Du lịch Tam Đảo và vấn đề phát triển bền vững - Pdf 14

Lời nói đầu
Như ta đã biết, vấn đề ô nhiễm môi trường và sự tàn phá tài nguyên ở
các điểm du lịch của Việt Nam đang là vấn đề đáng báo động. Việc làm du
lịch theo kiểu “ Bóc ngắn cắn dài”, “Ăn sổi ở thì”, chạy theo lợi nhuận trước
mắt mà con người đã có những tác động xấu vào thiên nhiên, làm bị tàn phá,
tài nguyên du lịch ngày càng bị cạn kiệt. Tài nguyên du lịch là nhân tố quan
trọng tạo nên sản phẩm du lịch. Vẻ đẹp và giá trị của tài nguyên thiên nhiên là
một lý do để lôi cuốn du khách đi du lịch. Việc mất dần tài nguyên du lịch sẽ
làm cho hoạt động du lịch không thể phát triển được. Như ta đã biết, du lịch là
một ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam, đó là ngành xuất khẩu tại chỗ đem
lại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước. Việc phát triển ngành du lịch cũng một
phần góp sức làm cho dân giàu nước mạnh. Du lịch còn là thước đo cho đời
sống vật chất và tinh thần của người dân. Bất kỳ quốc gia nào trên thế giới
cũng muốn phát triển ngành du lịch của minh. Đối với đất nước ta, để phát
triển du lịch trước hết chúng ta cần bảo vệ tài nguyên du lịch, làm du lịch một
cách bền vững. Một trong những cách lam đó là du lịch sinh thái. Đây là loại
hình du lịch tác động đến môi trường một cách thấp nhất cho phép mà vẫn
đảm bảo được lợi ích của con người mà vẫn đảm bảo cho tự nhiên xã hội phát
triển.
Tam Đảo là một điểm du lịch đang áp dụng loại hình du lịch sinh thái.
Tam Đảo được thiên nhiên ban tặng cho nhiều tài nguyên du lịch, là địa
phương có đầy đủ các yếu tố để phát triển du lịch. Trên các phương tiện
truyền thong hiện nay đề cập rất nhiều đến các vấn đề về cách làm du lịch
sinh thái ở Tam Đảo, vậy chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu cách làm du lịch ở
đây qua bài nghiên cứu “Du lịch Tam Đảo và vấn đề phát triển bền vững”.
1
I. Cơ sở lý luận về phát triển bền vững.
Môi trường sống của con người là môi trường tự nhiên – xã hội. Môi
trường sinh thái là môi trường có lien quan trực tiếp đến sự sống của con
người và xã hội. Do vậy, vấn đề môi trường sinh thái mà ngày nay con người
đang tập trung nghiên cứu để đưa ra phương án tối ưu giải quyết nó, thực chất

còn ngược lại, hiệu quả kinh tế được nâng cao lên thì thường hay kèm với các
hiệu quả tiêu cực về mặt sinh thái. Việc tìm kiếm con đường để giải quyết
mâu thuẫn này cũng chính là quá trình tìm kiếm cách thức kết hợp mục tiêu
kinh tế và mục tiêu sinh thái trong nền sản xuất kinh tế xã hội
1.3. Môi thuẫn kinh tế - sinh thái.
Mâu thuẫn này xuất hiện trong quá trình con người sửa chữa những
khuyết điểm trong hoạt động kinh tế của mình, mà những sai lầm đó đã từng
tác động tiêu cực lên tự nhiên. Những giải pháp sinh thái thường làm giảm
hiệu quả kinh tế của nền sản xuất hiện có, nhưng nhìn trên bình diện lâu dài
thì việc làm này hết sức cần thiết. Vì con người không thể sống thiếu những
điều kiện tự nhiên tối cần thiết đối với cuộc sống của một sinh vật như: nước,
không khí, ánh sang… sau đó mới tính đến nhu cầu của một thực thể sống
như các tiện nghi, các điều kiện văn hoá, tinh thần… Đối với cuộc sống của
con người, sự tồn tại của xã hội, của các điều kiện kinh tế là rất quan trọng và
cần thiết, song chưa phải là tất cả.
Con người cần quan tâm và tìm cách giải quyết các mâu thuẫn này,
điều hoà chúng để tiếp tục tồn tại và phát triển lâu bền.
1.4. Cơ sở triết học – xã hội của mối quan hệ “ Con người – xã hội -
tự nhiên”
Xung quanh chúng ta tồn tại nhiều hệ thống lớn nhỏ khác nhau, song
lớn nhất và bao phủ lên tất cả là hệ thống “ tự nhiên – con người – xã hội”. Hệ
thống đó không phải hình thành một cách ngẫu nhiên mà ngay từ đầu đã là
một hệ thống hoàn chỉnh với đầy đủ ba yếu tố, các yếu tố này gắn liền với quá
trình tiến hoá của sinh quyển và lịch sử phát triển của xã hội loài người.
3
1.4.1. Yếu tố tự nhiên:
Theo nghĩa rộng, tự nhiên là toàn bộ thế giới vật chất tồn tại khách
quan. Theo nghĩa này thì con người và xã hội là những bộ phận của tự nhiên,
hơn nữa là những bộ phận không thể tách rời và đặc thù của tự nhiên. Đồng
thời tự nhiên còn được hiểu theo nghĩa hẹp: là đối tượng nghiên cứu của khoa

là môi trường sống của con người và xã hội loài người, là điều kiện đầu tiên,
thường xuyên và tất yếu của quá trình sản xuất ra của cải vật chất, là một
trong những yếu tố cơ bản nhất của tồn tại xã hội. Chỉ có tự nhiên mới cung
cấp đầy đủ nhất những điều kiện tối cần thiết cho sự sống của con người và
những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. “ Công nhân
không thể sang tạo ra cái gì hết nếu không có giới tự nhiên,…, nếu không có
thế giới hữu hình bên ngoài. Đó là vật liệu trong đó lao động của anh ta được
thực hiện, trong đó lao động của anh ta tác động, từ đó và nhờ đó, lao động
của anh ta sản xuất ra sản phẩm” – C. Mac_ Angel tuyển tập I. Dù xã hội có
đạt đến mức độ phát triển cao nhất, con người cũng không bao giờ có thể bỏ
được tự nhiên. Ngược lại, xã hội càng phát triển con người càng cần đến tự
nhiên, càng gắn bó chặt chẽ với tự nhiên. Thông qua quá trình hoạt động thực
tiễn, trước hết là quá trình lao động con người cải tạo và biến đổi tự nhiên,
biến đổi cho phù hợp với nhu cầu sống của mình, tạo ra của cải vật chất cho
xã hội.
Trong hệ thống tự nhiên – con người – xã hội, con người giữ vai trò đặc
biệt quan trọng vì con người là kẻ trực tiếp thực hiện sự thống nhất giữa xã
hội và tự nhiên, đồng thời là sự hiện than của sự thống nhất đó.
1.4.4 Ý nghĩa rút ra từ nguyên lý thống nhất vật chất của thế giới đối với
việc giải quyết các vấn đề sinh thái hiện nay.
Trên cơ sở nhận thức được vị trí của con người và xã hội trong hệ
thống, nắm bắt được cội nguồn của sự thống nhất và cơ chế hoạt động, để
đảm bảo sự thống nhất đó, con người cần phải tìm ra phương cách thích hợp,
cần thiết để giải quyết những mâu thuẫn giữa xã hội và tự nhiên.
5
Phải có quan điểm hệ thống, quan điểm toàn diện và phát triển trong
việc giải quyết các vấn đề sinh thái hiện nay.
Sự thống nhất của ba yếu tố: tự nhiên – con người – xã hội trong hệ
thống là tất yếu, khách quan và vốn có. Con người phải có trách nhiệm thiết
lập lại sự thống nhất đó để tạo nên sự hài hoà giữa tự nhiên và xã hội.

Khi tác động lên tự nhiên và biến đổi nó, con người luôn đặt ra cho
mình mục đích có tính chất vật chất nhằm phát triển nền sản xuất của xã hội
để không ngừng thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người và sự phát
triển của xã hội. Với mục đích đó con người lao vào khai thác tự nhiên bất
chấp quy luật tồn tại và phát triển của nó. Trong thời gian qua, nền sản xuất
của các quốc gia trên thế giới đã “ tiêu xài” một cách quá phung phí nguồn
vốn quan trọng vào bậc nhất - nguồn tài nguyên không tái tạo được. Mặc dù
vẫn thừa nhận các nguồn tài nguyên tự nhiên là nguồn vốn nhưng vì không
phải mất chi phí hoặc mất ít chi phí mà có được nên con người thường quy
chúng vào là thu nhập, điều này làm cho tài nguyên bị khai thác và sử dụng ồ
ạt, lãng phí dẫn đến cạn kiệt nguồn tài nguyên.
Để giải quyết mâu thuẫn này, tiến đến xây dựng mối quan hệ hài hoà
giữa tụ nhiên – xã hội, con người phải tái sản xuất môi trường sống. Quá trình
này trước hết phải được bắt đầu từ chính ngay trong phương thức sản xuất,
bằng cách đưa nền sản xuất xã hội hoà nhập như một khâu tụ nhiên của chu
trình sinh học. Do đó phải thay đổi phương thức sử dụng các nguồn tài
nguyên tự nhiên từ bề rộng sang bề sâu, cố gắng sử dụng tối đa các tính năng
của nó, dể cuối cùng, nền sản xuất xã hội chỉ thải ra khỏi quá trình sản xuất
những chất mà tự nhiên có thể tiếp thu và sử lý được.
c. Kết hợp các mục tiêu kinh tế và mục tiêu sinh thái.
Kinh nghiệm thực tế của các nước công nghiệp phát triển cho thấy,
những thiệt hại về kinh tế do sự ô nhiễm môi trường tự nhiên đem lại và chi
phí để khắc phục lớn hơn nhiều so với chi phí chủ động ngăn chặn ngay từ
đầu sự ô nhiễm. Đồng thời, việc ngăn chặn sự ô nhiễm dễ dàng hơn việc thủ
7
tiêu những hậu quả của nó. Do đó, đầu tư bảo về môi trường trong mọi trường
hợp đều mang lại lợi ích kinh tế to lớn, đồng thời lại cải thiện và bảo toàn
được chất lượng môi trường sống. Chủ động bảo vệ môi trường vừa đạt được
mục tiêu kinh tế, vừa đạt được mục tiêu sinh thái. Một trong những biện pháp
quan trọng nhất để kết hợp mục tiêu kinh tế với mục tiêu sinh thái là thực hiện

tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo, nâng
cao đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số, tăng cường, củng cố quốc phòng,
an ninh trên địa bàn tỉnh. Mục tiêu của tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn từ
2005 – 2010 là: “ Tập trung mọi nguồn lực, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng
kinh tê, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng lấy kinh tế du lịch làm mũi
nhọn, làm động lực thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế khác. Nhanh chóng
khắc phục tình trạng kinh tế thuần nông, tạo tiền đề cho phát triển bền vững.
Phấn đấu đến năm 2010 Tam Đảo cơ bản trở thành huyện du lịch, đến năm
2020 trở thành huyện du lịch trọng điểm, tạo động lực phát triển kinh tế của
tỉnh và khu vực…". Như vậy có thể thấy được rằng lãnh đạo tỉnh Vĩnh Phúc
đã chọn du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn để xây dựng và phát triển Tam Đảo
và tỉnh Vĩnh Phúc.
Ngày 06 - 03- 1996, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 136/TTg
về việc phê duyệt “ Dự án khả thi đầu tư xây dựng Vườn quốc gia Tam
Đảo”. Ngày 15 - 05- 1996 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp &PTNT đã có quyết
định số 601 NN- TCCB/QĐ về việc thành lập VQG Tam Đảo trực thuộc Bộ
Nông nghiệp &PTNT.Hiện nay VQG Tam Đảo có diện tích 34.995 ha , nằm
trọn trong dãy núi Tam Đảo và trên địa bàn của 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Thái
Nguyên và Tuyên Quang. Vườn hiện có 26.163 ha rừng - chủ yếu là rừng tự
nhiên mưa ẩm thường xanh, độ che phủ chiếm trên 70 % tổng diện tích toàn
Vườn. Thú rừng có chừng 45 loài, trong đó có rất nhiều loài quý hiếm như hổ,
báo, gấu, sóc bay, chồn mực ... Về chim, có tới 120 loài, hầu hết là các chim
ăn sâu bọ. Nhiều loài chim cảnh màu sắc rực rỡ như vàng anh, sơn tiêu trắng,
sơn tiêu đỏ hoặc có giọng hót rất hay như hoạ mi, khướu bách thanh. Các
9
giống chim quý này làm tăng thêm vẻ đẹp tự nhiên của núi rừng Tam Đảo.
Rừng tự nhiên ở đây bao gồm hai kiểu chính là rừng thường xanh đất thấp và
rừng thường xanh núi thấp. Rừng thường xanh đất thấp phân bố ở độ cao từ
700 đến 800 m. Tính đa dạng các loài cây gỗ ở kiểu rừng này rất cao với rất
nhiều đại diện của các họ Đậu Fabaceae, Dầu Dipterocarpaceae, Xoan

Thiên nhiên đã ban tặng cho Tam Ðảo một khung cảnh tuyệt vời: vừa
thơ mộng, vừa hùng vĩ, sự huyền ảo của mây gió, sương khói vờn trên đỉnh
núi rồi sà xuống những thảm cỏ, những mái ngói đỏ trên sườn núi. Tam Ðảo
là một dãy núi dài khoảng 80km theo hướng tây bắc - đông nam, rộng từ 10 -
15km, là khu nghỉ mát ở núi lý tưởng của miền Bắc. Tam Đảo có diện tích
253ha nằm trên độ cao 900m so với mặt biển. Từ thành phố Vĩnh Yên, tỉnh
Vĩnh Phúc sau 1 giờ xe chạy là lên tới Tam Ðảo. Thêm 20km đường dốc,
lượn qua các sườn núi thông mọc thẳng tắp nhìn lên cao vút, mờ mờ ẩn hiện
Tam Ðảo trong sương.
Núi Tam Đảo có 3 đỉnh nổi lên như 3 hòn đảo: đỉnh giữa có tên Bàn
Thạch cao 1.388m; bên trái là đỉnh Thiên Nhị (chợ trời) cao 1.375m, trên có
tháp truyền hình cao 93m, bên phải là đỉnh Phù Nghĩa cao 1.400m.
Thị trấn Tam Ðảo rộng hơn 300ha, nằm gọn trong một thung lũng nhỏ
của dãy Tam Ðảo, đồng thời cũng là một trong những vườn quốc gia lớn nhất
miền Bắc. Khí hậu ở đây rất độc đáo, bốn mùa trong một ngày. Buổi sáng se
se gió xuân, buổi trưa nóng ấm mùa hạ, buổi chiều lãng đãng heo may mùa
thu, buổi tối lạnh giá của đông. Với khí hậu đặc biệt như vậy, Tam Đảo rất có
sức lôi cuốn du khách đến thăm quan và nghỉ dưỡng.
Ðầu thế kỷ 20, người Pháp đã phát hiện ra Tam Ðảo, xây dựng ở nơi
đây thành khu nghỉ mát với 200 biệt thự, khách sạn, nhà hàng, sân chơi thể
thao, bể bơi, sàn nhảy.
Ðường đi lên núi Tam Đảo tuy hơi vất vả nhưng rất đẹp. Hai bên đường
hoa phong lan, hoa cúc quì và các loài hoa dại nở đầy lối đi, toả hương thơm
rất lạ, màu sắc rực rỡ... cộng thêm không biết bao nhiêu là bướm đủ loại rập
11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status