SKKN một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép tiết việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS - Pdf 35

Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiết Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS

MỤC LỤC
I. PHẦN MỞ ĐẦU:.............................................................................. 2
1. Lí do chọn đề tài ................................................................................ 2
2. Mục tiêu và nhiệm vụ.:....................................................................... 3
3. Đối tượng nghiên cứu:........................................................................ 3
4. Phạm vi nghiên cứu............................................................................ 3
5. Phương pháp nghiên cứu:................................................................... 4
II. PHẦN NỘI DUNG........................................................................... 4
1.Cơ sở lí luận:......................................................................................... 4
2. Thực trạng………………………………………………………….... 5
3. Giải pháp, biện pháp………………………………………………..... 8
4. Kết quả…………………………………………………………..........16
III. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ……….................................17
1. Kết luận:……………………………………………………….............17
2. Kiến nghị:………………………………………………………...........18
* Nhận xét của hội đồng sáng kiến ………………………………….........19
* Tài liệu tham khảo.....................................................................................20

Người thực hiện: Lê Thị Hạnh Viên

1


Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiết Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS

MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO GIÁO VIÊN SỬ DỤNG LỒNG GHÉP TIẾNG
VIỆT CHO TRẺ VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ

I. PHẦN MỞ ĐẦU:

thoại, thảo luận, trình bày những hiểu biết, suy nghĩ, giải thích một vấn đề nào
đó trong cuộc sống như: Kể lại được sự việc, câu chuyện đã được nghe, được
chứng kiến, hay tự mình nghĩ ra, sáng tạo ra. Trẻ cần tập nghe, hiểu lời nói của
cô của những người xung quanh. Sau đó tập trình bày suy nghĩ và sự hiểu biết
của mình theo ngôn ngữ Tiếng việt. Muốn phát triển ở trẻ kỷ năng, hiểu và nói
được ngôn ngữ Tiếng việt theo cô, theo tôi trước hết phải cuốn hút trẻ tham gia
vào hoạt động phát triển ngôn ngữ qua trò chuyện, đàm thoại, kể chuyện, đọc
cho trẻ nghe, cho trẻ làm quen với chữ cái và thông qua các môn học khác, hoặc
ở mọi lúc mọi nơi... Là vô cùng quan trọng đối với trẻ.
Bản thân tôi là một người Hiệu trưởng của trường mầm non Cư Pang,
quản lý với tổng số CBVC là 33 người và số cháu là 259 cháu. Trong đó số trẻ
dân tộc thiểu số chiếm 90%. Hầu hết trẻ dân tộc Êđê đến trường đều nói bằng
tiếng mẹ đẻ, không nghe được tiếng Việt, bố mẹ trẻ lại ít quan tâm đến việc
động viên trẻ đến lớp. Là người quản lý tôi đã trăn trở để xây dựng kế hoạch từ
đầu năm học, phân công giáo viên trực tiếp đến nhà trẻ để huy động trẻ ra lớp.
Đầy cũng là một điều khó khăn rồi nhưng còn vấn đề gian nan hơn nữa là
trẻ ngồi trong lớp hay chọc nghẹo, không tích cực tham gia vào các hoạt động,
cô nói điều gì trẻ cũng không hiểu cứ nhìn cô và không trả lời khi cô giáo hỏi
trẻ. Cô nói trẻ không hiểu, khi cô hỏi cháu trả lời câu hỏi lặp lại của cô ví dụ :
Con tên gì ? trẻ trả lời lặp lại con tên gì ?; ví dụ: Cô nói con “Cò” thì trẻ nói là
con “co”. Đối với trẻ dân tộc thiểu số chịu rất nhiều thiệt thòi. Điều kiện tiếp xúc
với môi trường xung quanh, xã hội còn ít, tầm nhìn của trẻ còn hạn chế, tất cả đồ
dùng học tập đối với trẻ cũng thật là xa lạ, nên khi trẻ tiếp xúc còn bỡ ngỡ. Bởi
vì trẻ không hiểu hết ngôn ngữ tiếng Việt của cô.

Người thực hiện: Lê Thị Hạnh Viên

3





Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiết Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS

Thời gian nghiên cứu từ tháng 8 năm 2015 đến tháng 01 năm 2016
5.Phương pháp nghiên cứu:
Sáng kiến này được thực hiện với những phương pháp sau.
Phương pháp tham khảo tài liệu: Phương pháp này giúp cho sự định
hướng của sáng kiến.
Phương pháp kiểm tra, đánh giá: Tôi kiểm tra tiếng Việt của trẻ trong
một năm học 2015-2016, trẻ ở nhà so sánh với trẻ đến lớp học hàng ngày.
Phương pháp thực nghiệm: Đây là phương pháp chính, để kiểm nghiệm
những phương pháp và biện pháp nêu ra có liên quan đến sáng kiến kinh
nghiệm. Sáng kiến này được thực hiện trên điều kiện thực tế của trường mầm
non Cư Pang năm học 2015-2016.
II.PHẦN NỘI DUNG:
1.Cơ sở lý luận để thực hiện đề tài
Tiếng Việt rất quan trọng đối với trẻ em. Đặc biệt đối với trẻ dân tộc thiểu
số. Thực tế hiện nay đa số trẻ vùng sâu, vùng xa vùng dân tộc thiểu số, trước khi
đến trường chỉ sống trong gia đình, ở các thôn buôn, trong môi trường tiếng mẹ
đẻ. Do vậy trẻ em dân tộc thiểu số chỉ nắm được tiếng mẹ đẻ. Trẻ biết rất ít hoặc
thậm trí không biết tiếng Việt. Trong khi đó tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức
dùng trong trường và cơ sở giáo dục khác. Trên thực tế tiếng nói các dân tộc
thiểu số, hầu như chưa có vai trò rõ rệt trong việc hỗ trợ tiếng Việt trong giáo
dục. Vì vậy, cho đến nay nhìn chung việc dạy tiếng Việt cho trẻ em vùng đồng
bào DTTS đạt kết quả thấp. Đặc biệt ở trường mầm non Cư Pang chúng tôi đa
số các cháu dân tộc Êđê nghe và nói tiếng Việt rất kém, mặc dù giáo viên đã dạy
lồng ghép và nói bằng hai thứ tiếng nhưng trẻ hiểu còn chậm. Khi trẻ ở gia đình
thường tiếp xúc tiếng mẹ đẻ do vậy tiếng Việt không phải là một phương tiện sử
dụng dễ dàng đối với học sinh dân tộc thiểu số. Ở đây học sinh chỉ dùng tiếng

tập thể cán bộ, giáo viên trong nhà trường và sự hỗ trợ của nhà tài trợ công ty cà
phê Dăk Man. Đã xây dựng CSVC, tạo cảnh quan môi trường xanh – sạch – đẹp
để cha mẹ học sinh yên tâm cho trẻ đến trường.

Người thực hiện: Lê Thị Hạnh Viên

6


Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiết Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS

Đội ngũ giáo viên là người địa phương, đã thực sự yên tâm trong công tác
giảng dạy. Và thực hiện tốt chuyên đề về tăng cường Tiếng Việt cho trẻ em
vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
* Khó khăn:
Một số điểm lẻ còn học nhờ ở nhà cộng đồng và trường Tiểu học nên bất
cập trong việc giảng dạy. Giáo viên dạy trẻ DTTS hiểu biết tiếng DT còn hạn
chế nên trong quá trình giao tiếp đối với trẻ gặp nhiều khó khăn.
Mặt bằng kinh tế của người dân còn thấp, chủ yếu làm ruộng, làm nương,
một số cha mẹ học sinh chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc dạy tiếng
Việt cho trẻ có tác dụng như thế nào trong việc nhận thức và hình thành nhân
cách của trẻ.
Tài liệu dạy dạy tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số chưa có.
2.2 Thành công, hạn chế:
* Thành công:
Cha mẹ học sinh đa số đã quan tâm đến việc học của con em mình nên số
trẻ ra trường lớp mầm non tương đối tăng so với các năm học trước như: Năm
học 2014-2015 tổng số học sinh 227 cháu; năm học 2015-2016 tổng số học sinh
259 cháu.
* Hạn chế:

non mới của Bộ GD&ĐT.
* Mặt yếu :
Phân hiệu lẻ ở 3 buôn còn thiếu CSVC lớp học, nên ảnh hưởng không nhỏ
đến công tác dạy và học của trẻ.
2.4 Các nguyên nhân,các yếu tố tác động
* Nguyên nhân dẫn đến thành công của đề tài này là.
Hiệu trưởng có trách nhiệm cao trong toàn bộ các công việc, các mặt hoạt
động của nhà trường. Đã chỉ đạo kịp thời cho chuyên môn tiến hành khảo sát
năng lực giáo viên trong trường vào đầu năm, theo dõi các hoạt động để tìm ra
nguyên nhân, có biện pháp giúp đỡ cho phù hợp.
Luôn bám sát và thực hiện tốt nhiệm vụ năm học mà ngành đã triển khai
một cách chủ động, sáng tạo dựa trên thực tế trường lớp, địa phương.
Người thực hiện: Lê Thị Hạnh Viên

8


Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiết Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS

Giáo viên nhiệt tình, chịu khó học hỏi kinh nghiệm để không ngừng nâng
cao chuyên môn, nghiệp vụ.
Thường xuyên trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp đặc biệt là những
đồng nghiệp công tác lâu năm trong trường.
* Hạn chế, yếu kém.
Trẻ chưa tự tin, còn nhút nhát trong các hoạt động giao tiếp. Trẻ chưa có
tâm lí sẵn sàng cho một môi trường học tập mới
Một số cha mẹ chưa thực sự quan tâm tới việc học tập dẫn đến khi tiếp
xúc với người khác trẻ còn dùng tiếng mẹ đẻ.
2.5 Phân tích, đánh giá thực trạng mà đề tài đã đặt ra.
Vào đầu năm học khi nhà trường chưa có kế hoạch đưa các biện pháp dạy

* Mặt mạnh:
Giáo viên đã tham gia tích cực trong công tác dạy Tiếng Việt cho trẻ em
vùng đồng bào DTTS, đã tuyên truyền tới các bậc cha mẹ học sinh biết được
tầm quan trọng của việc sử dụng Tiếng Việt trong trường Mầm non.
Luôn học hỏi trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, biết lắng nghe, biết sửa sai,
không bảo thủ nên chuyên môn nghiệp vụ tương đối vững vàng.
Các đồng chí giáo viên được bố trí 02 cô / lớp, 01 giáo viên người kinh,
01 giáo viên người đồng bào DTTS để tiện trong việc tiếp xúc với trẻ.

Người thực hiện: Lê Thị Hạnh Viên

9


Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiết Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS

Được sự quan tâm của các cấp nhất là công ty cà phê Dăk Man Việt Nam
trang bị về cơ sở vật chất cho nên thuận tiện trong việc giảng dạy và vui chơi
học tập của trẻ.
* Hạn chế
Do một số giáo viên người kinh ít tiếp xúc với trẻ em người đồng bào
DTTS cho nên bất đồng ngôn ngữ trong giao tiếp.
Tài liệu dùng cho giáo viên giảng dạy vùng đồng bào DTTS chưa có, giáo
viên phải tự tìm tòi, học hỏi cho nên còn bất cập trong công tác giảng dạy.

3. Giải pháp, biện pháp:
3.1 Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:
Tìm ra các giải pháp, biện pháp giúp giáo viên nắm vững phương pháp sử
dụng lồng ghép dạy Tiếng Việt một cách có hiệu quả đối với trẻ.
3.2 Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp

xác cấu tạo của chữ cái, cách phát âm để từ đó trẻ nghe cô phát âm để tìm được
chữ cái tương ứng, nhìn chữ cái phát âm được chữ cái tương ứng .
Ví dụ : Hôm nay cô cho trẻ nhận biết chữ h - k chẳng hạn :
Cô cho trẻ xem tranh " Hoa loa kèn" cho trẻ đọc từ : Hoa loa kèn
Trẻ nhận biết trong từ Hoa loa kèn có bao nhiêu tiếng ? Có mấy con chữ
cái ?
Rồi cô ghép thẻ từ rời cho cháu nhận biết dấu thanh tìm chữ đã học rồi
phát âm lại những chữ đó .Còn lại cô giới thiệu cho trẻ làm quen h- k, tôi phân
tích các nét cơ bản cấu tạo nên chữ cái H-K, cho trẻ phát âm chữ h-k nhiều lần
giúp trẻ khắc sâu cấu tạo của chữ cái và trẻ nhận biết một cách chính xác từng
chữ cái.
Cung cấp vốn Tiếng việt cho trẻ thông qua các trò chơi chữ cái :
Sau khi giúp trẻ làm quen và nắm được 29 chữ cái trong Tiếng việt tôi
tiến hành cho giáo viên thực hiện tiếp thông qua các trò chơi chữ cái.

Người thực hiện: Lê Thị Hạnh Viên

11


Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiết Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS

Điều đáng chú ý là trẻ Mẫu giáo Làng yều rất ham thích được học qua hình
ảnh trực quan, tổ chức hoạt động học thông qua các trò chơi .Mỗi khi được nhìn
thấy đồ dùng, đồ chơi trẻ rất vui, thích tìm hiểu sờ mó và cùng nhau khám phá
.nắm bắt được đặc điểm này tôi đã không ngừng học sưu tầm những trò chơi
hay, mới lạ trên báo chí, thông tin đại chúng để đưa vào dạy trẻ phù hợp theo nội
dung từng chủ điểm.
Ví dụ: Trò chơi tìm chữ cái H-K trong bài thơ " Hoa kết trái"
Thông qua các trò chơi trẻ được phát triển ngôn ngữ qua các chữ cái đã học như

bút trên một ô li nhỏ đưa bút lên sang phải một nét xiên đến ô li thứ 5 đưa bút
cong sang trái sổ thẳng cho trẻ tô viết được nét khuyết trên, tiếp theo trẻ đưa bút
lên đến đường ngang ô li thứ 2( từ dưới lên) đưa bút sang phải rồi sổ thẳng
xuống đá hất ra, điểm kết thúc là gần hết 1 ô li cuối cùng, qua nhiều lần tôi
hướng dẫn trẻ tỉ mỹ cho giáo viên tô đúng quy trình, vì vậy trẻ không còn tô
ngược và nhất là nhiều trẻ tô đẹp, đúng hàng.
Ngoài ra tôi còn cho giáo viên tập cho trẻ tập tô vào bảng con, vào vở tập
tô in sẳn, vào vở ở nhà của trẻ, lần nào cũng vậy tôi đều hướng dẫn cụ thể, rõ
ràng cho trẻ dễ hiểu vì đặc điểm của trẻ dân tộc thiểu số tiếp thu rất chậm nhưng
lại quên rất nhanh, kết hợp cho trẻ tô viết các nét cơ bản hay tô viết các chữ cái
tôi đều cho trẻ luyện phát âm theo cô nhiều lần. Dần dần tôi thấy trẻ có phần tiến
bộ hơn ham thích được tô viết, tô viết mạch lạc, nhiều trẻ tô đúng quy trình và
phát âm chuẩn các chữ cái. Tôi rất vui vì đã áp dụng ngôn ngữ Tiếng Việt vào
môn học này.
Cung cấp vốn Tiếng việt cho trẻ thông qua môn văn học:
Qua một số bài thơ, câu chuyện mà giáo viên dạy trẻ, sau khi được tiếp
xúc với đề tài nhằm giúp trẻ phát triển ngôn ngữ và nâng cao khả năng sử dụng
ngôn ngữ Tiếng việt trong học tập cũng như trong cuộc sống. nội dung câu
chuyện, và thể hiện giọng điệu, tính cách của từng nhân vật trong chuyện một
cách phù hợp nhằm giúp trẻ khắc sâu hơn nội dung cũng như tính cách của các
nhân vật trong chuyện, Chính nhờ như trẻ em vùng đồng bào càng ngày càng
ham thích học thơ, kể chuyện, nhiều cháu thuộc thơ, kể lại câu chuyện một cách
hoàn chỉnh, như vậy việc cung cấp vốn Tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số của
tôi gặt hái được nhiều thành công hơn so với trước, tôi vô cùng phấn khởi và
tiếp tục áp dụng một số biện pháp để nâng cao vốn Tiếng Việt cho trẻ thông qua
môn văn học.
Cung cấp vốn Tiếng việt cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi :
Người thực hiện: Lê Thị Hạnh Viên

13

với bạn trẻ phát triển ngôn ngữ một cách rõ rệt. Chính nhờ vậy mà đa số trẻ biết
dùng từ để diễn đạt thành câu có nghĩa trong giao tiếp với bạn và với cô.
Kết hợp với cha mẹ học sinh:
Người thực hiện: Lê Thị Hạnh Viên

14


Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiết Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS

Trong các buổi học trẻ được tiếp xúc với cô rất nhiều như chúng ta biết
việc phối hợp với gia đình trong việc cung cấp vốn tiếng việt cho trẻ. Vì vậy
cuối năm học tôi tiến hành cho mời cha mẹ học sinh đến họp, thông báo kết quả
học tập của trẻ cho cha mẹ học sinh biết được khả năng tiếp thu kiến thức bài
học bằng ngôn ngữ Tiếng việt của trẻ ra sao để cha mẹ học sinh kết hợp, hợp tác
trong việc cung cấp Tiếng việt cho trẻ ở nhà như: Cha mẹ dùng Tiếng việt để
trao đổi với con em nhiều hơn, kèm cặp con em nhiều hơn trong môn học chữ
cái, trẻ nắm được chữ cái, thuộc chữ cái, viết được chữ cái, phát âm đúng chữ
cái và nhất là nói thạo Tiếng việt nhất định để trẻ tiếp thu bài một cách dễ dàng,
học giỏi hơn trong cấp học mầm non và nhất là trong các cấp học sau này. Từ
những lời nói ấy đã thúc đẩy cha mẹ học sinh quan tâm nhiều hơn đến việc cung
cấp vốn tiếng việt ở nhà cho trẻ. Cho nên trường chúng tôi hiện nay nói thành
thạo ngôn ngữ Tiếng việt, biết dùng từ, câu để diễn đạt điều trẻ muốn nói, không
còn trẻ nói câu không rõ nghĩa, câu thiếu chủ ngữ, vị ngữ, trẻ mạnh dạn giao lưu
cùng giáo viên và các bạn của trẻ.
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp.
Đối với trẻ em vùng đồng bào dân tộc thiểu số việc nắm được vốn Tiếng
Việt là hết sức quan trọng trẻ được tiếp xúc qua môi trường học tập, sinh hoạt,
từ đó trẻ bắt đầu thích nghi với quan hệ với mọi người một cách thực thụ.
Khi trẻ đến trường Tiểu học, trẻ được hòa nhập vào những mối quan hệ

rõ rệt, để cha mẹ học sinh hiểu được tầm quan trọng trong việc dạy Tiếng Việt
cho trẻ em đồng bào DTTS.
b2. Làm tốt việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Đây là tiền đề quan trọng chuẩn bị tốt cho trẻ vào lớp 1, không gây trở
ngại việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ. Chính vì vậy gia đình, nhà
trường cần kết hợp để rèn luyện kỹ năng giao tiếp và chú trọng phát triển ngôn
ngữ cho trẻ. Trong việc giao tiếp của trẻ vùng đồng bào DTTS thì việc nói tốt
tiếng Việt có thể nói là quan trọng cho việc trẻ học đọc, học viết khi vào lớp 1.
Thực tế cho thấy, trẻ muốn giỏi các môn khác thì trước tiên phải giỏi môn tiếng
Việt.
Ở trường mầm non, giáo viên cần mở rộng vốn từ bằng những gì gần gũi,
phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ. Ở nhà cha mẹ có thể ôn lại những bài học
đó cho con bằng tiếng Việt (hạn chế nói tiếng mẹ đẻ). Nói chuyện với con, cắt
nghĩa của từ cho con hiểu là sự chuẩn bị tốt cho việc đọc, viết ở lớp 1của trẻ. Vì
chúng ta biết ngôn ngữ là phương tiện hình thành và phát triển nhận thức của trẻ
về thế giới xung quanh. Ngôn ngữ là phương tiện phát triển tình cảm, đạo đức,
thẩm mỹ, đồng thời ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ hòa nhập công đồng.
Người thực hiện: Lê Thị Hạnh Viên

16


Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiết Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS

Nhà trường và gia đình phải tạo cho con lòng tự tin, ý thức kỷ luật, hành
vi văn minh, biết thương yêu giúp đỡ mọi người và có ý thức giữ gìn của công…
Đó là những việc đơn giản nhưng thiết thực để hình thành kỹ năng sống cho trẻ
ở bậc học tiếp theo. Tuyệt đối không cho trẻ học trước chương trình lớp 1 mà
chỉ dạy trẻ phát âm, tô đúng 29 chữ cái trong chương trình mẫu giáo, rèn luyện
cơ tay, phối hợp các trò chơi vận động giúp cho cơ thể dẻo dai và đôi tay khéo


Mỗi giáo viên cần có trách nhiệm kết hợp giữa gia đình với nhà trường
gần gũi với trẻ hơn qua các hành động cử chỉ để trẻ dần làm quen với Tiếng Việt
một chác tự nhiên không gò bó và thông qua môn học trẻ có thể chủ động tập
trung lắng nghe hiểu, tự tin, làm đúng trẻ sẽ tự nói và thực hành với bạn của
mình; giáo viên cần cho trẻ thực hành ở mỗi lần học, giáo viên chỉ sử dụng ngôn
ngữ đơn giản, gắn gọn, không dẫn dắt nhiều vì trẻ chưa hiểu Tiếng Việt. Khi dạy
trẻ giáo viên cần xác định những loại câu, từ, câu nào xẽ sử dụng khi hướng dẫn
trẻ cô nên sử dụng các điệu bộ cử chỉ ra hiệu cho trẻ để trẻ dễ hiểu ý đồ của
mình thay cho việc nói nhiều của giáo viên. Cần cho trẻ ôn lại ngôn ngữ mà trẻ
đã học từ hôn trước để khác sâu sự nghi nhớ bằng hình thức “Chơi mà học, học
mà chơi” ; ví dụ : Cô hô trời sáng rồi, trười tốt rồi; trò chơi “ Trời mưa” .....
b4. Phát triển thể chất
Trong môi trường học tập vấn đề phát triển thể chất là hết sức quan trọng
trong đó “ Phát triển nguồn lực con người” đã được cả cộng đồng rất là quan
tâm, và sự phát triển thể lực của trẻ ở lứa tuổi mầm non hiện nay là đào tạo con
người một cách toàn diện, bởi lẽ chúng ta dạy cho trẻ phát triển tầm vóc của đứa
trẻ lớn lên hàng ngày trẻ đang phát triển không ngừng theo từng giai đoạn, sự
phát triển thể chất của trẻ được thể hiện qua các môn học, qua các hoạt động, trẻ
có thể lực tốt, phát triển chiều cao và trọng lượng cơ thể, trẻ có sức khỏe bền bỉ,
dẻo dai, có khả năng chống lại sự mệt mỏi của thần kinh, cơ bắp, độ khéo léo
của bàn tay, tính nhanh nhạy của các giác quan… Để có được phẩm chất đó, cần
tạo một chế độ sinh hoạt, ăn uống, nghỉ ngơi, luyện tập, dạy trẻ rèn luyện một
cách khoa học và hợp lý cả về thời gian và phù hợp với đặc điểm phát triển riêng
của từng trẻ. Ở mỗi bậc học, đặc điểm tâm sinh lý của trẻ phải phù hợp với hoạt
động chủ đạo mà đứa trẻ tham gia. Trẻ có thể lực tốt, khoẻ mạnh, tăng cân đều,
da dẻ hồng hào... tất cả các yếu tố này giúp trẻ tích cực tham gia vào các hoạt
động học tập và vui chơi đạt kết quả tốt nhất. Chính vì vậy việc chuẩn bị tốt về
thể lực cho trẻ phụ thuộc rất nhiều vào chế độ nuôi dưỡng của cô giáo và người
lớn. Khâu chuẩn bị này khó thực hiện được nếu không có sự phối hợp nhịp

quan hành động nên rất cần sự hỗ trợ của của giáo viên trong các kỹ năng các
hoạt động như kỹ năng tạo hình, giáo viên cần hướng dẫn trẻ các thao tác,
cách ngồi, cách cầm bút, cách tô màu, vì trẻ em vùng đồng bào DTTS còn
vùng về trong giao tiếp. Chính vì vậy mà cô phải đưa ra các biện pháp rèn kỹ
năng phát triển thẩm mỹ cho trẻ.
Từ việc tạo môi trường thẩm mỹ xung quanh lớp để gây ấn tượng, kích
thích lòng ham muốn ở trẻ tạo ra sản phẩm để được trưng bày trang trí trong
lớp. Để phát huy tính tích cực hoạt động ở trẻ, một trong những phương pháp
Người thực hiện: Lê Thị Hạnh Viên

19


Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiết Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS

của quá trình đổi mới là lấy trẻ làm trung tâm, trẻ phải được hoạt động và sản
phẩm của trẻ phải đa dạng, phong phú, sáng tạo. Qua môn học tạo hình giúp
trẻ nhận biết được các đẹp, cái xấu từ đó phát triển óc thẩm của trẻ.
Ví dụ: Với đề tài: “Vẽ hoa mùa xuân” theo chủ đề thế giới thực vật tôi
hướng dẫn giáo viên đầu giờ cho trẻ đi dạo, đi thăm quan sát và trò chuyện
bằng các câu hỏi:
Đây là hoa gì? Nó có màu gì? Cánh hoa làm sao? …hoa dùng để làm gì ?
…. Như vậy khi hướng dẫn vào tiết dạy sẽ dẽ dàng hơn, trẻ sẽ đoán đúng theo
câu hỏi của cô, cô giáo hướng dẫn cho trẻ cách thực hiện, sau đó cho trẻ vẽ
theo hướng dẫn cho trẻ cách vẽ, cách tô màu cho hoàn hảo; sau khi bài vẽ
hoàn thành cô cho trẻ trưng bày sản phẩm và cho trẻ tự nhận xét về bài vẽ của
các bạn trong lớp. Từ đó phát triển óc thẩm mỹ của trẻ.
c. Phối hợp với cha mẹ học sinh
Hướng dẫn cho giáo viên tuyên truyền về công tác chăm sóc giáo dục trẻ
hiểu được tầm quan trọng trong việc dạy Tiếng Việt cho trẻ vùng đồng bào

quả đạt được rất cao:
Trẻ em đã nắm được vốn Tiếng Việt một cách thành thạo, tích cực tham
gia vào các hoạt động cùng cô để phát triển nhận thức, phát triển ngôn ngữ...
đồng thời giúp trẻ phát triển toàn diện về mọi mặt
Kết quả sau khi hướng dẫn giáo viên sử dụng dạy Tiếng Việt. Giáo viên
có nhiều kinh nghiệm hơn trong việc công tác dạy Tiếng Việt cho trẻ em vùng
đồng bào DTTS.
4.Kết quả thu được quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề
nghiên cứu
Với những biện pháp mà bản thân tôi đã đưa ra trong quá trình thực hiện
đề tài nhờ được sự giúp đỡ tận tình của phụ trách chuyên môn, đội ngũ giáo viên
và sự phối kết hợp của các cha mẹ học sinh và sự nổ lực hết mình của bản thân.

Kết quả cuối năm đạt được như sau:

Người thực hiện: Lê Thị Hạnh Viên

21


Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiết Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS

Lĩnh vực GD trẻ
Phát triển ngôn ngữ
Phát triển nhận thức
Phát triển TC-XH
Phát triển thể chất
Phát triển thẩm mỹ

Trẻ không hiểu

DTTS ở trường tôi. Cuối năm học trẻ 95% - 97% trẻ dân tộc thiểu số nói được
tiếng việt lưu loát, đủ câu, đủ ý. Chỉ còn 0,3% số trẻ nói chưa đươc thành thạo
nhưng cũng đã nghe hiểu được tiếng Việt. Qua việc áp dụng sáng kiến kinh
nghiệm “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số” vào trường mầm non
Cư Pang chúng tôi, tuy là một trường 90% trẻ dân tộc thiểu số.
Cha mẹ học sinh đã hiểu được tầm quan trọng trong công tác dạy Tiếng
Việt cho trẻ em dân tộc thiểu số. Cha mẹ học sinh rất thích con mình hiểu biết
nhiều về ngôn ngữ Tiếng việt đã kết hợp với giáo viên chủ nhiệm lớp trong việc
dạy tiếng Việt cho con em mình đạt kết quả. Bên cạnh đó cũng gặp không ít khó
khăn. Cháu thường dùng tiếng dân tộc, ít hiểu Tiếng việt nên dẫn đến cháu khó
tiếp thu lời hướng dẫn, chỉ bảo của cô giáo bằng Tiếng việt. Cha mẹ các cháu có
một số không biết chữ, ít quan tâm đến việc học hành của con cái. Trên đây là
một vài kinh nghiệm áp dụng trong quá trình chỉ đạo giáo viên dạy trẻ dân tộc
thiểu số được thực hiện và đạt hiệu quả cao, những biện pháp trên tuy không có

Người thực hiện: Lê Thị Hạnh Viên

22


Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiết Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS

gì mới nhưng đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số thì vô cùng mới mẽ và có
tác dụng. Tuy nhiên sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự góp
ý bổ sung của bộ phận chuyên môn Mầm non, Lãnh đạo Phòng Giáo dục và Đào
tạo huyện Krông Ana.
Đề sáng kiến kinh nghiệm của tôi được hoàn thiện và áp dụng vào dạy trẻ
em vùng đồng bào DTTS. Nghe hiểu và thực hiện tốt các hoạt động ở trường, tự
tin khi bước vào bậc học tiếp theo.


………………………………………………………………………………………

Người thực hiện: Lê Thị Hạnh Viên

24


Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiết Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN

Người thực hiện: Lê Thị Hạnh Viên

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status