Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiết Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS
MỤC LỤC
I. PHẦN MỞ ĐẦU:.............................................................................. 2
1. Lí do chọn đề tài ................................................................................ 2
2. Mục tiêu và nhiệm vụ.:....................................................................... 3
3. Đối tượng nghiên cứu:........................................................................ 3
4. Phạm vi nghiên cứu............................................................................ 3
5. Phương pháp nghiên cứu:................................................................... 4
II. PHẦN NỘI DUNG........................................................................... 4
1.Cơ sở lí luận:......................................................................................... 4
2. Thực trạng………………………………………………………….... 5
3. Giải pháp, biện pháp………………………………………………..... 8
4. Kết quả…………………………………………………………..........16
III. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ……….................................17
1. Kết luận:……………………………………………………….............17
2. Kiến nghị:………………………………………………………...........18
* Nhận xét của hội đồng sáng kiến ………………………………….........19
* Tài liệu tham khảo.....................................................................................20
MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO GIÁO VIÊN SỬ DỤNG LỒNG GHÉP TIẾNG
VIỆT CHO TRẺ VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
Người thực hiện: Lê Thị Hạnh Viên
1
Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiết Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS
I. PHẦN MỞ ĐẦU:
Bản thân tôi là một người Hiệu trưởng của trường mầm non Cư Pang,
quản lý với tổng số CBVC là 33 người và số cháu là 259 cháu. Trong đó số trẻ
dân tộc thiểu số chiếm 90%. Hầu hết trẻ dân tộc Êđê đến trường đều nói bằng
tiếng mẹ đẻ, không nghe được tiếng Việt, bố mẹ trẻ lại ít quan tâm đến việc
động viên trẻ đến lớp. Là người quản lý tôi đã trăn trở để xây dựng kế hoạch từ
đầu năm học, phân công giáo viên trực tiếp đến nhà trẻ để huy động trẻ ra lớp.
Đầy cũng là một điều khó khăn rồi nhưng còn vấn đề gian nan hơn nữa là
trẻ ngồi trong lớp hay chọc nghẹo, không tích cực tham gia vào các hoạt động,
cô nói điều gì trẻ cũng không hiểu cứ nhìn cô và không trả lời khi cô giáo hỏi
Người thực hiện: Lê Thị Hạnh Viên
2
Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiết Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS
trẻ. Cô nói trẻ không hiểu, khi cô hỏi cháu trả lời câu hỏi lặp lại của cô ví dụ :
Con tên gì ? trẻ trả lời lặp lại con tên gì ?; ví dụ: Cô nói con “Cò” thì trẻ nói là
con “co”. Đối với trẻ dân tộc thiểu số chịu rất nhiều thiệt thòi. Điều kiện tiếp xúc
với môi trường xung quanh, xã hội còn ít, tầm nhìn của trẻ còn hạn chế, tất cả đồ
dùng học tập đối với trẻ cũng thật là xa lạ, nên khi trẻ tiếp xúc còn bỡ ngỡ. Bởi
vì trẻ không hiểu hết ngôn ngữ tiếng Việt của cô.
Với tình hình thực tế của trường đa số là người đồng bào DTTS, bản thân
tôi luôn trăn trở, suy nghĩ nhiều lúc thấy vô cùng lo lắng, phải dùng phương
pháp gì? để giúp trẻ dễ hiểu và nói được Tiếng việt một cách trôi chảy. Với tầm
quan trọng đó bản thân tôi chọn đề tài “ Một số biện pháp hướng dẫn giáo viên
dạy lồng ghép Tiếng Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS” với hy vọng đề tài này
sẽ góp phần không nhỏ vào công tác giảng dạy của giáo viên ở vùng sâu vùng
xa, vùng đồng bào dân tộc thiếu số như hiện nay.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài.
Phương pháp kiểm tra, đánh giá: Tôi kiểm tra tiếng Việt của trẻ trong
một năm học 2015-2016, trẻ ở nhà so sánh với trẻ đến lớp học hàng ngày.
Phương pháp thực nghiệm: Đây là phương pháp chính, để kiểm nghiệm
những phương pháp và biện pháp nêu ra có liên quan đến sáng kiến kinh
nghiệm. Sáng kiến này được thực hiện trên điều kiện thực tế của trường mầm
non Cư Pang năm học 2015-2016.
II.PHẦN NỘI DUNG:
1.Cơ sở lý luận để thực hiện đề tài
Tiếng Việt rất quan trọng đối với trẻ em. Đặc biệt đối với trẻ dân tộc thiểu
số. Thực tế hiện nay đa số trẻ vùng sâu, vùng xa vùng dân tộc thiểu số, trước khi
đến trường chỉ sống trong gia đình, ở các thôn buôn, trong môi trường tiếng mẹ
đẻ. Do vậy trẻ em dân tộc thiểu số chỉ nắm được tiếng mẹ đẻ. Trẻ biết rất ít hoặc
thậm trí không biết tiếng Việt. Trong khi đó tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức
dùng trong trường và cơ sở giáo dục khác. Trên thực tế tiếng nói các dân tộc
thiểu số, hầu như chưa có vai trò rõ rệt trong việc hỗ trợ tiếng Việt trong giáo
dục. Vì vậy, cho đến nay nhìn chung việc dạy tiếng Việt cho trẻ em vùng đồng
bào DTTS đạt kết quả thấp. Đặc biệt ở trường mầm non Cư Pang chúng tôi đa
số các cháu dân tộc Êđê nghe và nói tiếng Việt rất kém, mặc dù giáo viên đã dạy
lồng ghép và nói bằng hai thứ tiếng nhưng trẻ hiểu còn chậm. Khi trẻ ở gia đình
thường tiếp xúc tiếng mẹ đẻ do vậy tiếng Việt không phải là một phương tiện sử
dụng dễ dàng đối với học sinh dân tộc thiểu số. Ở đây học sinh chỉ dùng tiếng
Việt nói với giáo viên khi cần thiết, còn ngoài ra trẻ vẫn thường xuyên sử dụng
ngôn ngữ riêng của dân tộc mình. Đa phần giáo viên phản ánh tình trạng người
dạy và người học không hiểu nhau. Chính vì vậy dẫn đến chất lượng chăm sóc
Giáo Dục trẻ không thể đạt được kết quả như mong muốn. Vì vậy là người quản
lý một trường mầm non vùng sâu, vùng xa với 90% các cháu là dân tộc thiểu số.
Tôi nhận thấy cần có những biện pháp cần bổ sung, tăng cường tiếng Việt cho
trẻ ngay từ độ tuổi mầm non.
Là người lãnh đạo nhà trường cần tích cực tham mưu với cấp uỷ chính
quyền địa phương, kịp thời và bài bản, có hiệu quả, tập chung chỉ đạo sâu sát cơ
chế nên trong quá trình giao tiếp đối với trẻ gặp nhiều khó khăn.
Mặt bằng kinh tế của người dân còn thấp, chủ yếu làm ruộng, làm nương,
một số cha mẹ học sinh chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc dạy tiếng
Việt cho trẻ có tác dụng như thế nào trong việc nhận thức và hình thành nhân
cách của trẻ.
Tài liệu dạy dạy tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số chưa có.
2.2 Thành công, hạn chế:
* Thành công:
Cha mẹ học sinh đa số đã quan tâm đến việc học của con em mình nên số
trẻ ra trường lớp mầm non tương đối tăng so với các năm học trước như: Năm
học 2014-2015 tổng số học sinh 227 cháu; năm học 2015-2016 tổng số học sinh
259 cháu.
* Hạn chế:
Đa số giáo viên trẻ, mới ra trường nên kinh nghiệm chưa cao trong việc
dạy lồng ghép Tiếng Việt để dạy cho trẻ.
90 % học sinh là người đồng bào dân tộc thiểu số tâm lí nhút nhát, hay sợ
hãi, ngại giao tiếp với người lạ nên gặp nhiều khó khăn trong công tác dạy Tiếng
Việt cho trẻ.
Trẻ chưa có tâm lí sẵn sàng cho một môi trường học tập mới.
Người thực hiện: Lê Thị Hạnh Viên
5
Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiết Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS
Một số cha mẹ học sinh chưa quan tâm đến con em mình, phó mặc cho
nhà trường, cho nên việc kết hợp giữa gia đình và nhà trường còn gặp nhiều khó
khăn.
Người thực hiện: Lê Thị Hạnh Viên
6
Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiết Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS
Trẻ chưa tự tin, còn nhút nhát trong các hoạt động giao tiếp. Trẻ chưa có
tâm lí sẵn sàng cho một môi trường học tập mới
Một số cha mẹ chưa thực sự quan tâm tới việc học tập dẫn đến khi tiếp
xúc với người khác trẻ còn dùng tiếng mẹ đẻ.
2.5 Phân tích, đánh giá thực trạng mà đề tài đã đặt ra.
Vào đầu năm học khi nhà trường chưa có kế hoạch đưa các biện pháp dạy
tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số thì chúng ta thấy kết quả được thể hiện qua
bảng kiểm tra đầu năm như sau:
Lĩnh vực GD trẻ
Phát triển ngôn ngữ
Phát triển nhận thức
Phát triển TC-XH
Phát triển thể chất
Phát triển thẩm mỹ
Trẻ không hiểu
102/209=48,8%
105/209=50,2%
103/209=49,2%
80/209=38,2%
70/209=33,4%
Trẻ hiểu
3. Giải pháp, biện pháp:
Người thực hiện: Lê Thị Hạnh Viên
7
Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiết Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS
3.1 Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:
Tìm ra các giải pháp, biện pháp giúp giáo viên nắm vững phương pháp sử
dụng lồng ghép dạy Tiếng Việt một cách có hiệu quả đối với trẻ.
3.2 Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
a. Giúp trẻ phát triển toàn diện các lĩnh vực như: phát triển về thể chất,
tình cảm, nhận thức, ngôn ngữ, thẩm mỹ. Hình thành những yếu tố đầu tiên của
nhân cách con người mới, hình thành ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí,
năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết phù
hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền
tảng cho việc học ở những lớp tiếp theo.
Giúp cho cha mẹ học sinh nhận thức được tầm quan trọng trong việc học
Tiếng Việt của trẻ.
* Hướng dẫn giáo viên dạy trẻ nhận biết và phát âm đúng 29 chữ cái
Tiếng Việt:
Cung cấp Tiếng Việt cho trẻ qua môn làm quen chữ cái
Nội dung chủ yếu của việc dạy này là giúp trẻ nhận biết và phát âm đúng
chữ cái. Chúng ta có thể coi việc giúp trẻ làm quen với chữ cái là cốt lõi của việc
làm quen với Tiếng việt có nghĩa là việc cho trẻ làm quen với chữ cái chưa phải
là tất cả những nội dung công việc giúp trẻ làm quen với Tiếng việt .Cách gọi
làm quen với Tiếng việt thường gợi ra một phạm vi nội dung rộng rãi hơn so với
cách gọi làm quen với chữ cái .Do đó có thể thấy nội dung dạy trẻ làm quen với
thấy đồ dùng, đồ chơi trẻ rất vui, thích tìm hiểu sờ mó và cùng nhau khám phá
.nắm bắt được đặc điểm này tôi đã không ngừng học sưu tầm những trò chơi
hay, mới lạ trên báo chí, thông tin đại chúng để đưa vào dạy trẻ phù hợp theo nội
dung từng chủ điểm.
Ví dụ: Trò chơi tìm chữ cái H-K trong bài thơ " Hoa kết trái"
Thông qua các trò chơi trẻ được phát triển ngôn ngữ qua các chữ cái đã học như
chữ H-K, phát âm đúng các chữ cái đã học qua trò chơi , " Xếp chữ cái bằng hột
hạt". " Xếp các nét cơ bản tạo thành chữ cái"...
Bên cạnh đó tôi luôn hướng dẫn giáo viên làm thêm một số đồ dùng tự tạo
có gắn chữ cái đã học ở các góc trong lớp, ngoài lớp học. Từ đó cũng góp phần
không nhỏ vào việc cung cấp vốn Tiếng việt cho trẻ.
Cung cấp Tiếng việt thông qua tập tô :
Thông qua môn tập tô nhằm cung cấp cho trẻ những kiến thức cơ bản về
cách tô nét cơ bản và tô đúng mẫu quy trình chữ cái đối với trẻ buôn đồng bào
DTTS lại càng khó khăn. Vì trẻ chưa biết cầm bút, chưa có ý thức học tập. Bên
cạnh đó tính cách của trẻ rất hiếu động, ít chịu ngồi im và lắng nghe cô dạy. Vì
trẻ từ nhỏ đã quá tự do, ít được sự quan tâm dạy dỗ của ba mẹ. Vì vậy trẻ rất cần
sự uốn nén dìu dắt của cô giáo ngay từ những buổi học đầu tiên. Bản thân tôi
làm công tác quản lý luôn trăn trở, suy nghĩ để tìm ra những biện pháp phù hợp
áp dụng vào dạy trẻ, giúp cháu tô đúng quy trình, nét tô mạch lạc, cầm bút đúng
cách và ham thích học. Tôi hướng dãn tập tô các nét cơ bản của chữ cái ( ở một
số tuần đầu ) các nét thẳng, nét cong, nét móc trên, nét mọc dưới, nét khuyết trên
, nét khuyết dưới... sau tập tô dần các chữ cái viết thường, in thường. Cô luyện
cho trẻ tập tô chữ theo từng bước như sau: Nhận dạng mẫu chữ, tìm hiểu cấu tạo
chữ gồm những nét cơ bản nào.
Ví dụ : Chữ h in thường gồm có nét thẳng đứng kết hợp nét móc trên.
Chữ h viết thường gồm có nét khuyết trên kết hợp nét móc hai đầu ...
Tôi hướng dấn cho giáo viên cách thực hiện trẻ tập tô như sau: Điểm đặt
bút trên một ô li nhỏ đưa bút lên sang phải một nét xiên đến ô li thứ 5 đưa bút
cong sang trái sổ thẳng cho trẻ tô viết được nét khuyết trên, tiếp theo trẻ đưa bút
tiếp tục áp dụng một số biện pháp để nâng cao vốn Tiếng Việt cho trẻ thông qua
môn văn học.
Cung cấp vốn Tiếng việt cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi :
Thực tế như trường chúng tôi cho ta thấy rằng giáo viên người kinh dạy
cho trẻ vùng đồng bào DTTS bất đồng ngôn ngữ rất khó khăn trong giao tiếp, vì
vậy ngoài những biện pháp nêu trên tôi còn cho giáo viên tham gia học lớp tiếng
Êđê, sau khi giáo viên áp dụng trong công tác giảng dạy càng ngày có hiệu quả
hơn trong cung cấp vốn tiếng việt cho trẻ thông qua hoạt động ở mọi lúc mọi
nơi.
Như chúng ta đã biết khả năng tiếp thu của trẻ dân tộc thiểu số rất chậm,
mau quên nhưng khi đã nhớ được thì lại nhớ rất lâu nên tôi tiến hành cho trẻ tiếp
xúc với vốn tiếng việt bằng phương châm " Học nữa, học mãi" cho nên việc
cung cấp ngôn ngữ Tiếng việc ở mọi lúc, mọi nơi vô cùng quan trọng.
Trong giờ đón trẻ tôi hướng dẫn cho giáo viên luôn thân thiện với trẻ, gọi
trẻ ân cần vui vẻ, thương yêu trẻ, sửa sang quần áo, chãi tóc cho trẻ và hỏi
những câu hỏi như: Ai mua áo quần đẹp cho con. Nhà con gồm có những ai ?.
Nhà con có mấy anh chị em?; bố con làm việc gì ?; mẹ con có thương con
không?. ...Qua trò chuyện với trẻ như vậy giáo viên nắm được khả năng phát âm
của mỗi trẻ để có biện pháp và giành nhiều thời giờ hơn giúp trẻ phát âm đúng,
phát âm chuẩn.
Giờ chơi tự do tôi cho giáo viên dẫn trẻ đi xung quanh trường, trò chuyện
với trẻ về vườn rau, cây cảnh, hỏi trẻ về một số loại cây có gắn các chữ cái đã
Người thực hiện: Lê Thị Hạnh Viên
10
Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiết Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS
học, giáo viên hướng dẫn trẻ phát âm nhiều lần và cho trẻ chỉ, phát âm chữ cái
quanh... Khác với trường mầm non, trẻ sống trong cuộc sống, sinh hoạt như gia
đình. Hơn nữa ở mỗi giai đoạn phát triển đều có những yêu cầu về tâm, sinh lý,
về xã hội đòi hỏi mỗi học sinh phải thích ứng với hoạt động học tập. Nếu chúng
ta không chuẩn bị tốt cho trẻ vốn Tiếng Việt thì việc học tập sau này sẽ không
đạt kết quả như mong muốn.
Trong điều kiện hiện tại trường chúng tôi nhận thấy học sinh đa số là
người đồng bào DTTS cần phải suy nghĩ, làm thế nào đó để giúp giáo viên, cha
Người thực hiện: Lê Thị Hạnh Viên
11
Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiết Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS
mẹ học sinh hiểu được tầm quan trọng trong việc nắm vững Tiếng Việt khi vào
trường phổ thông. Vì vậy mà tôi đã tìm ra được một số giải pháp sau:
b1: Làm tốt công tác tuyên truyền cho cha mẹ học sinh trên địa bàn hiểu
được tầm quan trọng công tác dạy trẻ nắm được được Tiếng Việt
Vào đầu năm học Ban giám hiệu nhà trường tổ chức triển khai đến tận cán
bộ giáo viên về nhiệm vụ năm học đề ra và nhất là các chuyên đề lồng ghép
Tiếng Việt cho trẻ em vùng đồng bào DTTS. và kịp thời chỉ đạo cho chuyên
môn hướng dẫn giáo viên làm tốt công tác dạy Tiết Việt cho trẻ nắm được khi
bước vào trường phổ thông.
Xây dựng kế hoạch tuyên truyền tới cha mẹ học sinh về công tác huy
động trẻ đến trường, tổ chức họp cha mẹ học sinh phối hợp về công tác chăm
sóc giáo dục trẻ và kết hợp lồng ghép tăng cường Tiếng Việt cho trẻ.
Về phía nhà trường thường xuyên phối hợp với chuyên môn tổ chức thao
giảng, dự giờ cho giáo viên qua các môn học như : Làm quen chữ cái, thơ
chuyện, phát triển vận động. Qua các hội thi sẽ tạo nên sự chuyển biến một cách
cơ tay, phối hợp các trò chơi vận động giúp cho cơ thể dẻo dai và đôi tay khéo
léo sau này.
Giáo dục cho trẻ có ý thức tự giác về bản thân như: Chơi xong tự cất đồ
chơi. Đặt câu hỏi để khích thích trẻ biểu lộ những suy nghĩ, cảm xúc của mình
thông qua tranh ảnh, hình vẽ, thơ, truỵên. Giáo dục trẻ có thói quen tự phục vụ
bản thân như: biết tự mặc áo, sắp xếp bàn học, bàn ăn…. Giúp trẻ lựa chọn và
tham gia các hoạt động chơi nhằm phát triển tính tự tin, tự lực và sáng tạo của
trẻ, từ đó kích thích lòng mong mỏi, hào hứng được đến trường học.
Ngôn ngữ là phương tiện quan trọng giúp trẻ phát triển trí tuệ, tiếp thu
kiến thức học tập ở trường phổ thông. Hình thành và phát triển kỹ năng nghe,
nói, tiền đọc, tiền viết cho trẻ là nền tảng để trẻ hiểu về thế giới chữ viết và tiếp
nhận nhiều tri thức mới.
b3. Phát triển nhận thức.
Như chúng ta đã biết, ở cuổi tuổi MG chú ý có chủ định đang hình thành
và phát triển nhận thức của trẻ, song chú ý không chủ định vẫn chiếm ưu thế. Để
giúp trẻ giải quyết tốt nhiệm vụ học tập ở trường phổ thông sau này, người giáo
viên cần rèn luyện cho các cháu biết tập trung chú ý vào những vấn đề cần thiết,
nhận thức bằng cách giao nhiệm vụ khi các cháu tham gia vào các hoạt động.
Ví dụ: Trong giờ hoạt động tạo hình giáo viên tổ chức cho trẻ hoạt động
trong lớp theo các nhóm, dưới sự phân công hướng dẫn của giáo viên: Hướng
dẫn cách tô màu sao cho không trùng khít trên trang giấy, các nhóm tập trung vẽ
theo sự hướng dẫn của cô, khi tạo được sản phẩm đẹp cuối giờ cô cho trẻ tự
nhận xét bài vẽ của trẻ, trẻ biết được bài đẹp, bài vẽ chưa hoàn thành, nhận xét
đánh giá qua các câu hỏi của cô từ đó tăng cường thêm vốn Tiếng Việt cho trẻ.
Mỗi giáo viên cần có trách nhiệm kết hợp giữa gia đình với nhà trường
gần gũi với trẻ hơn qua các hành động cử chỉ để trẻ dần làm quen với Tiếng Việt
một chác tự nhiên không gò bó và thông qua môn học trẻ có thể chủ động tập
trung lắng nghe hiểu, tự tin, làm đúng trẻ sẽ tự nói và thực hành với bạn của
mình; giáo viên cần cho trẻ thực hành ở mỗi lần học, giáo viên chỉ sử dụng ngôn
ngữ đơn giản, gắn gọn, không dẫn dắt nhiều vì trẻ chưa hiểu Tiếng Việt. Khi dạy
lớn. Khâu chuẩn bị này khó thực hiện được nếu không có sự phối hợp nhịp
nhàng giữa nhà trường với gia đình trẻ trong việc đảm bảo chế độ dinh dưỡng,
chế độ vui chơi, nghỉ ngơi cho trẻ.
Ví dụ : Qua môn thể dục bò, chạy, ném, trườn, leo trèo phát triển được tố
chất vận động như nhanh nhẹn, mạnh dạn, bền bỉ và khéo léo nhằm cho trẻ có
đủ năng lực đến trường
b5. Phát triển tình cảm xã hội.
Trong chương trình chăm sóc GDMN mới hiện nay, nhất là trong giao
tiếp tình cảm đối với trẻ qua các hoạt động dạy học là môn học giúp trẻ trong
giao tiếp cũng như mọi hoạt động khác. Để đạt được những hiệu quả cao trong
giao tiếp tình cảm xã hội đối với trẻ giáo viên cần tạo điều kiện cho trẻ rèn luyện
một số kỹ năng sống cơ bản qua hoạt động học.
Người thực hiện: Lê Thị Hạnh Viên
14
Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiết Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS
Ví dụ: Thông qua đề tài thơ, chuyện “ Cô và mẹ” khi tiếp xúc với bài thơ
trẻ hiểu được tình cảm giữa mẹ và con, giữa trẻ và cô giáo; qua đàm thoại các
câu hỏi, giáo viên dùng những câu hỏi đơn giản, dễ trả lời để trẻ suy nghĩ trước
khi trả lời với cô, vì ở đây trẻ em người đồng bào DTTS không như vùng thuận
lợi khi trả lời còn lúng túng vì vậy cô giáo cần gợi ý để trẻ trả lời được những
câu hỏi của cô. Cô lồng ghép hướng dẫn các trò chơi như bật qua vòng thể dục,
lên gắn tranh nội dung của bài thơ, câu chuyện. Qua các hoạt động giúp trẻ phát
triển tốt hơn về tình cảm xã hội nói chung và tình cảm của mẹ và cô giáo nói
riêng.
b6. Phát triển thẩm mỹ
15
Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiết Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS
3.3 Điều kiện để thực hiện các giải pháp, biện pháp:
Để thực hiện các giải pháp, biện pháp này cần dựa vào tinh hình thực tể
của lớp, của thôn, buôn nơi mình công tác
Tham khảo tài liệu, nghiên cứu trước khi thực hiện.
Đề tài nghiên cứu phải đảm bảo tính thực thi, tính sư phạm, tính phổ
biến, tính sáng tạo hợp lí, phải đảm bảo được phương pháp nghiên cứu phù hợp
với đối tượng nghiên cứu.
3.4 Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp:
Các giải pháp, biện pháp khi thực hiện đề tài có mối quan hệ liên quan
mật thiết với nhau, biện pháp này nó sẽ hỗ trợ cho biện pháp kia nhằm hòa
quyện các nội dung lại với nhau để đi đến một thể thống nhất là tìm ra các giải
pháp tối ưu nhất nhưng vẫn đảm bảo được tính chính xác, khoa hoc và lô gíc
giữa các giải pháp và biện pháp.
3.5 Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu:
Sau một thời gian thực hiện, là một hiệu trưởng tôi rất phấn khởi khi kết
quả đạt được rất cao:
Trẻ em đã nắm được vốn Tiếng Việt một cách thành thạo, tích cực tham
gia vào các hoạt động cùng cô để phát triển nhận thức, phát triển ngôn ngữ...
đồng thời giúp trẻ phát triển toàn diện về mọi mặt
Kết quả sau khi hướng dẫn giáo viên sử dụng dạy Tiếng Việt. Giáo viên
có nhiều kinh nghiệm hơn trong việc công tác dạy Tiếng Việt cho trẻ em vùng
đồng bào DTTS.
4.Kết quả thu được quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề
nghiên cứu
94/209=44,9%
84/209=40,1%
85/209=40,6%
80/209=38,2%
70/209=33,4%
115/209=55,0%
125/209=59,8%
124/209=59,3%
129/209=61,7%
139/209=66,5%
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:
1. Kết luận
Việc cung cấp tăng cường vốn Tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số là một
vấn đề rất khó. Đòi hỏi ở cần có sự chỉ đạo sáng suốt của rngười quản lý trường
học và giáo viên phải thật sự yêu thương gần gũi trẻ. Luôn tạo tình cảm cho trẻ
giao lưu trò chuyện với cô, nghe hiểu lời nói của cô. Cuốn hút trẻ tham gia vào
các hoạt động phát triển ngôn ngữ thực sự hứng thú. Được thực hiện thông qua
các hoạt động Giáo Dục ở lớp và được tích hợp vào một số hoạt động khác trong
chương trình chăm sóc giáo dục trẻ. Từ những vốn kinh nghiệm tích luỹ của bản
thân về việc tăng cường tiếng việt ấy tôi đã áp dụng vào dạy dùng đồng bào
DTTS ở trường tôi. Cuối năm học trẻ 95% - 97% trẻ dân tộc thiểu số nói được
tiếng việt lưu loát, đủ câu, đủ ý. Chỉ còn 0,3% số trẻ nói chưa đươc thành thạo
nhưng cũng đã nghe hiểu được tiếng Việt. Qua việc áp dụng sáng kiến kinh
nghiệm “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số” vào trường mầm non
Cư Pang chúng tôi, tuy là một trường 90% trẻ dân tộc thiểu số.
Cha mẹ học sinh đã hiểu được tầm quan trọng trong công tác dạy Tiếng
Việt cho trẻ em dân tộc thiểu số. Cha mẹ học sinh rất thích con mình hiểu biết
xây dựng CSVC nhằm đảm bảo công tác dạy và học ở vùng đồng bào DTTS.
Trên đây là sáng kiến kinh nghiệm mà bản thân tôi đã rút ra từ tình hình
thức tế ở trường MN Cư Pang. Qua sáng kiến kinh nghiệm đã viết không thể
tránh khỏi những sai sót. Rất mong sự góp ý của cấp trên, để sáng kiến này hoàn
thiện và được áp dụng vào thực tế./.
Người viết
Lê Thị Hạnh Viên
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
Người thực hiện: Lê Thị Hạnh Viên
18
Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiết Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Người thực hiện: Lê Thị Hạnh Viên
giáo viên Mầm Non năm học 2014-2015.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo
4
Tài liệu tập huấn về phát triển tiếng Việt
cho trẻ dân tộc vùng khó khăn.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo
Tài liệu BDTX Năm 2013 gồm 44 mô
đun.
BỒI DƯỠNG
THƯỜNG XUYÊN
GIÁO VIÊN MẦM
NON
(Ban hành kèm theo
Thông tư số 36 /
2011/TT- BGDĐT ngày
17 tháng 8 năm 2011
của Bộ trưởng Bộ Giáo
dục và Đào tạo)
5
Người thực hiện: Lê Thị Hạnh Viên