skkn một số biện pháp hướng dẫn giáo viên dạy lồng ghép tiếng việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS - Pdf 35

Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiết Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS

MỤC LỤC
I. PHẦN MỞ ĐẦU:.............................................................................. 2
1. Lí do chọn đề tài ................................................................................ 2
2. Mục tiêu và nhiệm vụ.:....................................................................... 3
3. Đối tượng nghiên cứu:........................................................................ 3
4. Phạm vi nghiên cứu............................................................................ 3
5. Phương pháp nghiên cứu:................................................................... 4
II. PHẦN NỘI DUNG........................................................................... 4
1.Cơ sở lí luận:......................................................................................... 4
2. Thực trạng………………………………………………………….... 5
3. Giải pháp, biện pháp………………………………………………..... 8
4. Kết quả…………………………………………………………..........16
III. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ……….................................17
1. Kết luận:……………………………………………………….............17
2. Kiến nghị:………………………………………………………...........18
* Nhận xét của hội đồng sáng kiến ………………………………….........19
* Tài liệu tham khảo.....................................................................................20

Người thực hiện: Lê Thị Hạnh Viên

1


Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiết Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS

MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO GIÁO VIÊN SỬ DỤNG LỒNG GHÉP TIẾNG
VIỆT CHO TRẺ VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ

I. PHẦN MỞ ĐẦU:

ở mọi lúc mọi nơi... Là vô cùng quan trọng đối với trẻ.
Bản thân tôi là một người Hiệu trưởng của trường mầm non Cư Pang,
quản lý với tổng số CBVC là 33 người và số cháu là 259 cháu. Trong đó số trẻ
dân tộc thiểu số chiếm 90%. Hầu hết trẻ dân tộc Êđê đến trường đều nói bằng
tiếng mẹ đẻ, không nghe được tiếng Việt, bố mẹ trẻ lại ít quan tâm đến việc
động viên trẻ đến lớp. Là người quản lý tôi đã trăn trở để xây dựng kế hoạch từ
đầu năm học, phân công giáo viên trực tiếp đến nhà trẻ để huy động trẻ ra lớp.
Người thực hiện: Lê Thị Hạnh Viên

2


Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiết Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS

Đầy cũng là một điều khó khăn rồi nhưng còn vấn đề gian nan hơn nữa là
trẻ ngồi trong lớp hay chọc nghẹo, không tích cực tham gia vào các hoạt động,
cô nói điều gì trẻ cũng không hiểu cứ nhìn cô và không trả lời khi cô giáo hỏi
trẻ. Cô nói trẻ không hiểu, khi cô hỏi cháu trả lời câu hỏi lặp lại của cô ví dụ :
Con tên gì ? trẻ trả lời lặp lại con tên gì ?; ví dụ: Cô nói con “Cò” thì trẻ nói là
con “co”. Đối với trẻ dân tộc thiểu số chịu rất nhiều thiệt thòi. Điều kiện tiếp xúc
với môi trường xung quanh, xã hội còn ít, tầm nhìn của trẻ còn hạn chế, tất cả đồ
dùng học tập đối với trẻ cũng thật là xa lạ, nên khi trẻ tiếp xúc còn bỡ ngỡ. Bởi
vì trẻ không hiểu hết ngôn ngữ tiếng Việt của cô.
Với tình hình thực tế của trường đa số là người đồng bào DTTS, bản thân
tôi luôn trăn trở, suy nghĩ nhiều lúc thấy vô cùng lo lắng, phải dùng phương
pháp gì? để giúp trẻ dễ hiểu và nói được Tiếng việt một cách trôi chảy. Với tầm
quan trọng đó bản thân tôi chọn đề tài “ Một số biện pháp hướng dẫn giáo viên
dạy lồng ghép Tiếng Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS” với hy vọng đề tài này
sẽ góp phần không nhỏ vào công tác giảng dạy của giáo viên ở vùng sâu vùng
xa, vùng đồng bào dân tộc thiếu số như hiện nay.

.Ph

n

h

n hiên c u:

Sáng kiến này được thực hiện với những phương pháp sau.
Phương pháp tham khảo tài liệu: Phương pháp này giúp cho sự định
hướng của sáng kiến.
Phương pháp kiểm tra, đánh giá: Tôi kiểm tra tiếng Việt của trẻ trong
một năm học 2015-2016, trẻ ở nhà so sánh với trẻ đến lớp học hàng ngày.
Phương pháp thực nghiệm: Đây là phương pháp chính, để kiểm nghiệm
những phương pháp và biện pháp nêu ra có liên quan đến sáng kiến kinh
nghiệm. Sáng kiến này được thực hiện trên điều kiện thực tế của trường mầm
non Cư Pang năm học 2015-2016.
II.PHẦN NỘI DUNG:
1.C

ý u n đ th c hiện đề tài

Tiếng Việt rất quan trọng đối với trẻ em. Đặc biệt đối với trẻ dân tộc thiểu
số. Thực tế hiện nay đa số trẻ vùng sâu, vùng xa vùng dân tộc thiểu số, trước khi
đến trường chỉ sống trong gia đình, ở các thôn buôn, trong môi trường tiếng mẹ
đẻ. Do vậy trẻ em dân tộc thiểu số chỉ nắm được tiếng mẹ đẻ. Trẻ biết rất ít hoặc
thậm trí không biết tiếng Việt. Trong khi đó tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức
dùng trong trường và cơ sở giáo dục khác. Trên thực tế tiếng nói các dân tộc
thiểu số, hầu như chưa có vai trò rõ rệt trong việc hỗ trợ tiếng Việt trong giáo
dục. Vì vậy, cho đến nay nhìn chung việc dạy tiếng Việt cho trẻ em vùng đồng

Trường mầm non Cư Pang là một trường vùng sâu, vùng xa và đặc biệt
khó khăn. Nhưng được sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng ủy chính quyền địa
phương và sự phối hợp giúp đỡ của hệ thống chính trị từ xã đến thôn, buôn.
Đặc biệt là có sự cần cù chịu khó và tinh thần đoàn kết, trách nhiệm của
tập thể cán bộ, giáo viên trong nhà trường và sự hỗ trợ của nhà tài trợ công ty cà
phê Dăk Man. Đã xây dựng CSVC, tạo cảnh quan môi trường xanh – sạch – đẹp
để cha mẹ học sinh yên tâm cho trẻ đến trường.
Đội ngũ giáo viên là người địa phương, đã thực sự yên tâm trong công tác
giảng dạy. Và thực hiện tốt chuyên đề về tăng cường Tiếng Việt cho trẻ em
vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
* Khó khăn:
Một số điểm lẻ còn học nhờ ở nhà cộng đồng và trường Tiểu học nên bất
cập trong việc giảng dạy. Giáo viên dạy trẻ DTTS hiểu biết tiếng DT còn hạn
chế nên trong quá trình giao tiếp đối với trẻ gặp nhiều khó khăn.
Mặt bằng kinh tế của người dân còn thấp, chủ yếu làm ruộng, làm nương,
một số cha mẹ học sinh chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc dạy tiếng
Việt cho trẻ có tác dụng như thế nào trong việc nhận thức và hình thành nhân
cách của trẻ.
Tài liệu dạy dạy tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số chưa có.
2.2 Thành công, hạn chế:
* Thành công:
Cha mẹ học sinh đa số đã quan tâm đến việc học của con em mình nên số
trẻ ra trường lớp mầm non tương đối tăng so với các năm học trước như: Năm
học 2014-2015 tổng số học sinh 227 cháu; năm học 2015-2016 tổng số học sinh
259 cháu.
* Hạn chế:
Đa số giáo viên trẻ, mới ra trường nên kinh nghiệm chưa cao trong việc
dạy lồng ghép Tiếng Việt để dạy cho trẻ.
90 % học sinh là người đồng bào dân tộc thiểu số tâm lí nhút nhát, hay sợ
hãi, ngại giao tiếp với người lạ nên gặp nhiều khó khăn trong công tác dạy Tiếng

* Nguyên nhân dẫn đến thành công của đề tài này là.
Hiệu trưởng có trách nhiệm cao trong toàn bộ các công việc, các mặt hoạt
động của nhà trường. Đã chỉ đạo kịp thời cho chuyên môn tiến hành khảo sát
năng lực giáo viên trong trường vào đầu năm, theo dõi các hoạt động để tìm ra
nguyên nhân, có biện pháp giúp đỡ cho phù hợp.
Luôn bám sát và thực hiện tốt nhiệm vụ năm học mà ngành đã triển khai
một cách chủ động, sáng tạo dựa trên thực tế trường lớp, địa phương.
Giáo viên nhiệt tình, chịu khó học hỏi kinh nghiệm để không ngừng nâng
cao chuyên môn, nghiệp vụ.
Thường xuyên trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp đặc biệt là những
đồng nghiệp công tác lâu năm trong trường.
Người thực hiện: Lê Thị Hạnh Viên

6


Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiết Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS

* Hạn chế, yếu kém.
Trẻ chưa tự tin, còn nhút nhát trong các hoạt động giao tiếp. Trẻ chưa có
tâm lí sẵn sàng cho một môi trường học tập mới
Một số cha mẹ chưa thực sự quan tâm tới việc học tập dẫn đến khi tiếp
xúc với người khác trẻ còn dùng tiếng mẹ đẻ.
2.5 Phân tích, đánh giá thực trạng mà đề tài đã đặt ra.
Vào đầu năm học khi nhà trường chưa có kế hoạch đưa các biện pháp dạy
tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số thì chúng ta thấy kết quả được thể hiện qua
bảng kiểm tra đầu năm như sau:
Lĩnh v c GD trẻ
Phát triển ngôn ngữ
Phát triển nhận thức

không bảo thủ nên chuyên môn nghiệp vụ tương đối vững vàng.
Các đồng chí giáo viên được bố trí 02 cô / lớp, 01 giáo viên người kinh,
01 giáo viên người đồng bào DTTS để tiện trong việc tiếp xúc với trẻ.
Được sự quan tâm của các cấp nhất là công ty cà phê Dăk Man Việt Nam
trang bị về cơ sở vật chất cho nên thuận tiện trong việc giảng dạy và vui chơi
học tập của trẻ.
* Hạn chế
Do một số giáo viên người kinh ít tiếp xúc với trẻ em người đồng bào
DTTS cho nên bất đồng ngôn ngữ trong giao tiếp.
Tài liệu dùng cho giáo viên giảng dạy vùng đồng bào DTTS chưa có, giáo
viên phải tự tìm tòi, học hỏi cho nên còn bất cập trong công tác giảng dạy.

Người thực hiện: Lê Thị Hạnh Viên

7


Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiết Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS

3. Gi i h

, iện h

:

3.1 Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:
Tìm ra các giải pháp, biện pháp giúp giáo viên nắm vững phương pháp sử
dụng lồng ghép dạy Tiếng Việt một cách có hiệu quả đối với trẻ.
3.2 Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
a. Giúp trẻ phát triển toàn diện các lĩnh vực như: phát triển về thể chất,

Người thực hiện: Lê Thị Hạnh Viên

8


Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiết Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS

tích các nét cơ bản cấu tạo nên chữ cái H-K, cho trẻ phát âm chữ h-k nhiều lần
giúp trẻ khắc sâu cấu tạo của chữ cái và trẻ nhận biết một cách chính xác từng
chữ cái.
Cun cấ v n Tiến việt cho trẻ thôn qua c c trò ch i chữ c i :
Sau khi giúp trẻ làm quen và nắm được 29 chữ cái trong Tiếng việt tôi
tiến hành cho giáo viên thực hiện tiếp thông qua các trò chơi chữ cái.
Điều đáng chú ý là trẻ Mẫu giáo Làng yều rất ham thích được học qua hình
ảnh trực quan, tổ chức hoạt động học thông qua các trò chơi .Mỗi khi được nhìn
thấy đồ dùng, đồ chơi trẻ rất vui, thích tìm hiểu sờ mó và cùng nhau khám phá
.nắm bắt được đặc điểm này tôi đã không ngừng học sưu tầm những trò chơi
hay, mới lạ trên báo chí, thông tin đại chúng để đưa vào dạy trẻ phù hợp theo nội
dung từng chủ điểm.
Ví dụ: Trò chơi tìm chữ cái H-K trong bài thơ " Hoa kết trái"
Thông qua các trò chơi trẻ được phát triển ngôn ngữ qua các chữ cái đã học như
chữ H-K, phát âm đúng các chữ cái đã học qua trò chơi , " Xếp chữ cái bằng hột
hạt". " Xếp các nét cơ bản tạo thành chữ cái"...
Bên cạnh đó tôi luôn hướng dẫn giáo viên làm thêm một số đồ dùng tự tạo
có gắn chữ cái đã học ở các góc trong lớp, ngoài lớp học. Từ đó cũng góp phần
không nhỏ vào việc cung cấp vốn Tiếng việt cho trẻ.
Cun cấ Tiến việt thôn qua t

tô :


tô in sẳn, vào vở ở nhà của trẻ, lần nào cũng vậy tôi đều hướng dẫn cụ thể, rõ
ràng cho trẻ dễ hiểu vì đặc điểm của trẻ dân tộc thiểu số tiếp thu rất chậm nhưng
lại quên rất nhanh, kết hợp cho trẻ tô viết các nét cơ bản hay tô viết các chữ cái
tôi đều cho trẻ luyện phát âm theo cô nhiều lần. Dần dần tôi thấy trẻ có phần tiến
bộ hơn ham thích được tô viết, tô viết mạch lạc, nhiều trẻ tô đúng quy trình và
phát âm chuẩn các chữ cái. Tôi rất vui vì đã áp dụng ngôn ngữ Tiếng Việt vào
môn học này.
Cun cấ v n Tiến việt cho trẻ thôn qua môn văn học:
Qua một số bài thơ, câu chuyện mà giáo viên dạy trẻ, sau khi được tiếp
xúc với đề tài nhằm giúp trẻ phát triển ngôn ngữ và nâng cao khả năng sử dụng
ngôn ngữ Tiếng việt trong học tập cũng như trong cuộc sống. nội dung câu
chuyện, và thể hiện giọng điệu, tính cách của từng nhân vật trong chuyện một
cách phù hợp nhằm giúp trẻ khắc sâu hơn nội dung cũng như tính cách của các
nhân vật trong chuyện, Chính nhờ như trẻ em vùng đồng bào càng ngày càng
ham thích học thơ, kể chuyện, nhiều cháu thuộc thơ, kể lại câu chuyện một cách
hoàn chỉnh, như vậy việc cung cấp vốn Tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số của
tôi gặt hái được nhiều thành công hơn so với trước, tôi vô cùng phấn khởi và
tiếp tục áp dụng một số biện pháp để nâng cao vốn Tiếng Việt cho trẻ thông qua
môn văn học.
Cun cấ v n Tiến việt cho trẻ

mọi úc mọi n i :

Thực tế như trường chúng tôi cho ta thấy rằng giáo viên người kinh dạy
cho trẻ vùng đồng bào DTTS bất đồng ngôn ngữ rất khó khăn trong giao tiếp, vì
vậy ngoài những biện pháp nêu trên tôi còn cho giáo viên tham gia học lớp tiếng
Êđê, sau khi giáo viên áp dụng trong công tác giảng dạy càng ngày có hiệu quả
hơn trong cung cấp vốn tiếng việt cho trẻ thông qua hoạt động ở mọi lúc mọi
nơi.
Như chúng ta đã biết khả năng tiếp thu của trẻ dân tộc thiểu số rất chậm,


với cha mẹ học inh:

Trong các buổi học trẻ được tiếp xúc với cô rất nhiều như chúng ta biết
việc phối hợp với gia đình trong việc cung cấp vốn tiếng việt cho trẻ. Vì vậy
cuối năm học tôi tiến hành cho mời cha mẹ học sinh đến họp, thông báo kết quả
học tập của trẻ cho cha mẹ học sinh biết được khả năng tiếp thu kiến thức bài
học bằng ngôn ngữ Tiếng việt của trẻ ra sao để cha mẹ học sinh kết hợp, hợp tác
trong việc cung cấp Tiếng việt cho trẻ ở nhà như: Cha mẹ dùng Tiếng việt để
trao đổi với con em nhiều hơn, kèm cặp con em nhiều hơn trong môn học chữ
cái, trẻ nắm được chữ cái, thuộc chữ cái, viết được chữ cái, phát âm đúng chữ
cái và nhất là nói thạo Tiếng việt nhất định để trẻ tiếp thu bài một cách dễ dàng,
học giỏi hơn trong cấp học mầm non và nhất là trong các cấp học sau này. Từ
những lời nói ấy đã thúc đẩy cha mẹ học sinh quan tâm nhiều hơn đến việc cung
cấp vốn tiếng việt ở nhà cho trẻ. Cho nên trường chúng tôi hiện nay nói thành
thạo ngôn ngữ Tiếng việt, biết dùng từ, câu để diễn đạt điều trẻ muốn nói, không
còn trẻ nói câu không rõ nghĩa, câu thiếu chủ ngữ, vị ngữ, trẻ mạnh dạn giao lưu
cùng giáo viên và các bạn của trẻ.
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp.
Đối với trẻ em vùng đồng bào dân tộc thiểu số việc nắm được vốn Tiếng
Việt là hết sức quan trọng trẻ được tiếp xúc qua môi trường học tập, sinh hoạt,
từ đó trẻ bắt đầu thích nghi với quan hệ với mọi người một cách thực thụ.
Khi trẻ đến trường Tiểu học, trẻ được hòa nhập vào những mối quan hệ
mới với người xung quanh như: thầy, cô, bạn bè và những người lớn xung
quanh... Khác với trường mầm non, trẻ sống trong cuộc sống, sinh hoạt như gia
đình. Hơn nữa ở mỗi giai đoạn phát triển đều có những yêu cầu về tâm, sinh lý,
về xã hội đòi hỏi mỗi học sinh phải thích ứng với hoạt động học tập. Nếu chúng
ta không chuẩn bị tốt cho trẻ vốn Tiếng Việt thì việc học tập sau này sẽ không
đạt kết quả như mong muốn.


ngữ cho trẻ. Trong việc giao tiếp của trẻ vùng đồng bào DTTS thì việc nói tốt
tiếng Việt có thể nói là quan trọng cho việc trẻ học đọc, học viết khi vào lớp 1.
Thực tế cho thấy, trẻ muốn giỏi các môn khác thì trước tiên phải giỏi môn tiếng
Việt.
Ở trường mầm non, giáo viên cần mở rộng vốn từ bằng những gì gần gũi,
phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ. Ở nhà cha mẹ có thể ôn lại những bài học
đó cho con bằng tiếng Việt (hạn chế nói tiếng mẹ đẻ). Nói chuyện với con, cắt
nghĩa của từ cho con hiểu là sự chuẩn bị tốt cho việc đọc, viết ở lớp 1của trẻ. Vì
chúng ta biết ngôn ngữ là phương tiện hình thành và phát triển nhận thức của trẻ
về thế giới xung quanh. Ngôn ngữ là phương tiện phát triển tình cảm, đạo đức,
thẩm mỹ, đồng thời ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ hòa nhập công đồng.
Người thực hiện: Lê Thị Hạnh Viên

12


Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiết Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS

Nhà trường và gia đình phải tạo cho con lòng tự tin, ý thức kỷ luật, hành
vi văn minh, biết thương yêu giúp đỡ mọi người và có ý thức giữ gìn của
công…Đó là những việc đơn giản nhưng thiết thực để hình thành kỹ năng sống
cho trẻ ở bậc học tiếp theo. Tuyệt đối không cho trẻ học trước chương trình lớp
1 mà chỉ dạy trẻ phát âm, tô đúng 29 chữ cái trong chương trình mẫu giáo, rèn
luyện cơ tay, phối hợp các trò chơi vận động giúp cho cơ thể dẻo dai và đôi tay
khéo léo sau này.
Giáo dục cho trẻ có ý thức tự giác về bản thân như: Chơi xong tự cất đồ
chơi. Đặt câu hỏi để khích thích trẻ biểu lộ những suy nghĩ, cảm xúc của mình
thông qua tranh ảnh, hình vẽ, thơ, truỵên. Giáo dục trẻ có thói quen tự phục vụ
bản thân như: biết tự mặc áo, sắp xếp bàn học, bàn ăn…. Giúp trẻ lựa chọn và
tham gia các hoạt động chơi nhằm phát triển tính tự tin, tự lực và sáng tạo của

trẻ giáo viên cần xác định những loại câu, từ, câu nào xẽ sử dụng khi hướng dẫn
trẻ cô nên sử dụng các điệu bộ cử chỉ ra hiệu cho trẻ để trẻ dễ hiểu ý đồ của
mình thay cho việc nói nhiều của giáo viên. Cần cho trẻ ôn lại ngôn ngữ mà trẻ
đã học từ hôn trước để khác sâu sự nghi nhớ bằng hình thức “Chơi mà học, học
mà chơi” ; ví dụ : Cô hô trời sáng rồi, trười tốt rồi; trò chơi “ Trời mưa” .....
b4. Phát triển thể chất
Trong môi trường học tập vấn đề phát triển thể chất là hết sức quan trọng
trong đó “ Phát triển nguồn lực con người” đã được cả cộng đồng rất là quan
tâm, và sự phát triển thể lực của trẻ ở lứa tuổi mầm non hiện nay là đào tạo con
người một cách toàn diện, bởi lẽ chúng ta dạy cho trẻ phát triển tầm vóc của đứa
trẻ lớn lên hàng ngày trẻ đang phát triển không ngừng theo từng giai đoạn, sự
phát triển thể chất của trẻ được thể hiện qua các môn học, qua các hoạt động, trẻ
có thể lực tốt, phát triển chiều cao và trọng lượng cơ thể, trẻ có sức khỏe bền bỉ,
dẻo dai, có khả năng chống lại sự mệt mỏi của thần kinh, cơ bắp, độ khéo léo
của bàn tay, tính nhanh nhạy của các giác quan… Để có được phẩm chất đó, cần
tạo một chế độ sinh hoạt, ăn uống, nghỉ ngơi, luyện tập, dạy trẻ rèn luyện một
cách khoa học và hợp lý cả về thời gian và phù hợp với đặc điểm phát triển riêng
của từng trẻ. Ở mỗi bậc học, đặc điểm tâm sinh lý của trẻ phải phù hợp với hoạt
động chủ đạo mà đứa trẻ tham gia. Trẻ có thể lực tốt, khoẻ mạnh, tăng cân đều,
da dẻ hồng hào... tất cả các yếu tố này giúp trẻ tích cực tham gia vào các hoạt
động học tập và vui chơi đạt kết quả tốt nhất. Chính vì vậy việc chuẩn bị tốt về
thể lực cho trẻ phụ thuộc rất nhiều vào chế độ nuôi dưỡng của cô giáo và người
lớn. Khâu chuẩn bị này khó thực hiện được nếu không có sự phối hợp nhịp
nhàng giữa nhà trường với gia đình trẻ trong việc đảm bảo chế độ dinh dưỡng,
chế độ vui chơi, nghỉ ngơi cho trẻ.
Ví dụ : Qua môn thể dục bò, chạy, ném, trườn, leo trèo phát triển được tố
chất vận động như nhanh nhẹn, mạnh dạn, bền bỉ và khéo léo nhằm cho trẻ có
đủ năng lực đến trường
b5. Phát triển tình cảm xã hội.
Trong chương trình chăm sóc GDMN mới hiện nay, nhất là trong giao

lớp. Để phát huy tính tích cực hoạt động ở trẻ, một trong những phương pháp
của quá trình đổi mới là lấy trẻ làm trung tâm, trẻ phải được hoạt động và sản
phẩm của trẻ phải đa dạng, phong phú, sáng tạo. Qua môn học tạo hình giúp
trẻ nhận biết được các đẹp, cái xấu từ đó phát triển óc thẩm của trẻ.
Ví dụ: Với đề tài: “Vẽ hoa mùa xuân” theo chủ đề thế giới thực vật tôi
hướng dẫn giáo viên đầu giờ cho trẻ đi dạo, đi thăm quan sát và trò chuyện
bằng các câu hỏi:
Đây là hoa gì? Nó có màu gì? Cánh hoa làm sao? …hoa dùng để làm gì ?
…. Như vậy khi hướng dẫn vào tiết dạy sẽ dẽ dàng hơn, trẻ sẽ đoán đúng theo
câu hỏi của cô, cô giáo hướng dẫn cho trẻ cách thực hiện, sau đó cho trẻ vẽ
theo hướng dẫn cho trẻ cách vẽ, cách tô màu cho hoàn hảo; sau khi bài vẽ
hoàn thành cô cho trẻ trưng bày sản phẩm và cho trẻ tự nhận xét về bài vẽ của
các bạn trong lớp. Từ đó phát triển óc thẩm mỹ của trẻ.
c. Phối hợp với cha mẹ học sinh
Hướng dẫn cho giáo viên tuyên truyền về công tác chăm sóc giáo dục trẻ
hiểu được tầm quan trọng trong việc dạy Tiếng Việt cho trẻ vùng đồng bào
DTTS.

Người thực hiện: Lê Thị Hạnh Viên

15


Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiết Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS

Từ thực tế trường chúng tôi nhận thấy rằng việc tuyên truyền cho cha mẹ
học sinh, cùng kết hợp với ban ngành, đoàn thể tuyên truyền về công tác duy trì
sĩ số, tăng cường Tiết Việt cho trẻ.
3.3 Điều kiện để thực hiện các giải pháp, biện pháp:
Để thực hiện các giải pháp, biện pháp này cần dựa vào tinh hình thực tể


16


Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiết Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS

Kết quả cuối năm đạt được như sau:
Lĩnh v c GD trẻ
Phát triển ngôn ngữ
Phát triển nhận thức
Phát triển TC-XH
Phát triển thể chất
Phát triển thẩm mỹ

Trẻ khôn hi u
3/209=1,4%
2/209=0,9%
1/209=0,4%
1/209=0,4%
0/209=100%

Trẻ hi u
94/209=44,9%
84/209=40,1%
85/209=40,6%
80/209=38,2%
70/209=33,4%

Trẻ rất hi u
115/209=55,0%

tác dụng. Tuy nhiên sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự góp
ý bổ sung của bộ phận chuyên môn Mầm non, Lãnh đạo Phòng Giáo dục và Đào
tạo huyện Krông Ana.
Đề sáng kiến kinh nghiệm của tôi được hoàn thiện và áp dụng vào dạy trẻ
em vùng đồng bào DTTS. Nghe hiểu và thực hiện tốt các hoạt động ở trường, tự
tin khi bước vào bậc học tiếp theo.

Người thực hiện: Lê Thị Hạnh Viên

17


Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiết Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS

2. Kiến n hị
* Kiến nghị:
Cần có giáo viên trợ giảng thêm cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Đăng ký tài liệu tham khảo cho giáo viên trực tiếp giảng dạy.
Cần mở thêm lớp học tiếng Êđê cho giáo viên vùng đồng bào DTTS.
* Đề xuất ý kiến:
Trường chúng tôi còn một số điểm lẻ chưa đủ lớp mẫu giáo. Đề nghị các cấp
lãnh đạo quan tâm hơn nữa về kinh phí hoạt động, cấp quỹ đất cho trường để
xây dựng CSVC nhằm đảm bảo công tác dạy và học ở vùng đồng bào DTTS.
Trên đây là sáng kiến kinh nghiệm mà bản thân tôi đã rút ra từ tình hình
thức tế ở trường MN Cư Pang. Qua sáng kiến kinh nghiệm đã viết không thể
tránh khỏi những sai sót. Rất mong sự góp ý của cấp trên, để sáng kiến này hoàn
thiện và được áp dụng vào thực tế./.

Người viết



T c i

1

Điều lệ trường Mầm non ban hành kèm
theo Quyết định số 14 /2008/QĐ-BGDĐT
ngày 07 tháng 4 năm 2008 của

Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo

2

Quy định về Chuẩn nghề nghiệp giáo viên
(Quyết định số 02 đối với giáo viên Mầm
non

Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo

3

Tài liệu bồi dưỡng cho cán bộ quản lí và
giáo viên Mầm Non năm học 2014-2015.

Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo

4


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status