THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Một số biện pháp giúp giáo viên nâng cao chất lượng
giáo dục phát triển tình cảm - kỹ năng xã hội cho trẻ mầm non.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Công tác chăm sóc, giáo dục phát triển
tình cảm, kỹ năng xã hội cho trẻ trong trường mầm non.
3. Tên tác giả:
+ Họ và tên: Nguyễn Thị Quý
Giới tính: Nữ
+ Ngày tháng/năm sinh: 16/04/1968
+ Trình độ chuyên môn: Đại học Mầm non
+ Chức vụ: Hiệu trưởng
+ Đơn vị công tác: Trường mầm non Nhiệt Điện Phả Lại.
+ Điện thoại : 0972389818.
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Nguyễn Thị Quý
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến: Trường mầm non Nhiệt Điện Phả Lại.
Địa chỉ: Thạch Thủy – Phả Lại – Chí Linh – Hải Dương.
Số điện thoại: 03203881390.
6. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
+ Trẻ mầm non (từ 24 tháng đến 72 tháng)
+ Giáo viên trực tiếp dạy trẻ trên các nhóm lớp.
+ Các bậc phụ huynh (Ông, bà, cha, mẹ, những người thân sống chung
một mái nhà với trẻ).
+ Phương tiện, đồ dùng, đồ chơi.
7. Thời gian áp dụng sáng kiến: 3 tháng (từ tháng 10 năm 2014 đến hết
tháng 12 năm 2014).
HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ
(Ký tên)
XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ ÁP DỤNG
+ Các phương tiện, đồ dùng đồ chơi trong nhóm lớp đầy đủ.
- Thời gian áp dụng sáng kiến: 3 tháng (từ tháng 10 đến tháng 12/2014).
- Đối tượng áp dụng : Trẻ trong độ tuổi từ 24 tháng đến 72 tháng tuổi.
2
3. Nội dung sáng kiến:
- Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến:
+ Bồi dưỡng cho giáo viên nắm chắc phương pháp để hỗ trợ trẻ phát triển
tình cảm và kỹ năng xã hội theo hướng tích cực.
+ Cung cấp kiến thức cho giáo viên hiểu sâu hơn về tầm quan trọng của
giáo dục phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội với trẻ mầm non hiện nay. Từ đó
giáo viên xác định rõ vai trò, trách nhiệm của mình chủ động nắm bắt tâm sinh
lý của trẻ để có kế hoạch hỗ trợ cho từng trẻ, xác định những trẻ thiếu hụt cùng
một kỹ năng, phân chia trẻ thành từng nhóm nhỏ để có kế hoạch hỗ trợ trẻ phù
hợp với điều kiện thực tế của nhóm, lớp mình.
- Tính khả thi của sáng kiến
+ Cung cấp nhiều cơ hội cho trẻ được giao tiếp, thực hành, trải nghiệm dưới
nhiều hình thức cá nhân, nhóm nhỏ, tập thể lớp. Tận dụng mọi cơ hội, mọi tình
huống, mọi thời điểm các hoạt động diễn ra trong trường, lớp, như vui chơi, học
tập, lao động vừa sức, tham quan, lễ hội… trong sinh hoạt hàng ngày để hỗ trợ
trẻ phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội.
+ Tạo môi trường học tập tích cực, trong đó đảm bảo mọi trẻ đều được yêu
thương, chăm sóc, được an toàn, ổn định và được đối xử công bằng.
+ Giáo viên luôn làm gương, là hình mẫu về cách thể hiện cảm xúc, về
hành vi giao tiếp, ứng xử đúng mực trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Có
thái độ tích cực đối với gia đình trẻ và phối hợp chặt chẽ với gia đình để giáo
dục trẻ.
- Lợi ích của sáng kiến: Sáng kiến đã giúp cho giáo viên xác định rõ vai trò,
trách nhiệm của mình trong công tác giáo dục phát triển tình cảm và kỹ năng xã
vinh là nhờ vào thế hệ trẻ. Xuất phát từ mục tiêu giáo dục là quốc sách, hàng
đầu; chính vì vậy, phải chăm sóc giáo dục trẻ thật tốt ngay từ khi trẻ còn ở độ
tuổi mầm non. Vì mục tiêu của Giáo dục mầm non là: Nâng cao chất lượng
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ, giúp trẻ phát triển toàn diện về mọi mặt; như
phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu
tiên của nhân cách con người.
- Lĩnh vực phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội là tiền đề quan trọng cho
việc học và phát triển toàn diện của trẻ. Các năng lực tình cảm và xã hội có mối
quan hệ chặt chẽ với kết quả học tập và phát triển của trẻ, đó là nền tảng vững
chắc cho sự phát triển nhận thức ở trẻ em cũng như khả năng tham gia hiệu quả
vào các công việc hay trách nhiệm của trẻ đối với xã hội. Nếu trẻ không đạt
được sự phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội tối thiểu khi trẻ sáu tuổi thì trẻ sẽ
gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống, việc thiếu hụt lĩnh vực phát triển tình
cảm, kỹ năng xã hội sẽ ảnh hưởng đến cả quá trình học tập suốt đời của trẻ sau
này.
1.2. Lý do về mặt thực tiễn để chọn đề tài.
Thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục theo Chương trình hành động số 53CT/TU ngày 12/3/2014 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Hải Dương; thực hiện
Nghị quyết Trung ương 8 khoá XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và
đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Trên thực tế các
nhà trường đã có những biện pháp tích cực, để triển khai các nội dung, mục tiêu
của Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI; song kết quả đạt được ở mức độ nào thì
phụ thuộc hoàn toàn vào các điều kiện về cơ sở vật chất, nhân lực, đối tượng
thực hiện. Hiện nay, trong các trường mầm non đã quan tâm và chú trọng đến
5
việc bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục trẻ. Tuy nhiên, việc quan tâm bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên
về nâng cao nhận thức để giáo dục phát triển tình cảm, kỹ năng xã hội cho trẻ
1.3. Phạm vi và đối tượng áp dụng.
- Phạm vi áp dụng: Trong các trường mầm non.
- Đối tượng áp dụng: Giáo viên và trẻ mầm non từ 24 – 72 tháng tuổi.
1.4. Mục tiêu nghiên cứu.
Trên cơ sở tìm hiểu, đánh giá thực trạng công tác giáo dục phát triển tình
cảm- kỹ năng xã hội cho trẻ ở trường mầm non, từ đó xác định một số biện pháp
cơ bản trong việc giáo dục phát triển tình cảm – kỹ năng xã hội giúp giáo viên
hỗ trợ trẻ phát triển đạt hiệu quả cao.
1.5.. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp trắc nghiệm
- Phương pháp điều tra, khảo sát.
- Phương pháp khái quát, thống kê.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phân tích, tổng hợp.
- Phương pháp so sánh, đối chứng, kiểm tra nghiệm thu.
2. Cơ sở lý luận của vấn đề.
Phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội là một trong năm lĩnh vực phát triển
của chương trình giáo dục mầm non. Nội dung giáo dục phát triển tình cảm và
kỹ năng xã hội được tích hợp lồng ghép trong tất cả các hoạt động, từ hoạt động
học tập đến hoạt động vui chơi, hoạt động ngoài trời, hoạt động lao động… và
được xuyên suốt các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ hằng ngày, được tiến hành
ở mọi lúc, mọi nơi, trong mọi thời điểm, mọi tình huống. Phát triển tình cảm và
kỹ năng xã hội có ảnh hưởng sâu sắc và liên quan mật thiết đến sự phát triển của
trẻ ở các lĩnh vực khác; như: lĩnh vực phát triển nhận thức, ngôn ngữ, thẩm mỹ...
Có thể khẳng định rằng, sự trưởng thành về mặt cảm xúc xã hội, đan cài trong sự
phát triển toàn diện của trẻ. Khi đến trường mầm non chúng ta quan sát trẻ trong
các nhóm, lớp thì sẽ thấy; trẻ được giao tiếp với cô giáo với các bạn trong lớp,
7
- Phụ huynh không có nhiều thời gian để quan tâm giáo dục trẻ, cơ bản phụ
huynh nhờ cậy vào giáo viên chăm sóc giáo dục cho trẻ; còn có phụ huynh cho
rằng, trẻ quá nhỏ chưa cần phải học nhiều, chỉ cần đến lớp vui chơi với bạn và
được cô chăm sóc, cho ăn uống là đủ; nhiều trẻ năm, sáu tuổi vẫn được bố, mẹ
nuông chiều chăm sóc từ việc cho ăn, cho uống đến mặc quần áo, vệ sinh cá
nhân … có trẻ thể hiện những hành vi ứng xử chưa phù hợp với xã hội nhưng
phụ huynh không quan tâm, buông lỏng, chiều theo sở thích cá nhân của trẻ. Cá
biệt có phụ huynh quan niệm rằng, tạo cho trẻ có cuộc sống đầy đủ, sung túc là
tốt cho trẻ, không quan tâm đến việc giáo dục phát triển tình cảm, kỹ năng xã
hội, kỹ năng sống của trẻ; nhận thức như vậy vô tình đã làm mất dần kỹ năng
sống và những kỹ năng xã hội của trẻ... Chính vì vậy, việc phối hợp giữa nhà
trường với gia đình trong việc chăm sóc giáo dục trẻ phát triển tình cảm- kỹ
năng xã hội gặp rất nhiều khó khăn.
- Đội ngũ giáo viên nhà trường chưa thật sự quan tâm đến việc giáo dục
phát triển tình cảm kỹ năng xã hội cho trẻ, chưa chú ý hỗ trợ trẻ trong các hoạt
động xuyên suốt, chưa tự học tập nghiên cứu để đưa giáo dục phát triển tình
cảm, kỹ năng xã hội lồng ghép vào những hoạt động phù hợp để hỗ trợ trẻ phát
triển một cách tốt nhất. Còn có giáo viên ứng xử chưa tốt với trẻ, chủ yếu dùng
mệnh lệnh, chưa gần gũi thân thiện với trẻ, xác định nội dung giáo dục phát triển
tình cảm- kỹ năng xã hội, kỹ năng sống cho trẻ chủ yếu theo cảm tính của mình
chưa thống nhất trong toàn trường, còn lúng túng trong việc xây dựng biện pháp
hỗ trợ trẻ phát triển tình cảm- kỹ năng xã hội.
- Trong các nhóm lớp tình trạng trẻ nói không đủ câu còn diễn ra thường
xuyên, nhiều trẻ nhút nhát chưa mạnh dạn tự tin, chưa kiểm soát được cảm xúc
của mình, chưa hiểu cảm xúc của người khác để đáp lại cảm xúc phù hợp Nhiều
trẻ chưa có kỹ năng xã hội như sự hợp tác, tự điều chỉnh cảm xúc của mình, sự
tương tác, tự lập, giao tiếp, sự thấu hiểu và chia sẻ với bạn chưa có. Nhiều trẻ
còn nói leo, chưa biết lắng nghe, chưa biết trình bày ý kiến của mình trong nhóm
bạn bè, chưa điều chỉnh, kiểm soát các hành vi của bản thân với mọi người, chưa
Hoạt
động
ngoài
2 gv dạy nhóm trẻ
2 gv dạy lớp 3 tuổi
2 gv dạy lớp 4 tuổi
2 gv dạy lớp 5 tuổi
2/2
2/2
2/2
2/2
8/8
1/2
1/2
1/2
1/2
4/8
2/2
2/2
2/2
2/2
8/8
trời
1/2
động
động vệ
nêu
sinh, trả
1/2
1/2
2/2
2/2
6/8
gương
2/2
2/2
2/2
2/2
8/8
trẻ
1/2
1/2
1/2
2/2
5/8
Hoạt
100%
50%
75%
100%
62,5%
Nhìn vào bảng trên ta thấy giáo viên chưa quan tâm giáo dục hỗ trợ trẻ
phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội xuyên suốt các hoạt động trong ngày. Có
nhiều giáo viên chưa chú ý giáo dục trẻ trong giờ tập thể dục buổi sáng, hoạt
động ngoài trời, hoạt động chiều và giờ vệ sinh trả trẻ. Đặc biệt trong giờ ăn,
ngủ của trẻ, nhiều giáo viên nghĩ rằng khi trẻ ăn, ngủ không cần giáo dục trẻ.
Đây là một ý nghĩ chưa đúng. Giáo viên chỉ quan tâm nhiều nhất trong các hoạt
động đón trẻ, hoạt động học, hoạt động góc và hoạt động nêu gương.
3.3.2. Khảo sát phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội của trẻ.
Bài tập khảo sát (BT KS 3.3.2 Trang 29).
Tên
khối, lớp
Số trẻ
Phát triển tình cảm
Hiểu, kiểm soát
Hiểu và đáp lại
10
Đạt yêu
Không
cầu
10
12
14
16
52
đạt
15
13
16
19
63
cầu
8
9
10
13
40
đạt
17
16
20
10
14
15
48
đạt
16
15
16
20
67
Căn cứ vào kết quả khảo sát trên đã thấy được thực trạng giáo dục phát triển
tình cảm và kỹ năng xã hội trong nhà trường còn nhiều hạn chế. Tôi đã tiến hành
áp dụng một số biện pháp giúp giáo viên hỗ trợ trẻ phát triển tình cảm và kỹ
năng xã hội như sau:
4. Một số biện pháp giúp giáo viên nâng cao chất lượng giáo dục trẻ
phát triển tình cảm kỹ năng xã hội.
4.1. Nâng cao nhận thức cho đội ngũ giáo viên.
Nhân tố quyết định đến chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ là giáo viên mầm
non. Sự tương tác giữa giáo viên với trẻ rất quan trọng trong giáo dục. Việc
trang bị cho giáo viên hiểu biết về tầm quan trọng của giáo dục tình cảm và kỹ
năng xã hội là việc làm cần thiết sẽ giúp cho giáo viên có những kế hoạch cụ thể
và sát với thực tế để giáo dục trẻ phát triển một cách hiệu quả. Đây là một việc
rất khó đối với các nhà trường vì trong mục tiêu giáo dục mầm non cần thực
hiện tốt cả 5 lĩnh vực, trong đó lĩnh vực phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội là
một trong 5 lĩnh vực mà giáo dục mầm non phải đạt được mục tiêu. Nhưng để
đạt được mục tiêu của lĩnh vực phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội đúng theo
yêu cầu; đòi hỏi mỗi giáo viên phải nhận thức sâu sắc, tận tâm, tận lực, cần hỗ
trợ trẻ trong tất cả các hoạt động trong ngày. Đặc thù của lĩnh vực này giáo viên
khác: Biết lắng nghe, biết động viên an ủi bạn những lúc gặp khó khăn, bày tỏ
cảm xúc phù hợp với trạng thái cảm xúc của người khác trong các tình huống
giao tiếp khác nhau.
Mỗi giáo viên cần nắm bắt những kỹ năng cơ bản để có những biện pháp hỗ
trợ cho từng trẻ trong nhóm lớp, vì mỗi trẻ là một cá thể riêng biệt và sống trong
môi trường gia đình khác nhau, trình độ văn hóa cũng khác nhau… những yếu tố
12
môi trường sẽ tác động rất lớn đến sự phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội của
từng trẻ. Chính vì vậy, trách nhiệm của nhà trường, của đội ngũ giáo viên là rất
quan trọng, có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành nhân cách của trẻ.
4.2. Chỉ đạo giáo viên xây dựng kế hoạch giáo dục phát triển tình cảm
và kỹ năng xã hội.
Để có kế hoạch đồng bộ hỗ trợ giáo dục phát triển tình cảm và kỹ năng xã
hội cho trẻ cần phải quán triệt và triển khai đến từng giáo viên trong nhà trường
về nội dung, tầm quan trọng của giáo dục phát triển tình cảm kỹ năng xã hội, các
kỹ năng cơ bản hỗ trợ trẻ phát triển về mặt tình cảm, các kỹ năng cơ bản hỗ trợ
trẻ phát triển kỹ năng xã hội.
Xây dựng kế hoạch là một nội dung công việc rất cần thiết và rất quan trọng
của giáo viên để thực hiện hỗ trợ trẻ phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội. Để
xây dựng kế hoạch đạt hiệu quả thiết thực yêu cầu mỗi giáo viên chủ nhiệm lớp
cần chú ý một số vấn đề sau:
Trước khi xây dựng kế hoạch giáo viên phải quan sát, theo dõi, tìm hiểu,
để hiểu tâm sinh lý từng trẻ thông qua các hoạt động chơi, hoạt động học, và các
hoạt động khác trong ngày, sau đó ghi chép đánh giá sự phát triển của từng trẻ.
Căn cứ vào kết quả đánh giá sẽ áp dụng phương pháp phân loại, phân loại
chia trẻ thành từng nhóm.
VD: Những trẻ phát triển chậm về mặt tình cảm vào một nhóm; những trẻ
phát triển chậm về kỹ năng xã hội vào một nhóm; những trẻ có kỹ năng giao tiếp
chủ đề để tạo sự tò mò, ham khám phá của trẻ, kích thích trẻ tích cực giao tiếp
với nhau, thực hiện tốt vai chơi của mình, giáo viên cần khai thác ưu thế của
từng góc chơi để hỗ trợ trẻ chơi một cách hiệu quả.
VD: Trong góc chơi xây dựng, trong chủ đề (ngành nghề) cô bổ sung các
dụng cụ, sản phảm của các nghề cho trẻ sử dụng trong quá trình chơi, cô tạo cho
trẻ nhiều cơ hội hợp tác với bạn, giúp đỡ bạn khi bạn cần; cô chú ý việc phối hợp
hoạt động cùng nhau của từng trẻ để có cách hỗ trợ kịp thời và nên tạo tình
huống để trẻ học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau, biết chia sẻ, hợp tác cùng nhau.
4.3.2. Tạo môi trường tâm lý.
14
Trẻ mầm non có đặc tính hay bắt chước, thích sự gần gũi yêu thương, luôn
tò mò trước sự vật hiện tượng, có nhu cầu bày tỏ và nhu cầu được nghe bạn, cô
giáo và người lớn giải thích. Môi trường đầm ấm, thân thiện, vui vẻ, thoải mái sẽ
tạo thêm động lực cho trẻ trải nghiệm các cảm xúc khác nhau, sự thấu hiểu và
sẵn sàng chia sẻ với các bạn trong lớp và mọi người xung quanh. Môi trường
tâm lý tốt là: Giáo viên phải tạo ra môi trường và cảm giác an toàn khi trẻ đến
lớp, cần tôn trọng trẻ, tôn trọng những câu hỏi của trẻ, tôn trọng những sản phẩm
trẻ làm ra. Cô giáo phải đầu tư tổ chức các hoạt động bằng những tình huống hấp
dẫn, kích thích trẻ hứng thú, tích cực khám phá, cô hướng dẫn bằng lời, cử chỉ
và hành động, không nên đưa cùng một lúc nhiều nội dung giáo dục trong một
thời điểm, gắn các nội dung giáo dục tình cảm và kỹ năng xã hội vào những tình
huống cụ thể có thực trong cuộc sống hàng ngày, động viên và khen ngợi kịp
thời những trẻ có hành vi, thái độ ứng xử phù hợp nhằm phát huy ở trẻ những
thái độ tích cực, động viên khen ngợi kịp thời, nhất là những trẻ nhút nhát để trẻ
mạnh dạn thể hiện vai chơi của mình. Cô nên lựa chọn những câu trả lời với trẻ
thật dí dỏm, phải hiểu được cá tính, sở thích của từng trẻ, hiểu hoàn cảnh gia
đình của trẻ để nắm bắt nhu cầu còn thiếu hụt từ đó có giải pháp phù hợp. Giáo
viên cần tạo cho trẻ niềm vui xuyên suốt trong tất cả các hoạt động trong ngày,
trong cuộc sống. cần giúp trẻ hành động bằng ý thức chứ không phải theo bản
năng hay ép buộc, trước hết người lớn giải thích cho trẻ hiểu ý nghĩa của các
hành động trên và người lớn chính là tấm gương cho trẻ noi theo.
VD: Để dạy trẻ nói lời cảm ơn, xin lỗi khi nhận được sự giúp đỡ của người
khác, hoặc khi mình mắc lỗi thì trong mối quan hệ giữa người thân trong gia
đình, giữa cô giáo với nhau, giữa cô giáo với trẻ… người lớn phải luôn chủ động
nói lời cảm ơn, xin lỗi kể cả với trẻ. Từ đó trẻ hình thành ý thức và thực hành
cách nói lời cảm ơn, xin lỗi người khác.
4.5. Hỗ trợ trẻ phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội.
4.5.1. Hỗ trợ trẻ phát triển tình cảm.
- Phát triển tình cảm ở trẻ là phát triển các năng lực: Nhận biết và hiểu cảm
xúc của bản thân, thể hiện và kiểm soát cảm xúc của chính mình, hiểu và đáp lại
cảm xúc của người khác. Cảm xúc có sức mạnh rất to lớn trong cuộc sống con
người. Phát triển tình cảm là việc trẻ em có được hiểu biết không ngừng về cảm
16
xúc, khả năng thể hiện và kiểm soát cảm xúc của trẻ như khóc, cười ảnh hưởng
đến hành vi của người khác với trẻ và ngược lại sự biểu hiện cảm xúc của mọi
người giúp định hướng hoặc điều tiết hành vi xã hội.
VD: Cảm xúc vui, buồn, tức giận, ngạc nhiên, sợ hãi, ghê tởm, thích thú là
những cảm xúc cơ bản của con người. Khi giao tiếp với người khác cần nhìn vào
gương mặt để biểu lộ cảm xúc vui hay buồn phù hợp với hoàn cảnh, khi người
khác buồn thì cần thể hiện sự đồng cảm thể hiện nét mặt buồn, khi vui thể hiện
nét mặt vui…
- Nếu có trẻ thể hiện cảm xúc chưa phù hợp giáo viên cần hỗ trợ trẻ bằng
cách giải thích cho trẻ hiểu. Giáo viên cần có những cách thức để hỗ trợ trẻ phát
triển cảm xúc như: Dạy từ vựng cho trẻ về cảm xúc gắn với trải nghiệm thực tế
bằng cách gọi tên các cảm xúc của trẻ giúp trẻ nhận ra đúng cảm xúc (vui vẻ, sợ
hãi…). Cho trẻ xem tranh thể hiện cảm xúc khác nhau để dạy trẻ nhận biết và
trẻ nào thể hiện cảm xúc chưa phù hợp cô sẽ hỗ trợ trẻ bằng cách trò chuyện,
giải thích, giúp trẻ thể hiện được cảm xúc phù hợp với hoàn cảnh.
- Đặc biệt là qua các trò chơi trẻ có thể được trải nghiệm rất nhiều cảm xúc
như vui, buồn, sợ hãi, ngạc nhiên, sung sướng, hạnh phúc, tự hào, thất vọng,
thích thú. hăng hái, lo lắng, ghen tỵ, rụt rè, chán nản….
VD : Cho trẻ chơi các trò chơi vận động, học tập hay cho trẻ chơi ở các góc
phân vai, xây dựng, góc học tập, góc nghệ thuật.. mỗi trò chơi, góc chơi khác
nhau sẽ giúp trẻ phát triển các cảm xúc khác nhau.
- Giáo viên cần tạo cơ hội cho trẻ nói về các tình cảm của mình với người
lớn và bạn bè, tận dụng mọi cơ hội trong thực tế để dạy trẻ học cách kìm chế
hành vi, kiểm soát cảm xúc.
VD: Trong giờ đón trẻ. có trẻ khóc giáo viên cần cố gắng tìm hiểu vì sao
trẻ khóc, cần thể hiện sự chia sẻ với trẻ, cô ôm ấp vỗ về trẻ, an ủi động viên để
trẻ có cảm giác an toàn, cho trẻ thời gian để trẻ bình tĩnh lại, động viên trẻ và nói
ra tình cảm của mình và lắng nghe trẻ. Khuyến khích trẻ tìm ra giải pháp như:
nếu tình hống này lại xảy ra lần nữa, thay vì chỉ khóc thôi thì con sẽ làm gì?..
Hoặc chúng mình hãy cùng nhau đi tìm nhé...
18
- Giáo viên cần dựa vào các tình huống cụ thể để hỗ trợ trẻ kiểm soát, kìm
chế cảm xúc. Cung cấp cho trẻ các phương tiện để thể hiện cảm xúc của mình,
khuyến khích trẻ thể hiện cảm xúc một cách phù hợp trong cuộc sống hàng
ngày. Cô giáo cần trao đổi, thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm với trẻ về cách giải
quyết vấn đề, điều quan trọng là giáo viên cần đóng vai trò là người cung cấp
các hình mẫu về cách thể hiện cảm xúc, có thái độ luôn quan tâm đến cảm xúc
của những người xung quanh, cách ứng xử đúng mực trong cuộc sống sinh hoạt
cùng trẻ. Khi đọc truyện, kể chuyện, đọc thơ cần diễn cảm trong giọng đọc và
điệu bộ thể hiện cảm xúc của nhân vật.
Nếu thiếu kỹ năng này trẻ sẽ trở lên yếu ớt, không làm chủ được bản thân, hình
thành tính ỷ lại, dựa dẫm vào người khác. Chính vì vậy mà người lớn và cô giáo
cần rèn cho trẻ tính tự lập, tự chủ với bản thân từ khi trẻ còn nhỏ.
VD: Khi trẻ lẫm chẫm biết đi, khi ngã nên để trẻ tự đứng dậy, cô giáo và bố
mẹ không vội vàng bế con lên suýt xoa sợ con đau… khi trẻ 24- 36 tháng cần
dạy trẻ mặc quần áo, cất dép, giầy đúng nơi quy định, dạy trẻ tự xúc cơm ăn khi
trẻ từ 18 tháng tuổi…
- Kỹ năng tự lập giúp trẻ hình thành thói quen độc lập, giải quyết sự việc,
nhờ vậy trẻ sẽ thích thú, tự hào về sự thành công. Khi trẻ đã có kỹ năng tự lập thì
không chỉ lợi cho việc phát triển của trẻ mà còn giúp ích cho người lớn có nhiều
thời gian làm việc khác mà không phải phục vụ con.
4.5.2.2. Kỹ năng tự kiểm soát và trách nhiệm.
- Tự kiểm soát bản thân là một kỹ năng rất quan trọng trong việc phát triển
nhân cách con người. Tự kiểm soát được bản thân góp phần rất lớn trong sự
thành công của trẻ, với trẻ nhà trẻ vì có một khoảng cách lớn giữa điều trẻ muốn
làm và điều trẻ có thể làm được nên trẻ thường nổi giận, quấy khóc. Do chưa có
khả năng bày tỏ cảm xúc của bản thân bằng lời nói nên khi tức giận trẻ có thể lao
vào cắn, cấu bạn, để giúp trẻ kiểm soát cơn tức giận giáo viên nên áp dụng cách
cho trẻ thở sâu hơn, hoặc có thể rời trẻ trong thời gian ngắn một hoặc hai phút để
làm dịu cơn tức giận. Nhưng tuyệt đối không được lờ trẻ đi để trẻ xử lý một
mình. Để hiểu nhu cầu của trẻ giáo viên và người lớn nên lắng nghe, dành nhiều
thời gian chơi với trẻ để hiểu trẻ. Khi trẻ lớn hơn (3- 5 tuổi) giáo viên hỗ trợ trẻ
20
thể hiện kỹ năng tự kiểm soát và trách nhiệm như: Tuân thủ theo luật (luật chơi,
hay những quy định chung của lớp…). Điều chỉnh theo những sự thay đổi trong
hoạt động lặp lại, quan tâm đến dụng cụ, vật liệu, chịu trách nhiệm cho hành vi
của mình, tôn trọng tài sản của người khác.
VD: Không tranh giành đồ đùng, đồ chơi của bạn bè trong lớp, không tự ý
vật xung quanh trẻ. Cô truyền cảm xúc cho trẻ ngay từ tuổi ấu thơ giúp trẻ
hướng tới những cái thiện, cái đẹp trong cuộc sống. biết quan tâm đến mọi
người, mọi vật xung quanh.
4.6. Tuyên truyền và phối kết hợp với gia đình.
Gia đình là nơi có điều kiện hiểu trẻ sớm nhất, toàn diện nhất. Gia đình
chính là tiền đề cho việc thiết lập mối quan hệ, là điểm tựa cơ bản cho trẻ nhận
thức về bản thân, thế giới xung quanh cũng như hình thành và phát triển những
nét nhân cách đầu tiên trong cuộc sống. Trong thực tế nhiều cha mẹ chưa am
hiểu sâu về ích lợi của việc phối kết hợp giữa nhà trường và gia đình cùng quan
điểm, thống nhất các nội dung hỗ trợ trẻ phát triển tình cảm kỹ năng xã hội theo
hướng tích cực sẽ giúp cho sự thành công của trẻ sau này như thế nào? để có
những nội dung giáo dục thống nhất đồng bộ, nhà trường mời phụ huynh tham
gia các buổi nói chuyện, tọa đàm giữa giáo viên với phụ huynh, giữa phụ huynh
với phụ huynh, cùng nhau chia sẻ những kinh nghiệm đã thực hiện thành công
trong cuộc sống. Giúp phụ huynh không chỉ tiếp thu kiến thức, mà còn thêm cơ
hội được thử áp dụng những tri thức đã tiếp thu được, giải quyết những tình
huống giáo dục xảy ra thường xuyên hàng ngày khi tiếp xúc với trẻ. Giáo dục trẻ
ở gia đình phải phù hợp với mục tiêu chung của giáo dục mầm non, cha mẹ trẻ
phải là người đồng hành và có am hiểu nhất định về kiến thức để hỗ trợ trẻ phát
triển tình cảm, kỹ năng xã hội cùng nhà trường. Việc giáo dục trẻ phải thống
nhất, hòa quyện vào nhau cùng hướng tới sự phát triển toàn diện cho trẻ sẽ mang
lại hiệu quả cao.
5. Kết quả đạt được sau khi áp dụng sáng kiến.
Qua 3 tháng thực hiện các biện pháp của sáng kiến nhà trường đã có được
các kết quả đáng kể: Đối với trẻ trong các nhóm lớp trẻ mạnh dạn tự tin hơn, trẻ
nói và diễn đạt ý của mình bằng ngôn ngữ mạch lạc, đủ câu. Trong các giờ chơi
22
trẻ đã có kỹ năng hợp tác, tuân thủ, chờ đến lượt, phục tùng theo người hướng
ngoài trời
2/2
1/2
2/2
1/2
2/2
1/2
2/2
2/2
1/2
2/2
Tổng cộng
8 gv
viên
Hoạt
động
1/2
2/2
1/2
2/2
2/2
1/2
1/2
2/2
1/2
2/2
1/2
2/2
2/2
2/2
8/8
trẻ
2 gv dạy
nhóm trẻ
2 gv dạy
lớp 3 tuổi
2 gv dạy
lớp 4 tuổi
2 gv dạy
lớp 5 tuổi
Hoạt
động
nêu
gương
Hoạt
Hoạt
động góc
8/8
4/8
Đạt 50%
Đạt
100%
4/8 đạt
Hoạt
động
học
Hoạt
động
ngoài
trời
Hoạt
Hoạt
Hoạt
động
động
động
góc
ăn, ngủ
chiều
Hoạt
Hoạt
2/2
2/2
2/2
2/2
2/2
2/2
2/2
2/2
2/2
2/2
2/2
2/2
2/2
2/2
2/2
8/8
8/8
8/8
8/8
8/8
8/8
8/8
8/8
8/8
cộng
Đạt
Đạt
Đạt
Đạt
Đạt
Tổng
* Đối với trẻ
- Khi chưa áp dụng sáng kiến.
Phát triển tình cảm
Tên khối,
lớp
Phát triển kỹ năng xã hội
Điều chỉnh, kiểm
Số trẻ
Nhà trẻ
MG 3 tuổi
MG 4 tuổi
MG 5 tuổi
25
25
30
35
Tổng cộng
115
Hiểu, kiểm soát
Hiểu và đáp lại
Không
cầu
đạt
cầu
đạt
cầu
10
12
14
16
52=
15
13
16
19
63=
8
9
10
13
40=
đạt
16
15
15
15
61=
9
10
14
15
48=
16
15
16
20
67=
53%
42%
58%
- Khi đã áp dụng sáng kiến.
Tên
khối,
Hiểu, kiểm soát
cảm xúc của
bản thân
Hiểu và đáp lại
cảm xúc của
người khác
Đạt yêu
Không
Đạt yêu
Không
Đạt yêu
Không
Đạt yêu
Không
cầu
đạt
cầu
2
2
1
10=
22
22
27
34
103=
5
3
3
1
12=
19
21
27
33
100=
6
4
3
2
15=
92%
mọi người; tăng 43%.
- Hiểu và tuân thủ những quy tắc xã hội; tăng 45% so với khi chưa áp dụng
sáng kiến
Sau khi áp dụng sáng kiến vẫn còn một số trẻ chưa đạt được yêu cầu. Số trẻ
không đạt yêu cầu đa số còn ở độ tuổi nhà trẻ; lý do: trẻ còn nhỏ một số trẻ phát
triển ngôn ngữ và nhận thức chậm dẫn đến việc hỗ trợ trẻ chưa đạt được yêu cầu
đề ra. Đối với trẻ mẫu giáo đạt yêu cầu cao hơn, điều đó cho chúng ta thấy việc
hỗ trợ trẻ phát triển tình cảm kỹ năng xã hội không phải một sớm một chiều, mà
mỗi giáo viên cần tâm huyết, kiên trì, bền bỉ, linh hoạt, nhiệt tình mới giáo dục
trẻ phát triển thành công.
6. Điều kiện để sáng kiến được nhân rộng.
Ban giám hiệu các nhà trường cần quan tâm và đầu tư cơ sở vật chất đầy đủ
cho các nhóm lớp như:
+ Các phương tiện, đồ dùng đồ chơi trong các góc và các đồ dùng phục vụ
cho việc học, chơi, lao động vừa sức của trẻ.
25