Y HC THC HNH (886) - S 11/2013
2
Mục lục (886)
Vũ Thị Kim Liên
Đỗ Thị Quỳnh Nga
Trần Thị Hải Âu
Nguyễn Thị Hồng Ngọc
Triệu Thị Thanh Vân
Đỗ Phơng Loan
Nguyễn Thái Sơn
Nghiên cứu dịch tễ học phân tử các chủng Virus sởi lu hành trong các
vụ dịch sởi năm 2006-2013 ở miền Bắc Việt Nam
73
Trần Hữu Tâm,
Võ Ngọc Nguyên,
Trơng Quân Thụy,
Nguyễn Thị Thanh Tâm,
Nguyễn Hữu Lễ,
cỏn b lm cụng tỏc thanh tra u nm c nhng
ni dung c bn v thanh tra chuyờn ngnh an ton
thc phm trờn 80%. Vn cũn mt s ni dung cụng
vic cn phi lm khi chun b cho mt cuc thanh tra
m cỏn b cỏn b thanh tra thc hnh mc thp
nh ph bin k hoch thanh tra (72,7%), thụng bỏo
cho i tng thanh tra chun b bỏo cỏo theo
cng (73,2%). Kt thỳc mt cuc thanh tra cũn mt
s ni dung nh thụng bỏo kt thỳc vic thanh tra ti
c s; x lý, x pht vi phm hnh chớnh; xõy dng
d tho kt lun thanh tra; cụng b kt lun thanh tra;
rỳt kinh nghim v hot ng ca on thanh tra; lp,
bn giao h s thanh tra ch mi c thc hin
mc di 60%. Hiu bit ca ch c s v trỏch
nhim ca n v c kim tra, thanh tra khi cú
on thanh tra n thanh tra l cha y .
T khúa: an ton thc phm, cụng tỏc thanh tra,
kim tra.
SUMMARY
Inspection activity is a vital function of state
management. Especially, for the food safety
management, inspection activities play very important
role as it will be related to the safety assurance of
products that impact directly on human health. The
study was conducted in 30 provinces represent
different ecological regions of Vietnam, with the
number of 1,301 people were interviewed, including
the leaders, inspectors, owners of food production
and trade. The main results are as follows: Most
inspectors understand the basic contents of food
thương mại, du lịch và an sinh xã hội.
Để từng bước làm tốt công tác bảo đảm ATTP,
bảo vệ sức sức khoẻ cho nhân dân, trong những
năm qua Đảng, Nhà nước, Bộ Y tế và các Bộ, ngành
chức năng đã ban hành, sửa đổi, bổ sung nhiều văn
bản quy phạm pháp luật về ATTP. Đồng thời đã
thành lập, kiện toàn hệ thống các cơ quan quản lý
Nhà nước về ATTP, tăng cường công tác thanh tra,
kiểm tra giúp ngăn chặn và xử lý nhiều vụ vi phạm về
ATTP trong sản xuất, chế biến, kinh doanh thực
phẩm; đẩy mạnh công tác thông tin giáo dục truyền
thông nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp
luật về bảo đảm ATTP cho các nhóm đối tượng trong
xã hội [1][ 2]. Tuy nhiên, theo báo cáo của Cục ATTP
và một số nghiên cứu trong những năm gần đây cho
thấy số vụ, số ca ngộ độc thực phẩm và số người tử
vong do ngộ độc thực phẩm vẫn còn cao (từ năm
2000 đến 2010, cả nước có 2.147 vụ ngộ độc thực
phẩm, với 60.602 ca mắc và 583 ca tử vong) [1][2].
Trên thực tế, số vụ, số ca ngộ độc thực phẩm cao
hơn gấp nhiều lần so với số vụ, số ca được phát hiện
và ghi nhận. Kết quả các cuộc thanh tra trong 10 năm
(2001-2010) cho thấy tỷ lệ vi phạm về ATTP tại các
cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm được thanh
tra chiếm khoảng 20 - 30% (năm 2008, tỷ lệ vi phạm
ATTP chiếm 30%) [2][3].
Nhằm nâng cao năng lực thanh tra chuyên ngành
an toàn thực phẩm chúng tôi tiến hành đề tài:
“Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng
cao hiệu quả hoạt động thanh tra chuyên ngành an
đạo trong cơ quan có chức năng chỉ đạo công tác
thanh tra, kiểm tra ATTP (Lãnh đạo Sở Y tế; Thanh
tra Sở Y tế; Chi cục ATVSTP các tỉnh, thành phố) (30
tỉnh = 163 người).
- Đối với nhóm TTV, công chức TTCN chọn toàn
bộ số cán bộ TTV ở Thanh tra Sở Y tế và cán bộ làm
công tác thanh tra tại Chi cục ATVSTP (30 tỉnh = 231
người).
- Đối với nhóm chủ doanh nghiệp sản xuất, kinh
doanh thực phẩm mỗi tỉnh chúng tôi chọn 30 cơ sở
sản xuất, kinh doanh thực phẩm, dịch vụ ăn uống để
điều tra, nghiên cứu (30 tỉnh với 907 người đại diện
cho cơ sở thực phẩm).
Tổng số đối tượng được điều tra trong nghiên cứu
này là 1.301 người.
4.3 Phương pháp và kỹ thuật thu thập thông tin,
xử lý số liệu
* Phương pháp và kỹ thuật thu thập thông tin
- Thu thập thông tin từ các đối tượng nghiên cứu:
Sử dụng ba bộ câu hỏi dành cho 3 nhóm đối tượng
là: Cán bộ lãnh đạo; Cán bộ làm công tác thanh tra
chuyên ngành ATTP và Chủ cơ sở sản xuất kinh,
doanh thực phẩm.
- Thu thập thông tin từ các báo cáo kết quả hoạt
động thanh tra hàng năm từ 2008 – 2012 do Cục
ATTP cung cấp.
* Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu nghiên cứu được thu thập, thống kê trên
máy vi tính, sử dụng phần mềm SPSS và Exel.
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
90
38,9
102
11,331
–
40
6 3,7 78
33,8
343
37,841 –
50
62 38,0
48
20,9
299
492
54,2N
ữ
30
18,4
117
50,7
415
45,8C
ộng16323
1
2. Kiến thức và thực hành của nhóm cán bộ
lãnh đạo trong chỉ đạo công tác thanh tra chuyên
ngành ATTP
Bảng 2. Tỷ lệ các cán bộ lãnh đạo đã qua các lớp
nghiệp vụ thanh tra (do Thanh tra Chính phủ tổ chức
(n = 163)
H
ọc lớp nghiệp vụ thanh tra
n
%
Chưa được đào tạo 58 35,6
Đ
ã h
ọc lớp nghiệp vụ thanh tra vi
ên
48
29,4
Đ
ã h
ọc lớp nghiệp vụ thanh tra vi
ên
chính
28 17,2
Đã học lớp nghiệp vụ thanh tra cao cấp 1 0,6
%
Chưa đư
ợc đ
ào t
ạo
64
27,7
L
ớp nghiệp vụ thanh tra vi
ên
99
42,9
L
ớp nghiệp vụ thanh tra vi
ên chính
2
0,
9
L
213
92,2
Đ
ối t
ư
ợng thanh tra
212
91,7
N
ội dung v
à phương pháp ti
ến h
ành
212
91,7
Nhân s
ự v
à
phân công trách nhi
ệm
hành (91,7%), nhân sự và phân công (85,3), bảo đảm
kinh phí (84%).
Bảng 5. Hiểu biết của cán bộ làm công tác thanh
tra về nội dung thanh tra chuyên ngành ATTP
N
ội dung thanh tra chuy
ên ngành ATTP
N
%
Vi
ệc thực hiện các ti
êu chu
ẩn, quy chuẩn
kỹ thuật, quy định về an toàn thực phẩm;
227 98,3
Vi
ệc ghi nh
ãn s
ản phẩm
224
97,0
Vi
ệc tuân thủ quy định về quảng cáo thực
0,9
Hầu hết cán bộ làm công tác thanh tra đều nắm
được những nội dung cơ bản về thanh tra chuyên
ngành ATTP trên 80%.
Bảng 6. Hiểu biết của cán bộ làm công tác thanh
tra về người có quyền xử phạt hành chính về ATTP
Ngư
ời có quyền xử phạt h
ành chính v
ề
ATTP
n %
Ch
ủ tịch Ủy ban nhân các cấp
199
86,10
Chánh Thanh tra, TTV chuyên ngành Y
tế
221 95,70
Công ch
ức đ
ư
ợc giao thực hiện nhiệm
vụ TTCN
86 37,20
Không rõ
1
0,40
Ý ki
ến khác:
299
32,96
Tỷ lệ người được hỏi hiểu đúng về thẩm quyền
XPVPHC về ATTP còn thấp, chủ yếu mới đề cập đến
Chủ tịch UBND các cấp (86,1%), Chánh Thanh tra Y
tế (95,7%) mà chưa hiểu đúng và đầy đủ về các chức
danh như quản lý thị trường 63,2%), công an
(48,5%).
Bảng 7. Thực hành các công việc chuẩn bị cho
một cuộc thanh tra
Công vi
ệc chuẩn bị cho một cuộc thanh
tra
N %
Ti
ếp nhận thông tin
209
7
2,7
Thông báo cho đ
ối t
ư
ợng đ
ư
ợc thanh tra
chuẩn bị báo cáo theo đề cương
169 73,2
Một số nội dung thuộc công việc chuẩn bị cho một
cuộc thanh tra được thực hành đúng với tỷ lệ khá cao
như tiếp nhận thông tin, xử lý thông tin, chuẩn bị căn
cứ pháp lý, quyết định thanh tra và xây dựng kế
hoạch thanh tra với tỷ lệ hiểu đúng trên 85%. Còn
một số nội dung mà cán bộ thanh tra thực hành đầy
đủ ở mức thấp hơn như phổ biến kế hoạch thanh tra
Y HỌC THỰC HÀNH (886) - SỐ 11/2013
5
(72,7%), thông báo cho đối tượng thanh tra chuẩn bị
báo cáo theo đề cương (73,2%).
90,5
Thu thập tang vật, lấy mẫu, thực hiện các giải
pháp cấp bách
182
78,8
Báo cáo tiến độ thanh tra với người ra quyết
định
159
68,8
Ghi nhật ký Đoàn thanh tra
156
67,5
Sửa đổi, bổ sung kế hoạch tiến hành thanh tra
50
21,6
Tạm dừng việc thanh tra tại cơ sở để thực hiện
công việc khác sau đó một thời gian thanh tra
tiếp
10 4,3
Ý kiến khác:
L
ập bi
ên b
ản thanh tra
191
82,7
X
ử lý, xử phạt vi phạm h
ành chính
118
51,1
Báo cáo k
ết quả thanh tra
167
72,3
Xây d
ựng dự thảo kết luận thanh tra
110
12 5,2
Ý kiến khác 2 0,9
Đa số các nội dung khi kết thúc một cuộc thanh
tra không được thực hiện một cách đầy đủ, trong số
các nội dung cần thực hiện thì việc lập biên bản
thanh tra được thực hiện với tỷ lệ cao nhất (82,7%),
tiếp theo là làm báo cáo kết quả thanh tra 72,3%, đối
với đa số các nội dung công việc còn lại mới chỉ
được thực hiện ở mức dưới 60%
96%
4%
Có
Không
Biểu đồ 2. Thực hành là tuyên truyền viên và đào tạo
viên của cán bộ trực tiếp làm công tác thanh tra cho
các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
Hầu hết các cán bộ làm công tác thanh tra đã
thực hiện là một tuyên truyền viên về các nội dung
liên quan chấp hành pháp luật về bảo đảm ATP đối
với cơ sở thực phẩm chiếm 96%.
4. Kiến thức và thực hành về an toàn thực
phẩm của chủ cơ sở thực phẩm
Bảng 10. Tỷ lệ chủ cơ sở biết những quy định về
ATTP (n = 907)
Các Quy định về ATTP n %
Pháp lệnh Vệ sinh An toàn thực phẩm 425 46,9
Luật An toàn thực phẩm 750 82,7
Nghị định của Chính phủ 353 38,9
Quyết định của các Bộ, ngành 218 24,0
ATTP 700
77,2
Cử người có thẩm quyền làm việc với
đoàn thanh, kiểm tra
647
71,3
Cung cấp đầy đủ các thông tin, tài liệu,
báo cáo kịp thời theo yêu cầu của
người được giao nhiệm vụ kiểm tra,
thanh tra
669
73,8
Phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
về những thông tin, tài liệu đã cung cấp
597
65,8
Chấp hành nghiêm chỉnh các yêu cầu,
kiến nghị, quyết định, kết luận về kiểm
tra, thanh tra 688
75,9
Y HỌC THỰC HÀNH (886) - SỐ 11/2013
ATTP, kết quả điều tra cho thấy số cán bộ lãnh đạo
đã được bồi dưỡng về nghiệp vụ thanh tra ATTP
chiếm 64,42% (số liệu báo cáo của Thanh tra Bộ Y tế
và Cục ATTP từ năm 2008 trở về trước, số cán bộ
lãnh đạo tham gia tập huấn đạt khoảng 15%) [2][3],
điều này chứng tỏ cán bộ lãnh đạo đã ngày càng
quan tâm đến hoạt động thanh tra vì cán bộ lãnh đạo
có nắm bắt các kiến thức, kỹ năng thanh tra thì việc
chỉ đạo mới được sát sao, giúp từng bước nâng cao
hiệu quả hoạt động thanh tra chuyên ngành ATTP.
Về kiến thức và thực hành của cán bộ làm công tác
thanh tra trong thực hiện công tác thanh tra chuyên
ngành, kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết cán bộ
làm công tác thanh tra đều nắm được những nội dung
cơ bản về thanh tra chuyên ngành ATTP, trong dó có
một số nội dung thanh tra được nhiều cán bộ thanh tra
biết đến như việc thực hiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn
kỹ thuật, quy định về an toàn thực phẩm (98,3%). Việc
ghi nhãn sản phẩm (97%), việc tuân thủ quy định về
quảng cáo thực phẩm (94,8%), việc tuân thủ điều kiện
an toàn thực phẩm (93,5%). Tuy nhiên đối với một số
nội dung như thanh tra hoạt động chứng nhận hợp
chuẩn, hợp quy, thanh tra việc tuân thủ các quy định
về nhập khẩu thực phẩm số cán bộ thanh tra nắm
được còn ít hơn so với các nội dung khác, mới chỉ đạt
82,7%; 81,4%. Do vậy, trong thời gian tới khi Bộ Y tế,
Sở Y tế tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn cũng cần
xem xét, tăng cường sự quan tâm cho những nội dung
mà cán bộ thanh tra còn ít biết đến như đã nêu. Tỷ lệ
người được hỏi hiểu đúng còn thấp chủ yếu tập trung
hồ sơ thanh tra 47,2%). Như vậy, những nội dung về
trình tự tiến hành một cuộc thanh tra rất cần được
quan tâm tập huấn trong thời gian tới.
Về kiến thức, thực hành ATTP của chủ cơ sở thực
phẩm, kết quả điều tra cho thấy nhiều chủ cơ sở đã
biết về tên của Luật ATTP (82,7%), tuy nhiên các văn
bản dưới luật vẫn còn tỷ lệ đáng kể chưa biết (khoảng
50 – 70%). Việc tiếp cận của chủ cơ sở thực phẩm đối
với các quy định về thanh tra bao gồm nhiều hình thức
khác nhau từ việc tập huấn của cơ quan chức năng,
sách báo, truyền hình, internet , trong đó việc tiếp cận
qua các lớp tập huấn được ghi nhận nhiều nhất với tỷ
lệ 85,6%, tiếp đến là qua sách, báo, truyền hình 56,7%
và qua internet 37,2%. Hiểu biết của chủ cơ sở về
trách nhiệm của đơn vị được kiểm tra, thanh tra khi cơ
sở có Đoàn thanh tra đến thanh tra hầu hết là chưa
đầy đủ, trong đó nội dung về trách nhiệm của doanh
nghiệp được các chủ cơ sở hiểu biết với tỷ lệ cao nhất
là trách nhiệm tuân thủ quy định về ATTP (77,18%),
tiếp theo là trách nhiệm chấp hành nghiêm chỉnh các
yêu cầu, kiến nghị, quyết định, kết luận về kiểm tra,
Y HỌC THỰC HÀNH (886) - SỐ 11/2013
7
- Một số nội dung thuộc công việc chuẩn bị cho
một cuộc thanh tra được cán bộ thanh tra thực hành
đầy đủ ở mức thấp như phổ biến kế hoạch thanh tra
(72,7%), thông báo cho đối tượng thanh tra chuẩn bị
báo cáo theo đề cương (73,2%).
- Trong quá trình tiến hành thanh tra vẫn còn tỷ lệ
cán bộ làm công tác thanh tra thực hiện không đầy
đủ các thủ tục thuộc quy trình thanh tra với tỷ lệ từ 10
– 32% tùy theo từng nội dung.
- Kết thúc một cuộc thanh tra còn một số nội dung
như thông báo kết thúc việc thanh tra tại cơ sở; xử lý,
xử phạt vi phạm hành chính; xây dựng dự thảo kết
luận thanh tra; công bố kết luận thanh tra; rút kinh
nghiệm về hoạt động của Đoàn thanh tra; lập, bàn
giao hồ sơ thanh tra chỉ mới được thực hiện ở mức
dưới 60%, cá biệt còn một số vẫn tiếp tục trở lại cơ
sở để lấy số liệu khi không có yêu cầu của người có
thẩm quyền chiếm 5,2%.
- Hầu hết chủ cơ sở thực phẩm đã được biết đến
Luật ATTP (82,7%). Tuy nhiên, đối với các văn bản
chuyên sâu khác như nghị định của Chính phủ, các
thông tư, quyết định của các bộ ngành, tỷ lệ người
biết còn chưa nhiều (nghị định của Chính phủ 38,9%;
Thông tư, quyết định của các bộ, ngành 24,0%).
- Việc tiếp cận của chủ cơ sở thực phẩm đối với
các quy định về thanh tra qua các lớp tập huấn được
ghi nhận nhiều nhất với tỷ lệ 85,6%, tiếp đến là qua
sách, báo, truyền hình 56,7% và qua internet 37,2%.
- Hiểu biết của chủ cơ sở về trách nhiệm của đơn
vị được kiểm tra, thanh tra khi cơ sở có Đoàn thanh
3. Thanh tra Bộ Y tế, Báo cáo kết quả thanh tra
VSATTP các năm 2008; 2009; 2010; 2011.
4. Nguyễn Công Khẩn (2010), “Mô tả thực trạng tổ
chức hoạt động thanh tra an toàn thực phẩm tại các
cấp trong ngành y tế và đề xuất giải pháp nâng cao
năng lực thanh tra an toàn thực phẩm theo luật An
toàn thực phẩm”.
5. Trần Đáng, Lâm Quốc Hùng (2005), Nghiên
cứu cơ sở khoa học để đề xuất quy hoạch phát triển
mạng lưới quản lý VSATTP trong ngành y tế.
6. Trần Đáng, Lâm Quốc Hùng (2009), Nghiên
cứu thực trạng và nhu cầu về tổ chức hoạt động đào
tạo thanh tra ATVSTP ở các cấp năm 2009.
7. Trần Quang Trung (2001), Đánh giá thực trạng
tổ chức hoạt động và nhu cầu đào tạo thanh tra y tế
26 tỉnh, thành phố năm 2001.
8. Trần Quang Trung (2003), Đánh giá thực trạng
tổ chức, hoạt động và nhu cầu đào tạo thanh tra y tế
Y HỌC THỰC HÀNH (886) - SỐ 11/2013
8
địa phương năm 2003./.