Luận văn Thạc sỹ KTCT: KHU VỰC KINH TẾ CÓ VỐN ĐTTTNN VÀ VẤN ĐỀ
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
CAO THỊ LỆ KHU VỰC KINH TẾ CÓ VỐN ĐẦU TƢ
TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI
VÀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ HÀ NỘI – 2008
HÀ NỘI – 2008
Luận văn Thạc sỹ KTCT: KHU VỰC KINH TẾ CÓ VỐN ĐTTTNN VÀ VẤN ĐỀ
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
iv
DANH MỤC CÁC HÌNH
v
DANH MỤC CÁC HỘP
v
MỞ ĐẦU
vi
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KHU VỰC KINH
TẾ CÓ VỐN ĐTTTNN VÀ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
1
1.1. Khái luận về phát triển bền vững
1
1.1.1. Khái niệm Phát triển bền vững
1
1.1.2. Các yếu tố cơ bản cấu thành sự phát triển bền vững.
3
38
2.2.1. Tác động của khu vực kinh tế có vốn ĐTTTNN đến phát
triển kinh tế bền vững
38
2.2.2. Tác động của khu vực kinh tế có vốn ĐTTTNN tới vấn đề
xã hội.
54
2.2.3. Tác động của khu vực kinh tế có vốn ĐTTTNN tới bền
vững môi trường
61
Luận văn Thạc sỹ KTCT: KHU VỰC KINH TẾ CÓ VỐN ĐTTTNN VÀ VẤN ĐỀ
2
2.3. Đánh giá chung về tác động của khu vực kinh tế có vốn ĐTTTNN
tới phát triển bền vững và một số nguyên nhân
68
2.3.1. Dưới góc độ bền vững kinh tế.
68
2.3.2. Dưới góc độ bền vững xã hội
71
2.3.3. Dưới góc độ bền vững môi trường
75
2.3.4.Những nguyên nhân cơ bản gây nên những tác động tiêu
cực cho sự phát triển bền vững
77
Chương 3. ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÕ
CỦA KHU VỰC KINH TẾ CÓ VỐN ĐTTTNN VỚI THỰC HIỆN
MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI VIỆT NAM
KẾT LUẬN
103
TÀI LIỆU THAM KHẢO
105 Luận văn Thạc sỹ KTCT: KHU VỰC KINH TẾ CÓ VỐN ĐTTTNN VÀ VẤN ĐỀ
3
DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN
Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á
CNH, HĐH
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CIEM
Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung
ương
DN
Doanh nghiệp
ĐTTTNN
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
ĐNNN
Đầu tư nước ngoài
ĐTXH
Đầu tư xã hội
ĐBSH
Đồng bằng Sông Hồng
Luận văn Thạc sỹ KTCT: KHU VỰC KINH TẾ CÓ VỐN ĐTTTNN VÀ VẤN ĐỀ
4
DANH MỤC CÁC BẢNG Trang
Bảng 2.1
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp
30
Bảng 2.2
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ
31
Bảng 2.3
Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực Nông-Lâm-
Ngư nghiệp
32
Bảng 2.4
Vốn đầu tư của nước ngoài trong giai đoạn 2000-2007
39
Bảng 2.5
Phân bổ vốn ĐTTTNN giữa các vùng kinh tế trọng điểm
50
Bảng 2.6
Chênh lệch giữa vùng phát triển vỡ vùng khó khăn
Hình 2.2
FDI thực hiện so với tổng đầu tư toàn xã hộ và so với GDP
28
DANH MỤC CÁC HỘP
Trang
Hộp 1.1
Đâu là chân tướng của đầu tư trực tiếp từ nước ngoài?
14
Hộp 2.1
Doanh nghiệp FDI xuất siêu
47
Hộp 2.2
FDI vào nông lâm nghiệp: Nhỏ và yếu
51
Hộp 2.3
TP.HCM: Đình công vì doanh nghiệp "phá luật", "ép" công
nhân
74
Hộp 2.4
UBND tỉnh Đồng Nai không thể 'đóng cửa' Vedan
83
Hộp 3.1
Họ đã hy sinh môi trường cho tăng trưởng
vốn đầu tư quan trọng đối với nền kinh tế nước ta nhằm đảm bảo sự phát triển
toàn diện các mặt kinh tế và xã hội. Thực tế, thời gian qua ĐTNN chủ yếu vào
những ngành có ưu thế về lao động và thị trường như dệt may, da giầy, xe máy,
du lịch … phù hợp với chính sách khuyến khích chuyển dịch cơ cấu ngành kinh
tế theo hướng tăng hàm lượng giá trị gia tăng, tăng tỷ trọng ngành sản xuất công
nghiệp và dịch vụ. Nhờ vào sự ổn định chính trị xã hội và chính sách hấp dẫn
thu hút đầu tư, nước ta đã đạt được mục tiêu thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
về con số đăng ký.
Tuy nhiên, xét từ góc độ phát triển bền vững, bên cạnh những kết quả đạt
được, sự phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã phát
Luận văn Thạc sỹ KTCT: KHU VỰC KINH TẾ CÓ VỐN ĐTTTNN VÀ VẤN ĐỀ
7
sinh nhiều vấn đề bất cập, cần phải khắc phục. Đó là: đầu tư trực tiếp nước ngoài
góp phần làm trầm trọng thêm chênh lệnh giữa các nhóm thu nhập, giữa các
vùng miền, làm tăng tính không bền vững của hoạt động xoá đói giảm nghèo;
hoạt động của khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng chứa
đựng những bất lợi tiềm tàng về môi trường sinh thái, chủ yếu ở ba lĩnh vực: ô
nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và đang dạng sinh học, .v.v.
(Khi luận văn này chuẩn bị hoàn thành, những “sự kiện” Vinashin chôn
chất thải rắn ngay khu dân cư, Vedan hàng chục năm liền đổ trực tiếp nước thải
làm “chết” sông Thị Vải … đang gây bức xúc dư luận và làm “nóng” diễn đàn
Quốc hội Khoá XII và các cơ quan có trách nhiệm - vừa lo ảnh hưởng xấu đến
thu hút đầu tư, thất thu ngân sách, vừa không thể làm ngơ trước sự huỷ hoại môi
trường - vẫn đang lúng túng tìm biện pháp xử lý).
Đứng trước đòi hỏi đó, cần có một nghiên cứu để làm rõ mối tương quan
giữa phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với việc thực
hiện các trách nhiệm xã hội nhằm đảm bảo khả năng phát triển bền vững của
Bùi Huy Nhượng / TC Kinh tế & phát triển, 2005/Số 100 . 18-22
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Triển vọng thế giới và thực tiễn Việt
Nam. Nguyễn Hồng Sơn / Những vấn đề Kinh tế Thế giới ; 2006/Số 6 . 3-12
- Xu hướng chuyển dịch luồng vốn FDI và cơ hội của Việt Nam.
Nguyễn Thị Lan / TC Thuế Nhà nước ; 2005/Số 14 (volume 2 số 10) . 32-38
- Tác động của FDI với sự phát triển kinh tế của Trung Quốc - Bài học
kinh nghiệm đối với Việt Nam. Nguyễn Xuân Thắng / TC Kinh tế & phát triển;
2006/Số 106 . 54-56
- Dự báo xu thế và triển vọng ĐTNN trực tiếp toàn cầu. TC
Tri thức và Phát triển - 2006/Số 45/
- Thực trạng và giải pháp phân bổ FDI theo cơ cấu vùng kinh tế ở Việt
Nam. Trần Lan Hương / Những vấn đề kinh tế thế giới - 2005/Số 1 . 61-68
- Các giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.
Lê Thế Giới / TC Kinh tế và phát triển - 2004/Số 86 . 8-10
Những nghiên cứu trên đây chủ yếu tập trung đánh giá, phân tích hoạt
động của các doanh nghiệp có vốn ĐTTTNN tại Việt Nam, phân tích luồng vốn
nước ngoài dịch chuyển vào Việt Nam và dự báo triển vọng trong tương lai trên
cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường thu hút FDI…Nghiên cứu một
cách cụ thể vai trò và ảnh hưởng của khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài đến sự phát triển bền vững đòi hỏi cần phân tích sâu hơn về trách
nhiệm xã hội được các doanh nghiệp này thực hiện nhằm điều tiết hoạt động
kinh tế theo hướng đảm bảo xã hội phát triển và các chính sách định hướng cho
các hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt được các mục tiêu chung của phát
triển bền vững. Các trách nhiệm này được hình thành trong các văn bản pháp
Luận văn Thạc sỹ KTCT: KHU VỰC KINH TẾ CÓ VỐN ĐTTTNN VÀ VẤN ĐỀ
9
quy và hệ thống các quy tắc ứng xử của cộng đồng doanh nghiệp. Trong xu thế
10
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu hoạt động của khu vực kinh
tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam và tác động của nó tới mục
tiêu phát tiển bền vững về kinh tế và xã hội.
- Phạm vi nghiên cứu:
Khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hình thành và phát
triển ở Việt Nam từ năm 1987, khi Việt Nam ban hành Luật đầu tư trực tiếp
nước ngoài. Để có được bức tranh tổng thể tác động của khu vực có vốn
ĐTTTNN tới vấn đề phát triển bền vững ở Việt Nam, đề tài được xem xét, khảo
sát, đánh giá trong cả giai đoạn phát triển từ năm 1987 đến nay và định hướng
đến một số năm tới.
Liên quan tới vấn đề này, luận văn cũng nghiên cứu về kinh nghiệm quốc
tế về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài với mục tiêu phát triển bền vững
nhằm rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp luận cơ bản của đề tài là phương pháp duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử. Bên cạnh đó, đề tài cũng kết hợp vận dụng các phương pháp
cụ thể như phân tích và tổng hợp, phân tích hệ thống, phân tích thống kê, khảo
sát các kết quả điều tra.
Quá trình thực hiện đề tài cũng sẽ kế thừa các công trình khoa học nghiên
cứu về đánh giá tác động của khu vực có vốn ĐTTTNN tại Việt Nam, vai trò
quản lý của nhà nước đối với hoạt động của khu vực kinh tế này.
6. Đóng góp mới của luận văn:
- Làm sáng tỏ một số khía cạnh lý luận về tác động của khu vực có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát triển bền vững.
- Đánh giá thực trạng hoạt động của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài dưới góc độ phát triển bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường. Phân
1.1. KHÁI LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
1.1.1. Khái niệm Phát triển bền vững.
"Phát triển bền vững" là một khái niệm mới mẻ, xuất hiện trên cơ sở đúc rút
kinh nghiệm phát triển của các quốc gia từ trước đến nay, phản ánh xu thế của
thời đại và định hướng tương lai của loài người.
Khái niệm "phát triển bền vững” xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi
trường từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ 20. Năm 1987, trong Báo
cáo "Tương lai chung của chúng ta" của Hội đồng Thế giới về Môi trường và
Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc, "phát triển bền vững" được định nghĩa
"là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở
ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau".
Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio
de Janeiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển
bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 đã xác định
"phát triển bền vững" là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài
hoà giữa 3 mặt của sự phát triển gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh
tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm
nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô
nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt
phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên) [4; 4].
Phát triển bền vững là một quá trình toàn diện, bao gồm những biến đổi
về kinh tế, cũng như những biến đổi về xã hội, về văn hóa và giáo dục, khoa học
và công nghệ, về môi trường và sự phát triển của con người. Phát triển bền vững
đang là thách thức cho mọi quốc gia, nhất là trong điều kiện toàn cầu hóa, hội
nhập kinh tế quốc tế. Việc lựa chọn con đường, biện pháp và thể chế, chính sách
bảo đảm phát triển bền vững luôn là mối quan tâm hàng đầu của mọi nước trong
bước đường phát triển.
Luận văn Thạc sỹ KTCT: KHU VỰC KINH TẾ CÓ VỐN ĐTTTNN VÀ VẤN ĐỀ
Phát triển bền vững ngày càng trở thành trung tâm của sự phát triển trong
mọi lĩnh vực khi xã hội bước vào thế kỉ XXI. Vấn để ô nhiễm môi trường từng
ngày trở thành vấn đề đáng lưu tâm song song với sự đi lên nhanh chóng của
nền kinh tế. Thu nhập của người dân ngày càng được cải thiện, mức sống được
nâng dần lên cả ở thành thị lẫn nông thôn, trong khi đó khoảng cách giàu nghèo
trong xã hội cũng tăng lên rõ rệt. Vì vậy phát triển bền vững sẽ giúp mọi người
Luận văn Thạc sỹ KTCT: KHU VỰC KINH TẾ CÓ VỐN ĐTTTNN VÀ VẤN ĐỀ
3
trong xã hội đều có quyền bình đẳng và luôn gắn phát triển kinh tế với bảo vệ và
nâng cao chất lượng môi trường.
1.1.2. Các yếu tố cơ bản cấu thành sự phát triển bền vững.
1.1.2.1. Phát triển kinh tế bền vững.
Yếu tố kinh tế đóng một vai trò không thể thiếu trong phát triển bền vững.
Phát triển kinh tế là yếu tố cơ bản của sự phát triển nói chung. Nhưng phát triển
kinh tế không phải là mục đích tự thân và cũng không thể là vô hạn mà phải
phục vụ, thúc đẩy để đạt được các mục tiêu chung của sự phát triển.
Phát triển kinh tế là một quá trình lớn lên về mọi mặt của nền kinh tế
trong một thời kỳ nhất định. Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản
lượng (tăng trưởng) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội.
Tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần của phát triển kinh tế. Trong nền
kinh tế, sự tăng trưởng chung thể hiện ở tốc độ tăng GNP và tốc độ tăng GDP
mà chúng lại phụ thuộc và tốc độ tăng giá trị sản lượng và sản lượng thuần túy
của các ngành kinh tế. Tốc độ tăng của các ngành lại khác nhau theo những quy
luật nhất định. Vì thế trong từng thời kỳ nếu không báo đảm được tính quy luật
giữa các ngành thì sẽ gây rối loạn trong nền kinh tế, hạn chế sự phát triển chung
của nền kinh tế.
Điều kiện đủ của phát triển kinh tế là bảo đảm được tính cân đối, tính hiệu
nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho con người. Kinh nghiệm
nhiều nước trên thế giới đã cho thấy, tăng trưởng kinh tế là công cụ quan trọng
để xóa đói giảm nghèo, nhưng nếu không quan tâm giải quyết sự bất bình đẳng
về thu nhập thì tăng trưởng kinh tế như vậy là không bền vững về mặt xã hội, rất
dễ dẫn đến bất ổn về mặt xã hội và có hại cho bước tăng trưởng tiếp theo.
Khía cạnh xã hội của phát triển bền vững cần được chú trọng vào sự phát
triển sự công bằng và xã hội luôn cần tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực phát
triển con người và cố gắng cho tất cả mọi người cơ hội phát triển tiềm năng bản
thân và có điều kiện sống chấp nhận được.
1.1.2.1. Bảo vệ và cải thiện môi trường.
Khía cạnh môi trường trong phát triển bền vững đòi hỏi chúng ta duy trì sự
cân bằng giữa bảo vệ môi trường tự nhiên với sự khai thác nguồn tài nguyên
thiên nhiên phục vụ lợi ích con người nhằm mục đích duy trì mức độ khai thác
những nguồn tài nguyên ở một giới hạn nhất định cho phép môi trường tiếp tục
hỗ trợ điều kiện sống cho con người và các sinh vật sống trên trái đất.
Cũng giống như sự phát triển của sinh vật, sự phát triển của xã hội phải giải
đáp được bài toán do môi trường đặt ra. Trong bất kỳ phương án quy hoạch phát
triển nào theo hướng bền vững đều phải tính toán kỹ mối tác động qua lại giữa
con người và thiên nhiên sao cho sự phát triển kinh tế - xã hội không làm suy
thoái hoặc hủy diệt môi trường, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, ngăn chặn ô
nhiễm.
Luận văn Thạc sỹ KTCT: KHU VỰC KINH TẾ CÓ VỐN ĐTTTNN VÀ VẤN ĐỀ
5
Bảo vệ và cải thiện môi trường thực sự là một mục tiêu cần được quan tâm
nhiều hơn nữa trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Thực tế cho
thấy nhiều quốc gia rừng đang bị tàn phá, tỷ lệ che phủ giảm sút, nhiều vấn đề
về xử lý nước, chất thải, ô nhiễm môi trường chậm được xử lý là nguy cơ lớn
6
hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh
hoặc xí nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của luật này”.
Tiếp đó, Luật ĐTTTNN năm 1996 đưa ra khái niệm ĐTTTNN là “việc các
tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản
nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này”.
Như vậy, theo Luật ĐTTTNN tại Việt Nam, khái niệm ĐTTTNN được hiểu
là hình thức đầu tư trực tiếp và là việc bên ngoài (nước đầu tư) trực tiếp đưa vốn
và tài sản khác vào đầu tư tại Việt Nam. Bên nước ngoài có thể là một tổ chức
(tổ chức nhà nước, tổ chức tư nhân, hay một tổ chức quốc tế) hoặc tự nhiên nhân
nước ngoài. Như vậy là pháp luật đầu tư của Việt Nam không loại trừ bất cứ
một đối tượng nào, kể cả các tổ chức tư bản độc quyền, người Việt Nam có quốc
tịch nước ngoài.
Đầu tư không chỉ là vốn đầu tư mà còn bao hàm cả bằng sáng chế, bí quyết
kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ công nghệ… Quy định này của luật nước
ta nhằm mục đích tranh thủ được vốn, kỹ thuật hiện đại, kinh nghiệm và
phương pháp quản lý tiên tiến, đào tạo đội ngũ công nhân có kỹ thuật cao, đội
ngũ quản lý giỏi; thay đổi cán cân kinh tế đối ngoại, góp phần nâng cao đời sống
nhân dân, hoà nhập với cộng đồng thế giới.
Khái niệm ĐTTTNN trong pháp luật nói chung được hình thành phụ thuộc
vào cục diện kinh tế, mà trước hết là tình hình chính trị của đất nước vào thời
điểm thông qua văn bản pháp luật về ĐTNN. Nói cách khác, không chỉ những
quy định riêng rẽ của pháp luật về ĐTTTNN mà chính sách kinh tế của quốc gia
đối với ĐTTTNN đóng vai trò rất quan trọng.
1.2.1.2. Các loại hình đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Trong thực tiễn, FDI có nhiều hình thức tổ chức khác nhau. Những hình
thức được áp dụng phổ biến là:
+ Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng;
kinh tế trên thế giới.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức mà các chủ đầu tư được tự mình
ra quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về
lỗ lãi. Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả cao, không có ràng buộc về
chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế.
1.2.1.4. Những nguyên nhân hình thành khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài
Luồng vốn ĐTTTNN hình thành và di chuyển một cách khách quan, xuất
phát từ những lý do sau đây:
- Có sự khác nhau về năng suất cận biên của vốn giữa các nước. Một nước
thừa vốn thường có năng suất cận biên thấp hơn. Còn một nước thiếu vốn
Luận văn Thạc sỹ KTCT: KHU VỰC KINH TẾ CÓ VỐN ĐTTTNN VÀ VẤN ĐỀ
8
thường có năng suất cận biên cao hơn. Tình trạng này sẽ dẫn đến sự di chuyển
dòng vốn từ nơi dư thừa sang nơi khan hiếm nhằm tối đa hoá lợi nhuận.
- Xuất phát từ chu kỳ sản phẩm. Sản phẩm mới đầu được phát minh và sản
xuất ở nước đầu tư, sau đó mới được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Tại
nước nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới làm nhu cầu trên thị trường nội địa
tăng lên, nên nước nhập khẩu chuyển sang sản xuất để thay thế sản phẩm nhập
khẩu này bằng cách chủ yếu dựa vào vốn, kỹ thụât của nước ngoài. Khi nhu cầu
thị trường của sản phẩm mới trên thị trường trong nước bão hoà, nhu cầu xuất
khẩu lại xuất hiện. Hiện tuợng này diễn ra theo chu kỳ và do đó dẫn đến sự nhu
cầu thu hút vốn và hình thành khu vực kinh tế có vốn ĐTNN.
Raymond Vernon lại cho rằng khi sản xuất một phẩm đạt tới giai đoạn
chuẩn hóa trong chu kỳ phát triển của mình cũng là lúc thị trường sản phẩm này
có rất nhiều nhà cung cấp. Ở giai đoạn này, sản phẩm ít được cải tiến, nên cạnh
tranh giữa các nhà cung cấp dẫn tới quyết định giảm giá và do đó dẫn tới quyết
Không chỉ Nhật Bản đầu tư vào Mỹ, các nước công nghiệp phát triển khác cũng
có chính sách tương tự. Trung Quốc gần đây đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài, trong đó có đầu tư vào Mỹ. Việc công ty đa quốc gia quốc tịch Trung
Quốc là Lenovo mua bộ phận sản xuất máy tính xách tay của công ty đa quốc
gia mang quốc tịch Mỹ là IBM được xem là một chiến lược để Lenovo tiếp cận
công nghệ sản xuất máy tính ưu việt của IBM. Hay việc TCL (Trung Quốc)
trong sáp nhập với Thompson (Pháp) thành TCL-Thompson Electroincs, việc
National Offshore Oil Corporation (Trung Quốc) trong ngành khai thác dầu lửa
mua lại Unocal (Mỹ) cũng với chiến lược như vậy.
- Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên
Để có nguồn nguyên liệu thô, nhiều công ty đa quốc gia tìm cách đầu tư
vào những nước có nguồn tài nguyên phong phú. Làn sóng đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài lớn đầu tiên của Nhật Bản vào thập niên 1950 là vì mục đích này.
FDI của Trung Quốc hiện nay cũng có mục đích tương tự.
Đối với các quốc gia tiếp nhận đầu tư, khi các cơ sở kinh tế có nguồn vốn
nước ngoài đã phát triển thành một nhân tố quan trọng trong đời sống kinh tế -
giữ vị trí quan trọng trong tăng trưởng kinh tế - có thể xem như đã hình thành
một khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Khu vực kinh tế này,
ngoài đặc điểm về nguồn gốc hình thành, những ưu thế về công nghệ và quản lý
kinh doanh, tuỳ theo mỗi quốc gia hay mỗi thời kỳ, còn có sự khác biệt so với
các khu vực kinh tế trong nước bởi những ưu đãi và các quy định về quản lý.
Cũng vì vậy, những tác động của khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài tới kinh tế - xã hội cũng có những khác biệt với các khu vực kinh tế trong
nước.
Luận văn Thạc sỹ KTCT: KHU VỰC KINH TẾ CÓ VỐN ĐTTTNN VÀ VẤN ĐỀ
10
1.2.2. Vai trò của khu vực kinh tế có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đối với
ty xuyên quốc gia, mà ngay cả các xí nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn
với xí nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao động khu vực. Chính
Luận văn Thạc sỹ KTCT: KHU VỰC KINH TẾ CÓ VỐN ĐTTTNN VÀ VẤN ĐỀ
11
vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu
thuận lợi cho đẩy mạnh xuất khẩu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Khu vực kinh tế có vốn ĐTTTNN góp phần tăng nguồn thu ngân sách.
Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc đối với nhiều địa phương, thuế do các
xí nghiệp có vốn ĐTTTNN nộp là nguồn thu ngân sách quan trọng.
* Thúc đẩy phát triển bền vững về xã hội:
Nguồn vốn ĐTTTNN đã đóng góp quan trọng vào việc cải thiện các chỉ
tiêu phát triển xã hội thông qua thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập và
giảm đói nghèo; tạo thêm công ăn việc làm và nâng cao chất lượng lao động,
đặc biệt là trang bị những kỹ năng công nghệ và quản lý mới; hỗ trợ tiếp cận thị
trường và hội nhập kinh tế thế giới.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần giải quyết việc làm và nâng cao chất
lượng lao động do đó rất có nghĩa từ góc độ phát triển bền vững, góp phần tăng
thu nhập, xóa đói giảm nghèo, giảm tệ nạn xã hội.
Một trong những mục đích của các nhà ĐTTTNN là khai thác các điều kiện
đề đạt được chi phí sản xuất thấp, nên khu vực kinh tế có vốn ĐTTTNN sẽ thuê
mướn lao động tại các địa phương, tạo cơ hội việc làm cho người lao động. Vào
đầu những năm 80, một triệu USD đã bảo đảm 30.000 việc làm ở các nước đang
phát triển và gần 11.000 việc làm ở các nước công nghiệp phát triển. Đối với các
nước đang phát triển, khu vực kinh tế có vốn ĐTTTNN đã hình thành những
công ty, nhà máy, khu công nghiệp mới tăng thêm cơ hội việc làm cho người lao
động. Để giải quyết vấn đề việc làm phải thu hút các nhà ĐTTTNN vào những
ngành nghề cần nhiều nhân công như ngành dệt, chế biến nông sản, thủ công mỹ
mạnh luồng ĐTTTNN trong các ngành công nghiệp nhạy cảm về ô nhiễm môi
trường, nhưng điều đó không đồng nhất với việc gia tăng tác động xấu tới môi
trường, vì còn phụ thuộc vào hiệu quả quản lý môi trường và chuyển giao công
nghệ sạch từ các Nhà đầu tư nước ngoài. Nghĩa là vai trò của các Nhà đầu tư
nước ngoài, nhất là các công ty xuyên quốc gia, có tầm quan trọng rất lớn trong
quá trình tạo lập tính bền vững môi trường của các dự án ĐTNN [1; 19].
Các Công ty xuyên quốc gia có trách nhiệm quan trọng trong quá trình phát
triển ĐTTTNN bền vững đối với nước chủ nhà, trong đó có những mặt tích cực
là: Thông thường các công ty xuyên quốc gia có công nghệ sạch, áp dụng những
chuẩn môi trường cao hơn so với yêu cầu của nước chủ nhà, do vậy có khả năng
góp phần vào quá trình phát triển bền vững môi trường của nước chủ nhà.
Tuy nhiên, có trường hợp các công ty xuyên quốc gia đưa các dây chuyền
sản xuất ô nhiễm, hoặc chuyển giao các công nghệ lạc hậu tới nước chủ nhà, mà
những công nghệ này không được chấp nhận tại nước đầu tư.
Các công ty xuyên quốc gia có thể là động lực cho việc phổ biến những giải
pháp và công nghệ thân môi trường, kể cả những giải pháp phòng ngừa ô nhiễm,
tại các nước đang phát triển. Tuy nhiên sự đóng góp của các công ty xuyên quốc
gia trong ĐTTTNN bền vững môi trường phụ thuộc vào các yếu tố sau: