Một số biện pháp hướng dẫn và thúc đẩy quá trình tự học đối với học sinh yếu, cá biệt trong lớp chủ nhiệm - Pdf 14

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆMMỘT SỐ BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN VÀ THÚC
ĐẨY QUÁ TRÌNH TỰ HỌC CHO HỌC SINH YẾU
VÀ CÁ BIỆT TRONG LỚP CHỦ NHIỆM

I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh là điều rất quan trọng và cần thiết
trong điều kiện hiện nay. Thật vậy, thời gian tự học là lúc các em có điều kiện tự
nghiền ngẫm vấn đề học tập theo một yêu cầu, phong cách riêng và với tốc độ
thích hợp. Điều đó không chỉ giúp các em nắm vấn đề mộ
t cách chắc chắn, bền
vững, bồi dưỡng phương pháp học tập và khả năng vận dụng tri thức, mà còn là
dịp tốt để các em rèn luyện ý chí và năng lực hoạt động sáng tạo.
Trong thời đại mà khoa học, kĩ thuật phát triển nhanh chóng như hiện nay,
nhà trường dù tốt đến mấy cũng không đáp ứng được nhu cầu đa dạng và đang
phát triển của cuộc sống. Vì vậ
y, chỉ có tự học, tự bồi dưỡng mỗi người mới có thể
bù đắp được cho mình những lỗ hổng về kiến thức để thích ứng với yêu cầu cuộc
sống đang phát triển.
Như vậy, tự học là một trong những phẩm chất quan trọng nhất mà nhà
trường hiện đại cần trang bị cho học sinh, vì nó có ích không chỉ khi các em còn
ngồi trên ghế nhà trường mà cả khi đ
ã bước vào cuộc sống.

quả như mong đợi.
Trước những thực tế nêu trên, với vai trò của người quản lí giáo dục và
c
ũng từng là giáo viên đạt những thành công trong công tác chủ nhiệm, tôi mạnh
dạn đề xuất sáng kiến kinh nghiệm với đề tài: “Một số biện pháp hướng dẫn và
thúc đẩy quá trình tự học đối với học sinh yếu, cá biệt trong lớp chủ nhiệm”
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lí luận
1.1. Những quan niệm về tự học và vấn đề hình thành năng lực t
ự học
cho học sinh trong nhà trường phổ thông.
1.1.1. Quan niệm về tự học
Con người ta ngay khi sinh ra đã phải tự học, tự học để nhận biết thế giới
xung quanh, tự học để tồn tại và phát triển. Khổng Tử cho rằng cách học như thế
nào quan trọng như học cái gì, học không chỉ ở trường còn học ở bạn bè “Tam
nhân đồng hành, tất hữu ngã sư
” (trong 3 người đi cùng, tất có thầy ta trong đó)
Cha ông ta từ xưa cũng luôn đặt tự học làm trọng. Người đã kế thừa và phát
huy cao nhất truyền thống đó là Bác Hồ. Bác đã từng căn dặn: “Còn sống thì còn
phải học, còn phải hoạt động cách mạng”. Theo Người tự học chính là sự nỗ lực
của bản thân người học, sự làm việc của bản thân người học m
ột cách có kế hoạch
trên tinh thần tự giác học tập. Người cho rằng trong tự học, ý chí tự học tập và sự
sáng tạo là đều vô cùng quan trọng.
Cũng bàn về tự học, Chu Mạnh Nguyên cho rằng: “Tự học, tự nghiên cứu
là một quá trình trong đó mỗi người tự suy nghĩ, tự sử dụng các năng lực trí tuệ và
các phẩm chất của bản thân, tự khai thác vận dụng những
điều kiện vật chất có thể
để biến một kiến thức nào đó của người khác (của nhân loại) thành kiến thức sở
hữu của mình, vận dụng một kiến thức nào đó của người khác để làm cho công

của từng người không ai giống ai. Tuy nhiên, tất cả mọi người tự học đều nhằm
đến mục đích biết được càng nhiều càng tốt để nâng mình lên đến một trình độ cao
hơn, ph
ục vụ công việc của mình thuận lợi và có hiệu quả hơn. Thế giới đang
bước vào thế kỉ XXI, thế kỉ của thông tin, của khoa học và công nghệ hiện đại, bất
cứ ai, ở bất cứ địa vị và vị trí nào trong xã hội cũng đều phải tự học, bởi chỉ có
như vậy mỗi người mới tồn tại, tự đứng vững trên
đôi chân của mình và góp phần
thúc đẩy xã hội phát triển.
1.1.2. Vấn đề hình thành năng lực tự học cho học sinh trong nhà
trường phổ thông.
Tự học của học sinh THPT luôn gắn liền với năng lực chủ động tích cực,
học sinh phải tự nghiên cứu tài liệu, tự mình phát hiện kiến thức, nắm bắt kiến
thức, tự mình biết vận dụng chuyển hóa kiến thức bài học dưới sự dẫn dắt, định
hướ
ng của giáo viên. Tự học của học sinh THPT chỉ mới dừng ở cấp độ một
nhưng đây chính là cơ sở, là nền móng vững chắc cho kinh nghiệm tự học, tự
nghiên cứu ở mức độ cao sau này. Phạm vi kiến thức tự học của học sinh THPT
trước hết thuộc chương trình sách giáo khoa phổ thông và những tài liệu liên quan
“Đối với học sinh tự học, tự nghiên cứu ph
ải dựa trên cơ sở của việc học và nắm
vững một hệ thống kiến thức cơ bản, đồng thời được trang bị để nắm được cách
học và cách nghiên cứu, có kỹ năng học nghiên cứu, tiến tới có kỹ xảo và thói
quen tự học, tự nghiên cứu, vì vậy ở đây vai trò của các nhà giáo dục trực tiếp
hơn, cần thiết hơn”.
Theo Nguyễn Kỳ, “tự học” của học sinh THPT có bốn đặc trưng cơ bản:
- Người học tự tìm kiến thức bằng chính hành động của mình.
- Người học tự thể hiện mình.
- Người thầy hướng dẫn tổ chức cho trò tự nghiên cứu.
- Người học tự đánh giá, tự kiểm tra, tự sửa chữa, tự điều chỉnh, tự hoàn

phía mình nhằm thỏa mản cá tính hoặc thỏa mản nhu cầu giải tỏa tâm lý bị ức chế
về hoàn cảnh của bản thân mình .
HSCB là hiện tượng tâm lý ở lứa tuổi thanh thiếu niên, nó dễ bị lôi cuốn
làm cho HS dễ bị tiêm nhiễm những thói hư tật xấu dẫn đến tình trạng bỏ học giữa
chừng và có nguy cơ phạm tội là nỗi day dứt của nhà trường, gia
đình và xã hội .
Học sinh cá biệt biểu hiện ở nhiều khía cạnh, trạng thái khác nhau, tạm
chia làm 4 nhóm :
- Nhóm 1: Cá biệt là do vi phạm nội quy của Nhà trường, của lớp, mất trật
tự trong giờ học, lười học bài, đi học muộn …
- Nhóm 2: Cá biệt là do ham chơi điện tử, sẵn sàng bỏ học, lừa dối bố mẹ,
thầy cô. - Nhóm 3: Cá biệt là do vi phạm những chuẩn mự
c đạo đức, hỗn láo
với thầy cô giáo, cha mẹ, hay nói tục chửi bậy.
- Nhóm 4: Cá biệt là do vi phạm pháp luật, đánh bạn, trộm cắp, trấn lột, cờ
bạc …
- Nhóm 5: Cá biệt là do tự ti, trầm cảm, ngại tiếp xúc với thầy cô, bạn bè,
hoang mang, sợ hãi, tiêu cực trong suy nghĩ (nhóm học sinh cá biệt này đang có
xu hướng gia tăng trong xã hội hiện nay).
Ở tất cả các nhóm HSCB trên đều ảnh hưởng đến s
ự hình thành nhân cách
và năng lực học tập của học sinh. Dù ở nhóm HSCB nào nếu chúng ta không kịp
thời uốn nắn, giáo dục các em thì dễ dẫn đến các em từ những vi phạm nhỏ đến
việc làm không có ý thức khác, rồi bỏ học và có nguy cơ trở thành tội phạm .
1.2.2. Nguyên nhân phát sinh học sinh cá biệt :
- Từ gia đình: Thiếu sự quan tâm hay quá tin tưởng, chiều chuộng của gia
đình; những éo le trong cuộc sống gia đình ảnh hưởng rất lớn đến sự hư đốn, hay
nói một cách khác là đạo đức học sinh yếu kém.
- Từ xã hội : Thực trạng những mặt xấu của xã hội; Trong điều kiện xã hội
hiện nay từng giờ từng ngày những cám dỗ,ảnh hưở

1.3.1.1. Nh
ững yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lí của lứa tuổi
học sinh THPT
- Khái niệm tuổi thanh niên: Là giai đọan phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì
và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn. Tuổi thanh niên kéo dài từ 14, 15- 25
tuổi, được chia thành 2 thời kì: 14,15 đến 17,18 tuổi: thanh niên mới lớn (HS
THPT); 17,18 đến 25 tuổi: tuổi thanh niên (giai đoạn 2 của tuổi thanh niên)
- Đặc điểm cơ thể:
+ Sinh lý: Tuổi đầu thanh niên là thời kì đầu đạt được sự tăng trưởng về mặt
thể l
ực, nhịp độ tăng trưởng về chiều cao và trọng lượng đã chậm lại, đa số các em
đã vượt qua thời kì phát dục.
+ Tâm lý: Sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng do
cấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức năng của não phát triển.
- Những điều kiện xã hội của sự phát triển
+ Trong gia đình: Vị trí ngày càng được khẳ
ng định. Được tham gia bàn bạc
việc gia đình. Yêu cầu cao hơn trong công việc, trong cách suy nghĩ.
+ Ngoài xã hội: (Thay đổi đáng kể)15 tuổi được làm CMT, 18 tuổi được đi
bầu cử, đủ tuổi nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ lao động, nữ đủ tuổi kết hôn.
+ Ở nhà trường: (Nòng cốt các phong trào) Tham gia tổ chức Đoàn TNCS.
Hệ thống tri thức ngày càng phong phú.
1.3.1.2. Đặc điểm của ho
ạt động học tập và sự phát triển trí tuệ ở lứa
tuổi học sinh THPT
+ Đặc điểm của hoạt động học tập: HĐHT đòi hỏi tính tích cực, năng động
cao, đòi hỏi sự phát triển mạnh của tư duy lý luận. Hình thành hứng thú học tập
liên quan đến xu hướng nghề nghiệp. Hứng thú học tập được thúc đẩy, bồi d
ưỡng
bởi động cơ mang ý nghĩa thực tiễn, sau đó mới đến ý nghĩa xã hội của môn học.

phải xây dựng thế giới quan lành mạnh, đúng đắn cho các em.
+ Giao tiếp và đời sống tình cảm: Giao tiếp trong nhóm bạn. Tuổi thanh niên
mới lớn là lứa tuổi mang tính chất tập thể nhất. Ở lứa tuổi này, các em có khuynh
hướng làm bạn với bạn bè cùng tuổi. Các em tham gia vào nhiều nhóm bạn khác
nhau. KLSP
: Nhà giáo dục cần chú ý đến ảnh hưởng của nhóm, tổ chức cho các
nhóm tham gia vào các hoạt động tập thể của Đoàn
+ Hoạt động lao động và sự lựa chọn nghề: Hoạt động lao động tập thể có
vai trò lớn trong sự hình thành và phát triển nhân cách thanh niên mới lớn. Việc
lựa chọn nghề nghiệp đã trở thành công việc khẩn thiết của học sinh lớn. KLSP
:
Nhà giáo dục cần giúp các em lựa chọn ngành nghề phù hợp với khả năng, năng
lực của các em.
1.3.1.4. Một số vấn đề giáo dục: Trước hết cần xây dựng mối quan hệ tốt
giữa thanh niên và người lớn trên tinh thần bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. Người
lớn cần phải giúp đỡ các em một cách khéo léo, tế nhị để hoạt động của các em
được phong phú, hấp d
ẫn và độc lập. Người lớn không được quyết định thay, làm
thay trẻ. Cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội.
1.3.2. Nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm
Giáo viên chủ nhiệm, ngoài các nhiệm vụ qui định của giáo viên bộ môn
(điều 31, mục 1 điều lệ Trường THPT cơ sở, trường THPT và trường phổ thông có
nhiều cấp học) còn có những nhiệm vụ sau đây (điều 31 mục 2):
- Tìm hiểu và nắm vững học sinh trong lớp về mọi mặt để có biện pháp tổ
chức giáo dục sát đối tượng, nhằm thúc đẩy sự tiến b
ộ của cả lớp;
- Cộng tác chặt chẽ với gia đình học sinh, chủ động phối hợp với giáo viên
bộ môn, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Đội THTP Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội
có liên quan trong hoạt động giảng dạy và giáo dục học sinh của lớp mình chủ
nhiệm;

Xây dựng động cơ học tập cho học sinh là một trong những vấn đề quan
trọng nhất của việc bồi dưỡng tinh thần tự học. Có thể khẳng định rằng nhu cầu
học tập, tìm hiểu và nhận thức là một thuộc tính bẩm sinh của con người. Và động
cơ học tập không chỉ
là một quá trình tự phát, không chỉ là một quá trình tự nhiên
và phát sinh thầm lặng. Giáo viên cần hình thành, phát triển, kích thích động cơ
học tập của học sinh phù hợp với đặc điểm của từng em, để từ đó các em tự kích
thích động cơ học tập của chính mình.
- Trong các tiết học hoạt động ngoài giờ lên lớp và hướng nghiệp, giáo
viên chủ nhiệm có thể cho học sinh thảo luận và thuyết trình về mộ
t số câu
hỏi sau:
+ Có những môn học nào mà các em thích hoặc không thích? Vì sao?
+ Học tập là một nghĩa vụ xã hội hay chỉ là nhu cầu của cá nhân?
+ Mục đích của việc học tập có phải là để nắm được những kiến thức cần
thiết, bổ ích hay chỉ là để có được điểm tốt?
+ Một khi tự đánh mất và tự tạo lỗ hổng kiến thức, chúng ta sẽ ph
ải đối mặt
với những nguy cơ, khó khăn gì hay chỉ đơn giản là bị điểm kém?
+ Những yêu cầu của thầy cô giáo và của cha mẹ đối với các em là nhằm
mục đích gì? Có ích hay không có ích?
+ Em suy nghĩ gì về câu nói: “học để biết, học để làm, học để chung sống và
học để tự khẳng định mình”
GVCN chia lớp thành 6 nhóm, mỗi nhóm một câu hỏi. Mỗi nhóm đều phải
có 1 đế
n 2 học sinh yếu, cá biệt. Giáo viên yêu cầu một học sinh yếu làm thư kí
nhóm, một học sinh cá biệt đóng vai trò thuyết trình cho nhóm mình, các bạn học
sinh khác trong nhóm phải nhiệt tình giúp đỡ hỗ trợ bạn.
Khi mỗi nhóm thuyết trình xong, các nhóm khác bổ sung, tranh luận và cuối
cùng giáo viên góp ý, bổ sung, khuyến khích, động viên, khen thưởng, ghi vào sổ

ổ sung những tri thức đã
có, tìm kiếm những tri thức mới, tiếp cận những lí thuyết mới, những quan điểm
mới mà khuôn khổ bài giảng không cung cấp được. Vì thế việc hướng dẫn và thúc
đẩy học sinh yếu, cá biệt nói riêng và học sinh trong cả lớp nói chung, biết tự làm
việc với sách là điều rất quan trọng, bởi nó là một yếu tố không thể thiếu trong quá
trình tự học để
chiếm lĩnh tri thức.
- GVCN phải thường xuyên trao đổi với giáo viên bộ môn, để giúp các
em tìm được những cuốn sách hay, có ích cho việc học tập của mình.
- GVCN hướng dẫn học sinh cách đối xử với sách, cách chọn và đọc
sách:
+ Hãy xem sách như một người bạn thân thiết, cầm sách, cất sách với thái độ
trân trọng và yêu thương, không làm cong mép, không viết bậy lên sách, không lật
sách một cách thô bạo,…
+ Từ tên sách cần tìm, việc đầu tiên chúng ta sẽ lựa chọn tên tác giả (những
tác giả uy tín), sau đó đọc mục lục tìm những nội dung liên quan đến những kiến
thức mà ta quan tâm, tiếp đến là đọ
c lượt qua một số nội dung xem tác giả viết thế
nào và có phù hợp với sự tiếp nhận của mình không. Và cuối cùng là ta chọn sách.
+ Đọc kĩ những nội dung kiến thức liên quan đến vấn đề mà ta cần tìm hiểu,
tiếp đến tóm tắt, khái quát, grap hoá những kiến thức trọng tâm để dễ thuộc, dễ
nhớ
- Trong các tiết học hoạt động ngoài giờ lên lớp và hướng nghiệp, giáo
viên chủ nhi
ệm có thể cho học sinh thảo luận và thuyết trình về một số câu
hỏi:
+ Khi giáo viên yêu cầu học sinh về nhà chuẩn bị bài học cho tiết học tới thì
việc đầu tiên mà em cần làm là gì? Việc làm ấy cụ thể là những gì? nêu ví dụ về
cách chuẩn bị bài cho một số môn học. Và hãy giải thích vì sao lại cần thiết làm
những việc ấy? hãy cho biết việc làm có lợi ích gì đối với em khi tiếp thu kiến

HSY-5 HSTB
HSCB-
11
HSK-11
HSY-11 HSTB
HSTB HSY-4
HSK -4 HSCB-4
HSTB HSY-10
HSK-10 HSCB-10
HSCB-3 HSK -3
HSY-3
TT- 1 HSCB-9 HSK-9
HSY-9
TT -3
HSTB HSY-2
HSK -2 HSCB-2
HSTB HSY-8
HSK -8 HSCB-8
HSCB-1 HSK -1
HSY-1 HSTB
HSCB-7 HSK -7
HSY-7 HSTB
=== Lối vào

Chú thích sơ đồ:
- TT-1: Tổ trưởng tổ 1; tương tự TT-2, TT-3, TT-4
- HSK: Học sinh khá
- HSY: Học sinh có lực học yếu.
- HSCB: Học sinh cá biệt
- HSTB: Học sinh trung bình.
Bàn
học
Nội dung thi đua

Tổng
điểm Xếp
loại
Soạn
bài, làm
bài tập
(1đ/hs)
Phát biểu
xây dựng
bài (1
đ/lượt)
Điểm tốt
(1đ/lượt, tính
luôn cho bài
kiểm tra)
Thực hiện nội qui,
nề nếp và tham gia
phong trào (trừ 1
điểm/1 lần vi phạm
Học

Chất lượng
haimặt
giáo dục
và tỉ lệ
đạt
yêu
cầu
Lớp chủ
nhiệm12
C12
Chất lượng học tập
Chất lượng rèn luyện đạo đức
Giỏi khá TB Yếu kém Tốt khá TB Yếu kém

Thi đua phong trào, thực hiện nề nếp, nội qui:
- Giải nhì báo tường.
- Giải nhì nề nếp.
- Giải khuyến khích về cắm trại.
- Hai giải ba và một giải nhì về thể dục thể thao.
3. Nhận xét:
Có thể dễ dàng nhận thấy, tỉ lệ chất lượng hai mặt giáo dục của lớp 12 C12
trong học kì 2 cao hơn học kì 1(nguồn minh chứng được ghi nhận trong hồ
sơ của
nhà trường). Từ những kết quả thu nhận được trong quá trình ứng dụng xây dựng
kế hoạch chủ nhiệm theo các định hướng, biện pháp mà đề tài đã đề xuất, chúng
tôi mạnh dạn khẳng định rằng, vấn đề mà đề tài nghiên cứu hoàn toàn phù hợp với
lí luận và thực tiễn giáo dục. Kết quả thực nghiệm bước đầu đã khẳng định tính
khả
thi, tính hiệu quả của các biện pháp mà đề tài đã đưa ra. Các đề xuất của đề tài
được giáo viên và học sinh đánh giá cao.
IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Công tác chủ nhiệm là một nhiệm vụ quan trọng trong công tác giáo dục của
Nhà trường. Nó góp phần to lớn trong việc nâng cao chất lượng học tập, xây dựng
và rèn luyện đạo đức, nhân cách của học sinh. Nhà trường và giáo viên phải xác
định, mình chính là nơi để giúp các em tr
ở thành những công dân tốt, tạo nên
những “sản phẩm” giáo dục tốt nhất mà xã hội yêu cầu. Chúng tôi cho rằng công
tác chủ nhiệm là một nhiệm vụ không hề dễ dàng, công tác này đòi hỏi ở người
thầy không chỉ có “tâm” mà phải có sự tinh tế, khéo léo và nghệ thuật để ứng xử
cho phù hợp. Trong đó, công tác giáo dục, hướng dẫn và thúc đẩy quá trình tự học
cho những học sinh có lực học yếu, cá biệt là m
ột trong những nhiệm vụ khó khăn
nhất, đòi hỏi sự tỉ mỷ, nỗ lực, tân tâm của thầy cô chủ nhiệm.
Nâng cao được chất lượng học tập của học sinh có lực học yếu, học sinh cá


NGƯỜI THỰC HIỆN

Nguyễn Đức Bảng
SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM
TRƯỜNG THPT VÕ TRƯỜNG TOẢN Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Cẩm Mỹ, ngày 29 tháng 05 năm 2013
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2012 – 2013

Tên sáng kiến kinh nghiệm:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN VÀ THÚC ĐẨY
QUÁ TRÌNH TỰ HỌC CỦA HỌC SINH YẾU VÀ CÁ BIỆT TRONG LỚP CHỦ

Khá
Đạt

- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt
hiệu quả trong phạm vi rộng : Tốt
Khá Đạt
XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN THỦ TRƯỞNG ĐƠN
VỊ

SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM
TRƯỜNG THPT VÕ TRƯỜNG TOẢN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BÁO CÁO
THÀNH TÍCH ÔNG NGUYỄN ĐỨC BẢNG ĐỀ NGHỊ DANH HIỆU
CHIẾN SĨ THI ĐUA CẤP CƠ SỞ
I. Sơ yếu lý lịch bản thân và chức năng nhiệm vụ được giao.
1. Sơ yếu lý lịch:
- Họ và tên: NGUYỄN ĐỨC BẢNG
- Năm sinh: 16/09/1976
- Quê quán: Xã Đức Thạnh, huyện Mộ Đức, Tỉnh Quảng Ngãi
- Chức danh: Phó hiệu trưởng trường THPT Võ Trường Toản.
2. Nêu chức năng, nhiệm vụ được giao: Phụ trách cơ sở vật chất và các
hoạt động ngoài giờ lên lớp.

tích
Hiệu Trưởng
Phan Duy Khánh Nguyễn Đức Bảng

SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC

I. THƠNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Nguyễn Đức Bảng
2. Ngày tháng năm sinh: 16/09/1976
3. Nam, nữ: Nam
4. Địa chỉ: Số 112, tổ 4, ấp Bể Bạc, xã Xuân Đông, Cẩm Mó, Đồng Nai.
5. Điện thoại: : 061 3749688 (Cơ quan); ĐTDĐ: 0908 965964.
6. Fax: E-mail:
7. Chức vụ: Phó hiệu trưởng.
8. Đơn vị cơng tác: Trường THPT Võ Trường Toản.
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị (hoặc trình độ chun mơn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân
- Năm nhận bằng: 2000.
- Chun ngành đào tạo: vật lí – điện tử.
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chun mơn có kinh nghiệm: Dạy học và quản lí
- Số năm có kinh nghiệm: dạy học 11 năm; quản lí 2 năm
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây: 01 (Đề tài: M
ột số


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status