanh tra năm 2010 thì cũng không phù hợp, hơn nữa các đơn vị này không phải là
một cơ quan quản lý nhà nước mà chỉ là một đơn vị sự nghiệp, vậy hoạt động
thanh tra của các chủ thể này chỉ có thể coi là hoạt động kiểm tra nội bộ. Mặt khác,
cán bộ phụ trách công tác thanh tra tại các đơn vị này lại chưa được đào tạo, bồi
dưỡng về nghiệp vụ thanh tra, thực tế các hoạt động thanh tra tại các đơn vị này chỉ
mang tính kiểm tra nội bộ mà không phải là hoạt động thanh tra theo đúng nghĩa.
Thư ký Đoàn thanh tra là thành viên Đoàn thanh tra, được Trưởng đoàn
phân công nhiệm vụ giúp cho lãnh đạo Đoàn chuẩn bị hồ sơ thanh tra, soạn thảo
biên bản thanh tra, ghi chép về các hoạt động của Đoàn thanh tra từ khi công bố
quyết định thanh tra đến khi kết thúc thanh tra, tổng hợp kết quả thanh tra và thực

cầu đối tượng chuẩn bị hồ sơ, tài liệu, sắp xếp thời gian làm việc với Đoàn thanh
tra.
Ngoài việc thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn được giao, Thư ký Đoàn
thanh tra phải là sợi dây gắn kết các thành viên, duy trì sự đoàn kết nhất trí xung
quanh lãnh đạo Đoàn, đảm bảo các nguyên tắc hoạt động thanh tra theo quy định
(Điều 7, Luật thanh tra năm 2010), tập trung thực hiện các nhiệm vụ theo kế hoạch
thanh tra đã đề ra.
Với vai trò quan trọng, là một trong những nhân tố quyết định thành công
hay thất bại của cuộc thanh tra nhưng pháp luật thanh tra lại chưa quy định chức
danh cho thư ký như tòa án để nâng cao hoạt động thanh tra nói chung và luật hóa
chức danh thư ký Đoàn thanh tra là để khẳng định vị trí, vai trò của người thư ký
khi tham gia hoạt động thanh tra, nâng cao trách nhiệm cho thư ký Đoàn.
2.2.3 Quy trình thanh tra.
- Trong quá trình thanh tra tại các đơn vị, các loại biên bản thanh tra do các
thành viên Đoàn, tổ, nhóm lập không thu thập tài liệu, chứng cứ kèm theo để
chứng minh cho các số liệu, nhận xét, kiến nghị trong biên bản.
21
- Báo cáo kết quả của các thành viên Đoàn thanh tra chủ yếu thể hiện bằng
biên bản thanh tra tại đơn vị, thành viên đoàn thanh tra hầu như không báo cáo
tổng hợp kết quả thanh tra căn cứ từ biên bản, tài liệu thu thập được: thanh tra toàn
diện, thanh tra thi, thanh tra hoạt động sư phạm của nhà giáo…
- Nghiệp vụ thanh tra của lực lượng Cộng tác viên thanh tra ở một số môn
chưa đều dẫn đến việc đánh giá xếp loại giáo viên chưa có tính thuyết phục cao,
nặng về xếp loại giáo viên chưa chú trọng công tác tư vấn thúc đẩy, mang tính chủ
quan, cả nể. Công tác thanh tra thanh tra hoạt động sư phạm của giáo viên chỉ tập
trung vào thanh tra hoạt động sư phạm của giáo viên chưa chú trọng đến công tác
quản lý chuyên môn của Hiệu trưởng, Tổ trưởng; điều đó thể hiện ở khâu duyệt kế
hoạch thanh tra của Sở, Phòng GD&ĐT chưa kỹ, chưa định hướng được nhiệm vụ
cho cộng tác viên thanh tra. Khả năng vận dụng các quy định của pháp luật để xử
lý các tình huống trong quá trình thanh tra còn nhiều hạn chế. Việc điều động cộng

Nghị định số 49/2005/NĐ-CP); Thông tư số 51/2006/TT-BGDĐT ngày
13/12/2006 của Bộ GD&ĐT Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số
49/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 4 năm 2005 của Chính phủ quy định về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục và Nghị định số 40/2011/NĐ-CP ngày
08/6/2011 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 49/2005/NĐ-CP ngày 11
tháng 4 năm 2005 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giáo dục (sau đây gọi tắ là Nghị định số 40/2011/NĐ-CP), tuy nhiên số
lượng các vụ việc bị xử lý vi phạm hành chính của thanh tra giáo dục cấp sở rất ít.
Cụ thể trên địa bàn tỉnh Đồng Nai: Thanh tra Sở GD&ĐT Đồng Nai đã có số lần
đã xử phạt vi phạm hành chính như sau: Đã xử phạt với các hình thức: 02 phạt tiền
và 10 cảnh cáo. Nội dung xử phạt: Vi phạm dạy thêm, học thêm; giáo viên tráo bài
thi trong kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 chuyên Lương Thế Vinh; vi phạm về thành
lập và hoạt động của một số trung tâm tin học và ngoại ngữ. Tổng số tiền xử phạt:
8.600.000 đồng (Tám triệu sáu trăm ngàn đồng). Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai,
Ủy ban nhân dân các huyện trên địa bàn tỉnh Đồng Nai không xử phạt trường hợp
nào.
- Công tác đúc rút kinh nghiệm sau khi kết thúc Đoàn thanh tra chưa được
chú trọng, còn hình thức, các tổ chức sơ, tổng kết chưa thường xuyên, việc học tập,
trao đổi nghiệp vụ thanh tra giữa đơn vị với các tỉnh bạn còn hạn chế, làm chất
lượng, hiệu quả hoạt động thanh tra chậm được cải thiện. Hàng năm, chưa tổ chức
giao lưu, mở các cuộc thi nghiệp vụ, tuyên truyền đối với đội ngũ cán bộ, công
chức.
2.2.4 Về phối hợp hoạt động.
Các đợt thanh tra giáo dục chủ yếu là do cấp Sở, Phòng GD&ĐT thực hiện
theo kế hoạch, sự phối hợp thanh tra giữa cơ quan thanh tra giáo dục và các đơn vị
có liên quan còn ít.
Việc thanh tra đột xuất các đơn vị ít, vì cơ chế phối hợp thu thập thông tin từ
cơ sở còn hạn chế nên nhiều hành vi vi phạm không được phát hiện, xử lý kịp thời.
Có nhiều nội dung thanh tra cần có sự phối kết hợp của nhiều cơ quan nên
nhiều lúc cũng gây khó khăn cho việc thành lập Đoàn thanh tra như: thanh tra các

phải là người trực tiếp tiến hành cuộc thanh tra. Mặt khác, trong một số trường hợp
có thể Trưởng đoàn thanh tra lại không nhất trí với kết luận của người ra quyết
định thanh tra, vì thế, cần quy định Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm kết luận
thanh tra để đảm bảo tính kịp thời và tính tự chịu trách nhiệm của Trưởng đoàn
thanh tra.
- Các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp không phải là cơ
quan quản lý hành chính nhà nước nên Luật Giáo dục, Nghị định số 85/2006/NĐ-
CP quy định thẩm quyền của Hiệu trưởng thanh tra tại các đơn vị này là không
đúng về chủ thể quản lý hành chính nhà nước và không phù hợp với Luật thanh tra
năm 2010. Vậy nên chỉ quy định thẩm quyền kiểm tra của Hiệu trưởng đối với đơn
vị mình quản lý.
24
- Bổ sung trong Nghị định số 85/2006/NĐ-CP quy định chế độ chính sách
cho cộng tác viên thanh tra khi thực hiện hoạt động thanh tra sư phạm của giáo
viên.
- Khái niệm thanh tra toàn diện tại Thông tư số 43/2006/TT-BGDĐT cần
phải được khẳng định lại rõ là hoạt động thanh tra chuyên ngành hay gồm thanh tra
hành chính và thanh tra chuyên ngành. Vì trên thực tế, Bộ GD&ĐT khi thanh tra
toàn diện tại các Sở GD&ĐT, Sở GD&ĐT khi thanh tra toàn diện tại các Phòng
GD&ĐT trong quyết định ghi là thanh tra hành chính và chuyên ngành nhưng khi
thanh tra các trường phổ thông trong quyết định lại ghi là thanh tra toàn diện. Điều
này chứng tỏ, khái niệm thanh tra toàn diện được quy định trong Thông tư số
43/2006/TT-BGDĐT có thể gây ra nhiều cách hiểu khác nhau.
- Sửa đổi về thời hạn thanh tra toàn diện tại Thông tư số 43/2006/TT-
BGDĐT theo hướng thời hạn thanh tra tiến hành không quá 30 ngày; trường hợp
phức tạp, ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn có thể
kéo dài hơn, nhưng không quá 45 ngày để đảm bảo sự thống nhất với Luật Thanh
tra năm 2010 và điều kiện thực tế của từng địa phương.
- Bổ sung quy định kết luận thanh tra toàn diện nhà trường phải có đánh giá,
xếp loại. Việc đánh giá, xếp loại đúng thực chất sẽ động viên được những đối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status