TÊN ĐỀ TÀI:
HOẠT ĐỘNG THANH TRA CHUYÊN NGÀNH
TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC CỦA ĐỊA PHƯƠNG
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nền giáo dục nước ta trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu đáng
khích lệ, góp phần quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chất lượng giáo
dục ở nước ta hiện nay còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát
triển. Cùng với đó, tình trạng dạy thêm, học thêm vẫn còn tiếp diễn, tình trạng lạm
thu ở các bậc học đang gây nhiều bức xúc trong xã hội, vấn đề quy hoạch, thành
lập, nâng cấp các trường đại học, cao đẳng, liên kết đào tạo còn nhiều bất cập;
quản lý giáo dục còn nhiều lúng túng; công tác thanh tra, kiểm tra chưa thực sự
hiệu quả.
Để phát huy những thành tựu đã đạt được, cũng như khắc phục có hiệu quả
những yếu kém, để đưa sự nghiệp giáo dục và đào tạo phát triển, đáp ứng yêu cầu
của công cuộc đổi mới, tạo nển tảng đưa nước ta thành một nước công nghiệp theo
hướng hiện đại, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI định hướng: “Tiếp tục đổi
mới cơ chế quản lý giáo dục, đào tạo trên tinh thần tăng cường tính tự chủ, tự chịu
trách nhiệm của các cơ sở giáo dục, đào tạo. Thực hiện hợp lý cơ chế tự chủ đối
với các cơ sở giáo dục, đào tạo gắn với đổi mới cơ chế tài chính. Làm tốt công tác
xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển, quản lý mục tiêu, chất lượng giáo dục,
đào tạo. Phát triển hệ thống kiểm định và công bố công khai kết quả kiểm định
chất lượng giáo dục, đào tạo; tổ chức xếp hạng cơ sở giáo dục, đào tạo. Tăng
cường công tác thanh tra; kiên quyết khắc phục các hiện tượng tiêu cực trong giáo
dục, đào tạo…” 1
Với định hướng trên, Thanh tra giáo dục đóng vai trò quan trọng, như một
kênh để đánh giá chất lượng giáo dục. Tuy nhiên, hoạt động thanh tra giáo dục còn
gặp nhiều khó khăn như: bất cập, chồng chéo trong cơ chế quản lý giữa các ngành,
các cấp; các quy định của pháp luật chuyên ngành mâu thuẫn, chồng chéo; đối
tượng thanh tra đa dạng, phức tạp; phạm vi thanh tra rộng; tổ chức thanh tra chưa
phù hợp với trách nhiệm quản lý ngành… Để nâng cao hiệu quả, hiệu lực của hoạt
tại thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sỹ, Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh; Thái
Bỉnh Nghĩa (2010), Nâng cao hiệu quả thanh tra đất đai trong giai đoạn hiện nay,
Luận văn thạc sỹ, trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh; Bùi Ngọc Thanh Trung
(2011), Pháp luật về hoạt động thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực văn hóa,
Luận văn thạc sỹ, Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh;
Các công trình trên nghiên cứu nhằm làm rõ những vấn đề lý luận về thanh
tra, kiểm tra, giám sát ở Việt Nam; phân định phạm vi hoạt động giữa thanh tra với
kiểm tra, giám sát; phân biệt giữa hoạt động thanh tra hành chính và thanh tra
chuyên ngành; quá trình hình thành và phát triển của thanh tra chuyên ngành. Tập
trung lý giải những vấn đề về khái niệm, vị trí, vai trò của thanh tra, kiểm tra, giám
sát; đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của các cơ quan thanh tra chuyên
ngành. Lý giải những vấn đề về thực tiễn thi hành pháp luật thanh tra nói chung và
pháp luật thanh tra chuyên ngành nói riêng, bất cập, vướng mắc và giải pháp hoàn
2
thiện pháp luật thanh tra nói chung và pháp luật thanh tra chuyên ngành nói riêng,
các biện pháp tăng cường cơ chế quản lý ngành.
Luận án tiến sĩ luật học: Nguyễn Thị Thương Huyền (2009), Hoàn thiện
pháp luật thanh tra trong giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sỹ, Viện Nhà nước và
Pháp luật, Hà Nội.
Luận án đã có cách tiếp cận mới trong việc phân tích làm sáng tỏ cơ sở lý
luận của việc hoàn thiện pháp luật thanh tra với quan điểm là một chức năng của
quản lý nhà nước nhằm kiểm soát thực hiện quyền lực nhà nước trong hành pháp.
Pháp luật thanh tra với tính cách là một chế định của ngành Luật hành chính và
những đặc điểm, nội dung cơ bản của chúng. Luận án đã chỉ ra những tiêu chí xác
định đối tượng điều chỉnh của pháp luật thanh tra, đặc điểm của quan hệ pháp luật
thanh tra cũng như tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật thanh tra.
Luận án đã so sánh đối chiếu tổ chức và hoạt động thanh tra hành chính và chuyên
ngành của Việt Nam với một số quốc gia trên thế giới.
kiểm soát, xem xét để phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định.
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học: “Thanh tra” là “việc kiểm tra,
giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước của cơ
quan, tổ chức, cá nhân…”3. Theo Từ điển Luật học, “Thanh tra” là hoạt động “xem
xét để làm rõ việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước
của các cơ quan, tổ chức, cá nhân…”(4). Từ đó, Thanh tra được hiểu là hoạt động
nhằm nhận xét, làm rõ quá trình thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật,
nhiệm vụ của các chủ thể.
Còn Thanh tra chuyên ngành theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học: “Tổ
chức thanh tra thuộc bộ, sở có quyền thanh tra mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân
trong việc thực hiện chính sách, pháp luật liên quan tới chức năng quản lý nhà
nước chuyên ngành của bộ, sở.”5
Từ các khái niệm trên, thanh tra chuyên ngành được hiểu là việc xem xét,
làm rõ, ngăn chặn việc thực hiện chính sách, pháp luật liên quan tới chức năng
quản lý nhà nước chuyên ngành của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Khi có Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 đến trước thời điểm Luật Thanh tra
năm 2004 ban hành thì chưa có một khái niệm pháp lý đầy đủ về thanh tra chuyên
ngành. Sau khi có Pháp lệnh Thanh tra 1990, khái niệm thanh tra chuyên ngành
cũng chưa được khẳng định. Điều 1, Nghị định số 358/HĐBT ngày 28 tháng 9 năm
1992 của Hội đồng bộ trưởng quy định về tổ chức và hoạt động thanh tra giáo dục
(sau đây gọi tắt là Nghị định số 358/HĐBT) đưa ra một khái niệm chung về thanh
tra giáo dục như sau mà không thể hiện rõ như thế nào là hoạt động thanh tra
chuyên ngành: “Thanh tra giáo dục thực hiện quyền thanh tra Nhà nước về giáo
dục và đào tạo trong phạm vi cả nước nhằm tăng cường hiệu lực quản lý, bảo đảm
Viện ngôn ngữ học - Trung tâm từ điển học (1998), Từ điển tiếng Việt, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội,
tr.882.
3
Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, NXB Công an nhân dân, Hà
Nôi, tr 106.
4
được hiểu là: “là hoạt động thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước theo ngành,
lĩnh vực về giáo dục đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành chính
sách, pháp luật chuyên ngành về giáo dục, những quy định về chuyên môn – kỹ
thuật, quy tắc quản lý của ngành, lĩnh vực thuộc quyền quản lý về giáo dục”.
1.2.2. Đặc điểm hoạt động thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo
dục của địa phương.
Hoạt động thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục cũng là một chức
năng cơ bản và vô cùng thiết yếu của hoạt động quản lý nhà nước về giáo dục .
Theo quy định của Luật Giáo dục số 38/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm
2005 của Quốc hội khóa XI được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 44/2009/QH12 ngày
25 tháng 11 năm 2009 của Quốc hội khóa XII (sau đây viết tắt là Luật Giáo dục)
thì giáo dục bao gồm giáo dục và đào tạo. Giáo dục cũng được hiểu bao gồm việc
dạy và học và đôi khi nó cũng mang ý nghĩa như là quá trình truyền thụ, phổ biến
tri thức, truyền thụ sự suy luận đúng đắn, truyền thụ sự hiểu biết. Giáo dục là nền
tảng cho việc truyền thụ, phổ biến văn hóa từ thế hệ này đến thế hệ khác. Giáo dục
là phương tiện để đánh thức và nhận ra khả năng, năng lực tiềm ẩn của chính mỗi
cá nhân, đánh thức trí tuệ của mỗi người. Nó ứng dụng phương pháp giáo dục, một
5
phương pháp nghiên cứu mối quan hệ giữa dạy và học để đưa đến những rèn luyện
về tinh thần, và làm chủ được các mặt như: ngôn ngữ, tâm lý, tình cảm, tâm thần,
cách ứng xử trong xã hội. Theo từ "Giáo dục" tiếng Anh - "Education" - vốn có
gốc từ tiếng La tinh "Educare" có nghĩa là "làm bộc lộ ra". Có thể hiểu "giáo dục là
quá trình, cách thức làm bộc lộ ra những khả năng tiềm ẩn của người được giáo
dục".
Bất kỳ ở một giai đoạn lịch sử nào, giáo dục - đào tạo luôn đóng một vai trò
hết sức quan trọng đối với sự phát triển của mỗi cá nhân, tập thể, cộng đồng, dân
tộc và cả nhân loại. Giáo dục - đào tạo là chìa khoá, là động lực đối với sự phát
triển của xã hội.
6
trung học cơ sở, trung học phổ thông; giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên
nghiệp và dạy nghề; giáo dục đại học, sau đại học đào tạo trình độ cao đẳng, trình
độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ.
Giáo dục và đào tạo nước ta trong thập kỷ tới phát triển trong bối cảnh thế
giới có nhiều thay đổi nhanh và phức tạp. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế về
giáo dục đã trở thành xu thế tất yếu. Cách mạng khoa học công nghệ, công nghệ
thông tin và truyền thông, kinh tế trí thức ngày càng phát triển mạnh mẽ, tác động
trực tiếp đến sự phát triển của các nền giáo dục trên thế giới. Trong khi đó, quản lý
giáo dục vẫn còn nhiều bất cập, còn mang tính bao cấp, ôm đồm, sự vụ và chồng
chéo, phân tán; trách nhiệm và quyền hạn quản lý chuyên môn chưa đi đôi với
trách nhiệm, quyền hạn quản lý về nhân sự và tài chính. Hệ thống pháp luật và
chính sách về giáo dục thiếu đồng bộ, chậm được sửa đổi, bổ sung. Sự phối hợp
giữa ngành giáo dục và các bộ, ngành, địa phương chưa chặt chẽ. Vậy nên, vấn đề
đổi mới về quản lý giáo dục đặt ra hết sức bức thiết, trong đó có công tác thanh tra
giáo dục.
Giữa quan lý nhà nước về giáo dục và thanh tra chuyên ngành về giáo dục
có mối quan hệ mật thiết với nhau. Thế nên nội dung, phạm vi quản lý nhà nước
quyết định phạm vi, nội dung hoạt động thanh tra chuyên ngành về giáo dục. Và
thông qua hoạt động thanh tra chuyên ngành về giáo dục không chỉ giúp chủ thể
quản lý nhà nước về giáo dục phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, khiếm khuyết
của pháp luật chuyên ngành về giáo dục để kiến nghị với cơ quan nhà nước có
thẩm quyền biện pháp khắc phục nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi
phạm pháp luật mà còn giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định
của pháp luật chuyên ngành, các quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản
lý ngành; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt
động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp
trong lĩnh vực giáo dục;
10. Tổ chức, quản lý công tác hợp tác quốc tế về giáo dục;
11. Quy định việc tặng danh hiệu vinh dự cho người có nhiều công lao đối
với sự nghiệp giáo dục;
12. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục; giải quyết
khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục.
Từ đó, hoạt động thanh tra chuyên ngành về giáo dục nói chung và hoạt
động thanh tra chuyên ngành của địa phương có những đặc điểm sau:
Chủ thể thanh tra:
Sau khi có Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 thì lĩnh vực giáo dục đã có Nghị
định số 358-HĐBT, tại văn bản này đã quy định hệ thống thanh tra giáo dục gồm
Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT và “ở huyện và cấp tương đương, công tác thanh tra giáo
dục do Trưởng phòng Giáo dục - Đào tạo trực tiếp phụ trách” (khoản 3, Điều 3).
Thực hiện Luật Giáo dục, kế thừa Nghị định số 358-HĐBT, Nghị định số
85/2006/NĐ-CP khẳng định cơ quan thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo
dục là Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT nhưng ở văn bản này có một điểm mới là quy
định trách nhiệm phụ trách công tác thanh tra của Hiệu trưởng, thủ trưởng các
trường trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học: “… Hoạt động thanh tra giáo
8
dục trong cơ sở giáo dục đại học, trường trung cấp chuyên nghiệp do Hiệu trưởng,
thủ trưởng cơ sở trực tiếp phụ trách theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
Đào tạo.” (Điều 19, Nghị định số 85/2006/NĐ-CP).
Như vậy, chủ thể thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực của địa phương bao
gồm: Thanh tra Sở GD&ĐT, Trưởng phòng GD&ĐT, Hiệu trưởng các trường đại học,
cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp đóng trên địa bàn mỗi tỉnh.
Chủ thể thanh tra trong lĩnh vực giáo dục của địa phương có một điểm đặc
thù so với các chủ thể thanh tra chuyên ngành khác là có Trưởng phòng GD&ĐT,
Hiệu trưởng các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp đóng trên địa bàn
nhằm để giảm chi phí đào tạo, chạy theo tỷ lệ tốt nghiệp… dẫn đến nội dung giáo
dục bị bóp méo.
- Việc kiểm soát quy chế chuyên môn trong quá trình giảng dạy, đánh giá,
thi cử là nội dung thanh tra hết sức cần thiết. Vì việc thực hiện quy chế chuyên
môn không nghiêm túc sẽ dẫn đến những hệ lụy nghiêm trọng, phản ánh không
đúng thực chất chất lượng đào tạo, không đảm bảo sự công bằng, ảnh hưởng đến tư
chất của người học. Ví dụ: Vụ việc tiêu cực tại trường Trung học phổ thông Đồi
Ngô, tỉnh Bắc Giang trong kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2012.
- Văn bằng, chứng chỉ là một trong những vấn đề có tính thời sự. Nạn bằng
cấp giả đang tràn lan trong xã hội, len lõi khắp các ngành nghề và hành vi làm
bằng cấp giả ngày một tinh vi hơn thì nội dung thanh tra văn bằng, chứng chỉ là
một trong những biện pháp hữu hiệu hạn chế nạn bằng cấp giả.
- Thanh tra nội dung, phương pháp giảng dạy của giáo viên là một hoạt động
thanh tra đặc thù của thanh tra giáo dục. Đây là biện pháp nhằm tư vấn, thúc đẩy
năng lực sư phạm của giáo viên, ngăn ngừa việc giảng dạy tùy tiện ảnh hưởng đến
chất lượng giáo dục cho cả một thế hệ học sinh.
- Thanh tra các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục như: Diện tích khuôn
viên, cảnh quan, môi trường sư phạm; số lượng phòng học, phòng làm việc, phòng
thí nghiệm thực hành, phòng bộ môn, thư viện, phòng đa chức năng, phòng y tế,
bếp ăn tập thể, khu nội trú, bán trú, khu vực để xe, vệ sinh, sân chơi, bãi tập, nhà
đa chức năng, môi trường sư phạm, đội ngũ nhà giáo/quy mô người học, chương
trình, giáo trình… là nội dung thanh tra cần được quan tâm nhiều hơn trong hoàn
cảnh các trường tư thục ngày một nhiều trong khi việc đầu tư nhằm thực hiện các
cam kết khi thành lập trường còn nhiều hạn chế.
Tùy từng cấp học, bậc học, loại hình đào tạo mà chủ thể thanh tra căn cứ vào
các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh cụ thể về mục tiêu, kế hoạch, chương
trình, nội dung, phương pháp giáo dục, quy chế chuyên môn, quy chế đánh giá, xếp
loại nhà giáo và những quy định về điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục, đào tạo
để xác định các nội dung thanh tra tương ứng.
Ví dụ: Ở bậc học mầm non có những nội dung đặc trưng như: đồ dùng, đồ
nghiệp.
2. Nhận xét chung về hoạt động thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực
giáo dục của địa phương.
2.1. Những kết quả đạt được.
Thời gian qua, các Sở, Phòng GD&ĐT, cán bộ, giáo viên, nhân viên trong
ngành nhận thức ngày càng đầy đủ về công tác thanh tra giáo dục. Đội ngũ thanh
tra chuyên trách tương đối ổn định, có năng lực, kinh nghiệm, nhiệt tình, chủ động
trong hoạt động trên cơ sở chương trình, kế hoạch được phê duyệt. Cộng tác viên
thanh tra được bổ nhiệm theo nhiệm kỳ, được bồi dưỡng nghiệp vụ, chuyên môn,
đáp ứng nhiệm vụ được giao. Các Sở GD&ĐT đã tổ chức thực hiện hoàn thành kế
hoạch, chương trình công tác thanh tra năm học 2009-2010. Hoạt động thanh tra
11
thực hiện có chất lượng, nền nếp, hiệu quả. Qua thanh tra các cấp quản lý đã kịp
thời phát hiện, ngăn ngừa, chấn chỉnh những lệch lạc, xử lý những sai phạm. Hoạt
động thanh tra đã góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, quản lý dạy thêm, học
thêm đúng quy định, việc cấp phát, quản lý văn bằng chứng chỉ chặt chẽ, công tác
tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo kịp thời, đúng pháp luật, kỷ cương,
nền nếp của ngành được giữ vững.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ngày càng được hoàn thiện, cụ thể,
đầy đủ, đảm bảo cơ sở pháp lý cho hoạt động thanh tra, cụ thể: Nghị định số
85/2006/NĐ-CP, Thông tư 43/2006/TT- BGDĐT; Pháp lệnh xử lý vi phạm hành
chính được ban hành từ năm 2002 và đến năm 2005, lĩnh vực giáo dục đã có Nghị
định số 49/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 4 năm 2005 của Chính phủ quy định về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục (sau đây gọi tắt là Nghị định số
49/2005/NĐ-CP); Thông tư số 51/2006/TT-BGDĐT ngày 13 tháng 12 năm 2006
của Bộ GD&ĐT Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 49/2005/NĐCP ngày 11 tháng 4 năm 2005 của Chính phủ quy định về xử phạtvi phạm hành
chính trong lĩnh vực giáo dục và Nghị định số 40/2011/NĐ-CP ngày 08 tháng 6
năm 2011 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 49/2005/NĐ-CP ngày 11
chuyên nghiệp, trong đó có 272 trường trung cấp chuyên nghiệp, 204 trường cao
đẳng đào tạo trung cấp chuyên nghiệp, 86 trường đại học đào tạo trung cấp chuyên
nghiệp và 34 cơ sở khác đào tạo trung cấp chuyên nghiệp. 10
Kết quả thanh tra trong năm 2011-2012: 11
* Thanh tra toàn diện đơn vị
Năm học 2011- 2012 các Sở GD&ĐT đã thanh tra được 668 cơ sở giáo dục
đạt tỷ lệ 18%, các Phòng GD&ĐT đã thanh tra được 7519 cơ sở, đạt tỷ lệ 19%.
Các cuộc thanh tra toàn diện đơn vị đã triển khai theo đúng Thông tư 43/2006/TTBGDĐT ngày 20/10/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc Hướng dẫn thanh tra
toàn diện nhà trường, cơ sở giáo dục khác và thanh tra hoạt động sư phạm của giáo
viên. Tổ chức thanh tra đúng quy trình, kế hoạch và đảm bảo tiến độ đề ra. Trên cơ
sở các hoạt động giáo dục của nhà trường, Đoàn thanh tra đánh giá đúng thực
trạng, khẳng định những mặt đã làm được, nêu ra những hạn chế thiếu sót trong
công tác quản lý điều hành của lãnh đạo, thực hiện quy chế chuyên môn, kỷ cương,
nền nếp dạy học của giáo viên, kết quả rèn luyện văn hóa, đạo đức của học sinh.
Nhận xét, đánh giá của Đoàn là cơ sở để nhà trường phát huy ưu điểm, tìm giải
pháp khắc phục hạn chế thiếu sót, mặt khác giúp các cơ quan quản lý giáo dục có
phương án, quyết sách phù hợp trong việc phát triển giáo dục địa phương. Các
cuộc thanh tra toàn diện đơn vị góp phần quan trọng trong việc duy trì nền nếp và
nâng cao chất lượng hoạt động dạy và học trong các nhà trường hiện nay.
* Thanh tra hoạt động sư phạm của giáo viên.
Các Sở, Phòng GD&ĐT tổ chức thanh tra hoạt động sư phạm của giáo viên
theo các chuyên đề riêng hoặc lồng ghép trong cuộc thanh tra toàn diện đơn vị.
Không tổ chức cho Cộng tác viên thanh tra tiến hành thanh tra độc lập. Tổng số
giáo viên được thanh tra là 23.722, đạt tỷ lệ 14,5%. Các cuộc thanh tra được triển
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), Tài liệu hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2012 – 2013, NXB Giáo dục
Việt Nam, Hà Nội, tr 106-107.
11
Thanh tra Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), Tài liệu Hội nghị Triển khai nhiệm vụ thanh tra khối các Sở
Giáo dục và Đào tạo năm học 2012 – 2013, Hà Nội, tr 17-19.
10
quy định của Bộ GD&ĐT và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Công tác quản lý, thu, chi
ở các lớp dạy thêm, học thêm do nhà trường tổ chức được công khai minh bạch
theo đúng quy định.
Một số cơ sở giáo dục có giáo viên mở lớp dạy thêm, học thêm ngoài nhà
trường đã được chính quyền địa phương phối hợp cùng nhà trường quản lý nên
tránh được những hạn chế tiêu cực. Những cơ sở không có giấy phép dạy thêm,
học thêm trên địa bàn, các Đoàn thanh tra đã kiến nghị cơ quan quản lý giáo dục
phối hợp với chính quyền địa phương xử lý.
- Thanh tra việc cấp phát, quản lý, sử dụng văn bằng, chứng chỉ.
14
Tại các địa phương, việc thanh tra, kiểm tra công tác quản lý, cấp phát, sử
dụng văn bằng chứng chỉ được thực hiện thường xuyên, với hình thức lồng ghép
hoặc theo chuyên đề. Các Đoàn thanh tra đã kiểm tra việc: quản lý và sử dụng phôi
bằng; quản lý hồ sơ cấp phát; thực hiện quy trình cấp phát; quy định việc nhận
bằng thay; xử lý văn bằng viết sai, tồn đọng…Thông qua kiểm tra cho thấy công
tác quản lý, cấp phát văn bằng chứng chỉ ở các đơn vị theo đúng quy định tại quyết
định số 33/2007/QĐ-BGDĐT ngày 20/6/2007 của Bộ GD&ĐT.
Hầu hết các Sở, Phòng GD&ĐT có đủ hồ sơ cấp phát văn bằng, chứng chỉ
theo đúng mẫu. Các cơ sở giáo dục được hướng dẫn cụ thể nên hồ sơ sổ sách nhận
và cấp bằng tốt nghiệp cho học sinh đầy đủ, khoa học. Những văn bằng, chứng chỉ
có nghi vấn tiến hành phối hợp với Công an tỉnh, Sở Tư pháp xác minh. Kiên
quyết thu hồi, xử lý văn bằng, chứng chỉ bất hợp pháp.
* Thanh tra các kỳ thi.
Thực hiện kế hoạch thanh tra thi, các Sở GD&ĐT đã thành lập các đoàn
thanh tra thi. Kiểm tra việc quán triệt các văn bản chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, Ủy ban
nhân dân các tỉnh, thành phố và ban hành các văn bản chỉ đạo về công tác thi và
tuyển sinh.
Tiến hành thanh tra công tác chuẩn bị thi, coi thi, chấm thi, phúc khảo các
góp phần khẳng định tính chủ động, tích cực của cán bộ quản lý, giáo viên các cơ
sở giáo dục trong việc triển khai thực hiện nhiệm vụ năm học đồng thời nêu ra
những hạn chế thiếu sót để đơn vị có biện pháp khắc phục.
2.2. Những hạn chế, bất cập
2.2.1 Hạn chế về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
- Điều 37, Luật Thanh tra năm 2010 quy định hoạt động thanh tra thực hiện
theo các hình thức: thanh tra theo kế hoạch, thanh tra đột xuất, thanh tra thường
xuyên. Tuy nhiên, hình thức thanh tra thường xuyên chỉ áp dụng cho hoạt động
thanh tra của cơ quan được giao chức năng thanh tra chuyên ngành (khoản 3, Điều
37). Quy định như trên là không phù hợp với thực tiễn hoạt động thanh tra nói
chung và hoạt động thanh tra chuyên ngành nói riêng. Vì thực tế ngoài các cuộc
thanh tra theo kế hoạch thì cơ quan thanh tra cũng phải căn cứ vào tình hình nội bộ
của các đối tượng thanh tra để tiến hành các cuộc thanh tra thường xuyên nhằm kịp
thời chấn chỉnh các tồn tại của các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh
vực giáo dục, khi những diễn biến này chưa có dấu hiệu rõ của các hành vi vi
phạm pháp luật. Hơn nữa, trong lĩnh vực giáo dục không có cơ quan được giao
thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành.
- Thẩm quyền của thanh tra chuyên ngành của thanh tra Sở GD&ĐT theo
quy định của Luật Thanh tra là thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành,
quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý ngành, lĩnh vực của cơ quan,
tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của sở. Theo phân cấp quản lý có những cơ
quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực giáo dục thuộc thẩm quyền quản
lý của các Bộ, ngành hoạt động tại địa phương, khi có hành vi vi phạm thì Thanh
tra Sở không thể tiến hành thanh tra chuyên ngành để xử lý.
- Về giám sát hoạt động của Đoàn thanh tra: Theo Quy chế giám sát, kiểm
tra hoạt động của Đoàn thanh tra hiện hành thì sau khi thành lập Đoàn thanh tra,
người ra quyết định thanh tra phải giám sát Đoàn thanh tra hoặc cử người giám sát.
16
tra chưa được quy định cụ thể trong Nghị định số 85/2005/NĐ-CP.
- Thời hạn thanh tra toàn diện quy định tại khoản 3, mục 2, Thông tư số
43/2006/TT-BGDĐT là không phù hợp với Luật Thanh tra và tình hình thực tế của
một số địa phương.
- Năm 2004, Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư số 07/2004/TT-BGDĐT ngày
30/3/2004 về hướng dẫn thanh tra toàn diện trường phổ thông và thanh tra hoạt
17
động sư phạm của giáo viên phổ thông đã hướng dẫn khi thanh tra đánh giá có xếp
loại nhà trường, cơ sở giáo dục theo 4 mức: tốt, khá, đạt yêu cầu, chưa đạt yêu cầu
nhưng khi Thông tư số 43/2006/TT-BGDĐT thay thế Thông tư số 07/2004/TTBGDĐT không quy định việc đánh giá xếp loại. Qua thực tiễn thực hiện thanh tra
toàn diện tại các cơ sở giáo dục trong những năm qua nếu khi đánh giá chỉ mang
tính tư vấn, thúc đẩy mà không xếp loại sẽ làm hạn chế nhiều đến hiệu quả, hiệu
lực của kết luận thanh tra.
- Thẩm quyền ra Quyết định thanh tra thi tốt nghiệp trung học phổ thông quy
định tại khoản 2, Điều 41, Thông tư số 10/2012/TT-BGDĐT ngày 06 tháng 3 năm
2012 của Bộ GD&ĐT quy định về quy chế thi tốt nghiệp không phù hợp với Luật
Thanh tra và Quyết định số 41/2006/QĐ-BGDĐT ngày 16 tháng 10 năm 2006 của
Bộ GD&ĐT ban hành quy định tổ chức và hoạt động thanh tra các kỳ thi.
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành thường xuyên thay
đổi, thiếu tính ổn định. Có một số quan hệ pháp luật phát sinh không điều chỉnh
kịp thời ví dụ như: liên kết đào tạo, tin học ngoại ngữ…
- Các Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục quy
định còn nhiều sơ hở, chưa toàn diện nên có những hành vi vi phạm không thể xử
lý. Ví dụ: hành vi tổ chức thi lấy chứng chỉ ngoại ngữ có yếu tố nước ngoài.
- Thực tế hiện nay, mỗi địa phương vận dụng Thông tư số 28/2009/TTBGDĐT ngày 21 tháng 10 năm 2009 của Bộ GD&ĐT Quy định chế độ làm việc
với giáo viên phổ thông để thực hiện chế độ thanh tra cho đỗi ngũ Cộng tác viên
thanh khác nhau và Thông tư này chỉ điều chỉnh đối với đội ngũ Cộng tác viên
thanh tra phổ thông còn đội ngũ Cộng tác viên thanh tra bậc học mầm non vẫn
chưa đảm bảo tính toàn diện. Một số Cộng tác viên thanh tra lâu năm còn thể hiện
những nhận xét, đánh giá mang tính áp đặt bởi kinh nghiệm tạo cho đối tượng
được thanh tra tâm lý căng thẳng, lo sợ, thậm chí chán nản.
Theo quy định, các Cộng tác viên thanh tra không đủ điều kiện là Thanh tra
viên để thực hiện việc thanh tra độc lập, trong một thời gian dài họ phải đi thanh
tra độc lập để đánh giá hoạt động sư phạm của nhà giáo, từ khi có Luật thanh tra
năm 2010 thì năm học 2011-2012 Thanh tra Bộ GD&ĐT mới có hướng dẫn trong
kế hoạch thanh tra năm học là Cộng tác viên thanh tra không phải đi thanh tra độc
lập.
Hiện nay, do yêu cầu của công tác thanh tra tại địa phương kể từ khi có Pháp
lệnh thanh tra năm 1990, ngành giáo dục đã vượt rào bằng các Nghị định về tổ
chức và hoạt động thanh tra (Nghị định số 358/HĐBT ngày 28/9/1992; Nghị định
số 101/2002/NĐ-CP ngày 10/12/2002; Nghị định số 85/2006/NĐ-CP và Luật hóa
ở trong Luật Giáo dục năm 1997 theo đó khẳng định sự tồn tại chức năng thanh tra
ở Phòng GD&ĐT mà không xác định được tổ chức của nó. Người phụ trách công
tác thanh tra tại các phòng GD&ĐT chưa được đào tạo thường xuyên về nghiệp vụ
công tác thanh tra, khối lượng công việc liên quan đến công tác thanh tra rất nhiều,
biên chế giao cho các phòng GD&ĐT ít nên cán bộ thanh tra phải kiêm nhiệm
nhiều, cán bộ làm công tác này không ổn định mà thường xuyên bị thay đổi, luân
chuyển và chưa có chế độ khuyến khích cho đội ngũ này dẫn đến hiệu quả công
việc thấp. Trong khi đó bản thân Phòng GD&ĐT lại quản lý hàng chục thậm chí là
hàng trăm đơn vị trường học, hàng ngàn cán bộ, giáo viên chưa kể là trong giai
19
đoạn hiện nay các nhóm trẻ dân lập thành lập ngày một nhiều. Xin lấy đơn cử tại
Phòng GD&ĐT thành phố Biên Hòa, Đồng Nai: cán bộ phụ trách công tác thanh
tra là người tham mưu cho Trưởng phòng về công tác thanh tra nhưng chưa qua
bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra viên chuyên ngành, các đơn vị trực thuộc nhiều (tại
Phòng GD&ĐT Biên Hòa đơn vị trực thuộc: mầm non 53, tiểu học 52, trung học
thanh tra; dự kiến thành phần tham gia Đoàn thanh tra, tham mưu cho lãnh đạo lực
chọn hoặc đề nghị cơ quan, đơn vị trường học cử công chức, viên chức có chuyên
20
môn, nghiệp vụ phù hợp với nhiệm vụ thanh tra để tham gia với tư cách là cộng tác
viên thanh tra; giúp Trưởng đoàn soạn thảo quyết định, kế hoạch thanh tra trình
người có thẩm quyền duyệt, ký; sau đó soạn thảo xây dựng đề cương hướng dẫn
đối tượng thanh tra báo cáo, dự kiến thời điểm công bố quyết định thanh tra, lịch
trình thanh tra; khẩn trương gửi quyết định thanh tra và các tài liệu kèm theo đến
đối tượng thanh tra và các thành phần khác có liên quan đến nội dung thanh tra,
tham mưu cho Trưởng đoàn phân công nhiệm vụ cho các thành viên Đoàn thanh
tra.
Trong suốt thời gian thanh tra, ngoài việc trực tiếp thu thập tài liệu chứng
cứ, Thư ký Đoàn thanh tra là người tập hợp số liệu, lập các loại biên bản thanh tra,
như: Biên bản công bố quyết định thanh tra, công bố kết luận thanh tra, biên bản
thu giữ tài liệu, biên bản làm việc, biên bản vi phạm của đối tượng thanh tra, soạn
thảo các văn bản khác theo yêu cầu của cuộc thanh tra và chỉ đạo của Trưởng đoàn
thanh tra. Kết thúc thanh tra căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được, đối
chiếu với các văn bản pháp luật và quy định hiện hành của cơ quan quản lý nhà
nước có thẩm quyền, Thư ký Đoàn thanh tra giúp Trưởng đoàn soạn thảo báo cáo
kết quả thanh tra, dự thảo kết luận thanh tra, tổ chức lấy ý kiến của các thành viên
trong Đoàn trước khi trình người có thẩm quyền xem xét, ký thông qua. Thư ký
Đoàn thanh tra phải thường xuyên liên hệ với đối tượng thanh tra để yêu cầu đối
tượng thanh tra chấp hành đúng lịch trình và nội dung làm việc theo kế hoạch, yêu
cầu đối tượng chuẩn bị hồ sơ, tài liệu, sắp xếp thời gian làm việc với Đoàn thanh
tra.
Ngoài việc thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn được giao, Thư ký Đoàn
thanh tra phải là sợi dây gắn kết các thành viên, duy trì sự đoàn kết nhất trí xung
quanh lãnh đạo Đoàn, đảm bảo các nguyên tắc hoạt động thanh tra theo quy định
thanh tra thực hiện nhiệm vụ khi được Sở, Phòng GD&ĐT điều động.
- Chất lượng kết luận, kiến nghị thanh tra còn thấp, tính khả thi chưa cao.
Công bố kết luận thanh tra không được tổ chức triển khai, thực hiện đối với các
cuộc thanh tra toàn diện, thanh tra chuyên đề, cụ thể tại tỉnh Đồng Nai trong năm
học 2011-2012, tổng số cuộc thanh tra toàn diện theo thông tư số 43/2006/TTBGDĐT do Thanh tra Sở, các Phòng GD&ĐT trên địa bàn tỉnh Đồng Nai thực
hiện là: 167 nhưng chỉ có 02 cuộc thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành
đối với phòng GD&ĐT thực hiện việc công bố kết luận thanh tra. 12 Việc công khai
kết luận thanh tra theo Luật Thanh tra năm 2010 hầu như không được thực hiện,
người ra kết luận thanh tra giao cho đối tượng thanh tra công bố tại đơn vị thông
qua các cuộc họp.
- Khi thực hiện các trình tự, thủ tục xử lý sau thanh tra, kể từ khi có quyết
định xử lý về thanh tra thì chủ yếu là theo dõi, chờ sự tự giác thực hiện của đối
tượng thanh tra.
- Chưa xử lý được một số đối tượng thanh tra không chấp hành kết luận,
kiến nghị, cố tình báo cáo không trung thực, các kiến nghị chưa được theo dõi, đôn
đốc, chỉ đạo quyết liệt.
Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đồng Nai (2012), Báo cáo số 1037/BC-SGDĐT Về Tổng kết công tác
thanh tra năm học 2011-2012, Đồng Nai.
12
22
- Việc xử lý vi phạm hành chính của địa phương còn rất ít: Pháp lệnh xử lý
vi phạm hành chính được ban hành từ năm 2002 và đến năm 2005, lĩnh vực giáo
dục đã có Nghị định số 49/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 4 năm 2005 của Chính phủ
quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục (sau đây viết tắt là
Nghị định số 49/2005/NĐ-CP); Thông tư số 51/2006/TT-BGDĐT ngày
13/12/2006 của Bộ GD&ĐT Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số
23
3. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra chuyên ngành trong
lĩnh vực giáo dục của địa phương.
3. 1 Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật.
- Luật Thanh tra năm 2010 bổ sung hình thức thanh tra thường xuyên cho cơ
quan thanh tra nhà nước theo ngành, lĩnh vực.
- Để phát huy được mục đích, ý nghĩa của việc giám sát, kiểm tra hoạt động
của Đoàn Thanh tra thì Quy chế giám sát phải quy định thêm một tổ chức độc lập
thực hiện chức năng giám sát hoạt động thanh tra hoặc có thể bổ nhiệm một đội
ngũ làm công tác giám sát kiêm nhiệm được tập huấn sâu về nghiệp vụ thanh tra và
có trình độ am hiểu về lĩnh vực được thanh tra.
- Làm rõ khái niệm thanh tra giáo dục và phân định rõ nội dung hoạt động
thanh tra chuyên ngành quy định tại Nghị định số 85/2006/NĐ-CP.
- Sửa đổi, bổ sung các điều, khoản quy định về nguyên tắc hoạt động thanh
tra quy định tại khoản 1, Điều 3; nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1, Điều
6, khoản 1, Điều 8, khoản 1, Điều 9, khoản 1, Điều 10 và quy định về quyền, nghĩa
vụ, trách nhiệm, mối quan hệ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động
thanh tra giáo dục quy định tại Chương V, Nghị định số 85/2006/NĐ-CP để bảo
đảm phù hợp với Luật Thanh tra năm 2010 và các Nghị định hướng dẫn chi tiết
Luật Thanh tra năm 2010. Nếu tiếp tục quy định thẩm quyền thanh tra giáo dục
cho Trưởng phòng GD&ĐT nên bổ sung trong Nghị định số 85/2006/NĐ-CP về
nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Trưởng phòng GD&ĐT trong hoạt động thanh tra.
- Cần quy định Trưởng đoàn thanh tra được ban hành kết luận thanh tra, vì
Trưởng đoàn thanh tra là người lãnh đạo đoàn và trực tiếp tiến hành cuộc thanh tra,
do đó, hơn ai hết, Trưởng đoàn thanh tra là người hiểu rõ nội dung vụ việc và thấy
cần kết luận như thế nào trên cơ sở quy định của pháp luật. Trên cơ sở đó Điều 50
Luật Thanh tra năm 2010 quy định trách nhiệm ban hành kết luận thanh tra do
người ban hành quyết định thanh tra, theo cá nhân tôi, là chưa hợp lý vì đây không
tượng thanh tra làm tốt tiếp tục phát huy, những đối tượng thanh tra có hạn chế yếu
kém mới đạt yêu cầu sẽ phải cố gắng học hỏi, để khắc phục những hạn chế yếu
kém để đối mới vươn lên.
- Bổ sung quy định thống nhất mức chi bồi dưỡng cho Cộng tác viên thanh
tra khi tham gia Đoàn thanh tra tại Thông tư số 28/2009/TT-BGDĐT ngày 21
tháng 10 năm 2009 của Bộ GD&ĐT Quy định chế độ làm việc với giáo viên phổ
thông. Quy định thêm mức chi bồi dưỡng đối với Cộng tác viên thanh tra khối
mầm non. Việc đảm bảo kinh phí cho Cộng tác viên thanh tra sẽ phần nào đáp ứng
được công sức của họ, do đó khích lệ động viên các Cộng tác viên thanh tra làm
việc trách nhiệm, nhiệt tình hơn góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra.
- Căn cứ các quy định của pháp luật về thanh tra giáo dục, Chính phủ cần
ban hành Nghị định hoặc bổ sung trong Nghị định 85/2006/NĐ-CP quy định về
phân cấp trong hoạt động thanh tra giáo dục để phù hợp với Nghị định số
115/2010/NĐ-CP.
- Sửa đổi thẩm quyền ra Quyết định thanh tra thi tốt nghiệp trung học phổ
thông tại Thông tư số 10/2012/TT-BGD&ĐT là do Giám đốc Sở ra quyết định để
25