skkn một số biện pháp giúp học sinh chậm phát triển trí tuệ tham gia hợp tác nhóm có hiệu quả ở lớp 2 - Pdf 25

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRUNG TÂM NUÔI DẠY TRẺ KHUYẾT TẬT
Mã số:………………
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP
GIÚP HỌC SINH CHẬM PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ
THAM GIA HỢP TÁC NHÓM CÓ HIỆU QUẢ Ở LỚP 2
Người thực hiện: ĐOÀN THỊ NGỌC TÂM
Lĩnh vực / Môn nghiên cứu:
Giáo dục khuyết tật: Kĩ năng hợp tác nhóm
Sản phẩm đính kèm:
 Mô hình  Phần mềm  Phim ảnh  Hiện vật khác

Năm học: 2013 – 2014
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: ĐOÀN THỊ NGỌC TÂM
2. Ngày tháng năm sinh: 07/11/1986
3. Nam, nữ: Nữ
4. Địa chỉ: 1549D, tổ 9, ấp 4, xã Thạnh Phú, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai
5. Điện thoại: CQ: 0613954171 ; ĐTDĐ: 0978340971
6. Fax: E-mail:
7. Chức vụ: Giáo viên
8. Nhiệm vụ được giao: Giáo viên chủ nhiệm lớp 2 Chậm phát triển trí tuệ
9. Đơn vị công tác: Trung tâm Nuôi dạy trẻ khuyết tật Đồng Nai
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân khoa học
- Năm nhận bằng: 2008
- Chuyên ngành đào tạo: Giáo dục đặc biệt
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Dạy học sinh Chậm phát triển trí tuệ

Với trẻ Chậm phát triển trí tuệ (CPTTT), thông qua giao lưu với bạn bè, kĩ
năng giao tiếp của trẻ phát triển nhanh, sớm hình thành tính độc lập trong sinh hoạt
hàng ngày. Nhận biết được tầm quan trọng của sự gắn kết với tập thể, là giáo viên
phụ trách chủ nhiệm, tôi cố gắng áp dụng nhiều phương pháp dạy học, tổ chức
nhiều hoạt động hợp tác nhóm để kết nối mỗi cá nhân trẻ vào tập thể lớp.
Tuy nhiên, ở lớp chuyên biệt dành cho học sinh CPTTT, mỗi em học sinh là
một cá thể riêng biệt về dạng khuyết tật trí tuệ, có sự chênh lệch nhiều về độ tuổi
và trình độ nhận thức. Do bị ảnh hưởng của khuyết tật, trẻ gặp nhiều hạn chế trong
các kĩ năng thích ứng với môi trường tập thể như: Giao tiếp kém, hay cô lập thu
mình lại với các bạn, không tuân thủ các quy định, hiểu yêu cầu chậm, phối hợp
lẫn nhau không đồng đều … Trong quá trình hợp tác nhóm, học sinh gặp nhiều khó
khăn để hòa đồng với các bạn, khó kết hợp nhịp nhàng trong một hoạt động, sự
hợp tác qua lại giữa các cá nhân còn kém, các phương pháp học tập theo nhóm
không đạt hiệu quả cao về chất lượng.
Tôi nhận thấy cần phải tìm hiểu thêm nhiều về đặc điểm của trẻ CPTTT,
những hạn chế trẻ gặp phải trong hoạt động nhóm. Từ đó, tôi bắt đầu tìm tòi, áp
dụng và sáng tạo nhiều biện pháp, vận dụng nhiều phương pháp vào công tác chủ
nhiệm và giảng dạy để giúp các em học sinh biết mở rộng mối quan hệ bạn bè, hòa
đồng với tập thể, cùng hoạt động và hợp tác có hiệu quả. Sau đây, tôi xin chia sẻ
đến các bạn đồng nghiệp một vài kinh nghiệm nhỏ được đúc kết từ thực tế với đề
tài: “Một số biện pháp giúp học sinh Chậm phát triển trí tuệ tham gia hợp tác
nhóm có hiệu quả ở lớp 2”.
1
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Tiêu chí chẩn đoán trẻ Chậm phát triển trí tuệ
Định nghĩa theo DSM - IV (Tài liệu Chẩn đoán và Thống kê các bệnh về
tâm thần, một hệ thống phân loại), đưa ra các tiêu chí chẩn đoán cho trẻ khuyết tật
trí tuệ:
- Chức năng hoạt động của trí tuệ dưới mức trung bình đáng kể (chỉ số thông minh
IQ vào khoảng 70 hay thấp hơn dựa vào kiểm tra chỉ số thông minh).

b) Trẻ ít có sự tương tác với người khác
- Trẻ có tính thụ động, không thích làm quen với các bạn.
- Trẻ hay có biểu hiện thờ ơ với sự vật xung quanh.
2
- Trẻ phản ứng chậm khi trò chuyện với mọi người và không thích tham gia
chơi cùng các bạn.
- Trẻ nhút nhát trước tập thể.
- Trẻ hay cáu giận, không biết kiềm chế cảm xúc bốc đồng khi chơi với bạn.
c) Trình độ nhận thức của trẻ chậm hơn nhiều so với trẻ bình thường
- Tư duy mang tính trực quan – cụ thể: Trẻ CPTTT nhận biết sự vật chủ yếu
bằng cách quan sát hình ảnh. Trẻ khó hiểu một yêu cầu bằng lời nói.
- Trẻ CPTTT gặp khó khăn khi tiếp thu kiến thức mới và dễ mất đi kiến thức đã
được tiếp thu.
- Trẻ có trí nhớ ngắn hạn và máy móc: Trí nhớ trẻ CPTTT có đặc điểm chậm
nhớ, chóng quên và ghi nhớ bằng hình ảnh, khó ghi nhớ bằng lời nói.
- Khả năng chú ý: Trẻ CPTTT có thời gian tập trung rất ngắn, dễ bị phân tâm,
khó tham gia đến hết một hoạt động.
- Khả năng khái quát kém: Trẻ CPTTT khó hiểu một yêu cầu, một quy luật đơn
giản trong trò chơi hay trong hoạt động học tập.
d) Trẻ dễ mất niềm tin vào bản thân
- Trẻ hay tự ti, mặc cảm với những hạn chế do khuyết tật của mình so với các
bạn khác.
- Trẻ không tự tin khi thực hiện một bài tập.
- Tâm lý hay phụ thuộc vào giáo viên, bắt chước vào các bạn khác.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
Với vai trò quan trọng của hợp tác nhóm cùng những khó khăn trẻ CPTTT
gặp phải khi tham gia vào kĩ năng này, việc tìm tòi, nghiên cứu nhiều biện pháp để
giúp các em học sinh trong lớp học tập có hiệu quả hơn thông qua phương pháp
làm việc nhóm là yêu cầu thiết thực cần phải thực hiện.
Sau đây, tôi xin đưa ra một số biện pháp giúp trẻ chậm phát triển trí tuệ tham

chức một hoạt động nhóm có hiệu quả, giáo viên cần nắm rõ các bước và đảm bảo
trẻ hiểu thông ở từng bước.
Qua kinh nghiệm thực tế dạy trẻ CPTTT học hợp tác nhóm, tôi nhận thấy
một hoạt động nhóm muốn có hiệu quả phải gồm các bước sau đây:
Bước 1: Giới thiệu bài tập
Trẻ CPTTT rất dễ thiếu tự tin khi thực hiện bài tập. Ở hoạt động nhóm, giáo
viên không thể hướng dẫn trực tiếp từng em. Vì thế, khi chọn bài tập cho hoạt động
nhóm, tôi thường chọn những bài tập quen thuộc, đảm bảo mỗi em đã từng thực
hiện qua, giúp trẻ tự tin thực hiện.
Ví dụ: Môn Học vần, bài “an”, tôi giới thiệu bài tập “Nối từ với hình tương
ứng”. Tôi đính lên bảng các thẻ hình: Nhà sàn, cái bàn, hoa lan. Sau đó, tôi đính
tiếp các thẻ từ: “Nhà sàn”, “cái bàn”, “hoa lan”. Tôi yêu cầu học sinh quan sát và
nêu bài tập: “Nối từ với hình tương ứng”.
Bước 2: Làm mẫu bài tập
Đặc điểm nhận thức của trẻ CPTTT có nhiều hạn chế, khả năng suy nghĩ
chậm, hay quên kiến thức cũ. Do đó, để đảm bảo mỗi trẻ đều thực hiện được bài
tập, giáo viên cần hướng dẫn lại cách làm bài, làm mẫu trực tiếp hoặc yêu cầu một
HS lên bảng thực hiện dưới sự hướng dẫn từ giáo viên và các em còn lại đều được
theo dõi.
Ví dụ: Với hoạt động trên, tôi chọn thẻ từ “hoa lan”, hướng dẫn học sinh
đọc từ “hoa lan”, yêu cầu các em tìm thẻ hình “hoa lan” rồi dùng phấn nối thẻ từ
với thẻ hình vừa tìm được.
Bước 3: Phân nhóm học sinh
Tiến hành phân chia học sinh trong lớp thành các nhóm nhỏ. Số lượng các
nhóm tùy theo hình thức tổ chức. Việc lựa chọn các thành viên chung nhóm cũng
cần dựa theo chủ đích từ trước của giáo viên.
4
Ví dụ: Tôi tiến hành chia học sinh thành hai nhóm đa trình độ, mỗi nhóm có
3 thành viên. Hai nhóm xếp thành hai hàng dọc, đứng song song với nhau.
Bước 4: Nêu yêu cầu cho mỗi nhóm

Hình: Học sinh chia thành hai nhóm Hình: Các nhóm thi đua nhau
3. Biện pháp 3: Luyện tập nhóm hoạt động theo quy luật
Trong một hoạt động nhóm, các thành viên trong nhóm phối hợp nhau theo
một quy luật nhất định.
Thông thường ở lớp CPTTT, tôi tổ chức học sinh tham gia hợp tác nhóm dựa
trên hoạt động chơi luân phiên. Hoạt động này đòi hỏi mỗi thành viên phải biết chờ
đợi, phối hợp, ý thức trách nhiệm của mình trong đội.
Cách tổ chức trò chơi luân phiên: Mỗi nhóm xếp thành một hàng, thành viên
đứng ở đầu hàng thực hiện nhiệm vụ trước tiên, sau đó về hàng đứng ở vị trí cuối
cùng. Thành viên thứ hai tiếp tục lên thực hiện, thành viên thứ ba tiến lên đứng ở
vị trí đầu hàng, các thành viên phía sau cùng dồn hàng lên. Các bạn ở trong hàng
cùng động viên, cổ vũ cho bạn đang cố gắng thực hiện nhiệm vụ phía trước.
Để giúp học sinh dễ dàng làm quen các quy luật, giáo viên cần chú ý những
vấn đề sau đây:
- Đảm bảo mọi thành viên đều nắm rõ yêu cầu đề ra để trẻ tự tin thực hiện bài
tập.
Ví dụ: Ở môn Học vần, hoạt động “Khoanh tròn vần ôi”, tôi hướng dẫn trẻ
thực hiện theo từng cá nhân ở tiết học trước rồi mới tổ chức cho các trẻ thi đua
theo nhóm.
- Giải thích nhiệm vụ: Đây là một kĩ năng của người giáo viên. Khi giao nhiệm
vụ, giáo viên chú ý :
+ Dùng từ ngữ rõ ràng, ngắn gọn, lời nói dứt khoát, đủ nghe.
+ Nêu yêu cầu bài tập kết hợp với giải thích bài tập.
Ví dụ: Hoạt động “Khoanh tròn vần ôi”, tôi vừa nêu yêu cầu vừa dùng ngón
tay xoay tròn trong không khí.
+ Vừa nêu luật chơi vừa làm mẫu. Ví dụ: Để giải thích cho quy luật chơi
luân phiên, giáo viên đến hàng của một nhóm và minh họa trực tiếp nhiệm vụ của
các thành viên trong hàng.
+ Đặt câu hỏi kiểm tra lại. Ví dụ: Giáo viên yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi:
“Các em phải khoanh tròn vần gì?” trước khi cho các nhóm thi đua.

nâng cao ý thức học tập của từng thành viên. Tuy nhiên, một số thành viên lại có
biểu hiện không hợp tác vào hoạt động, không tham gia vào thực hiện nhiệm vụ
hay có tính dựa dẫm vào các thành viên khác.
Để giúp cho mỗi trẻ đều ý thức được vai trò của mình trong nhóm và trách
nhiệm của mình với tập thể, giáo viên có thể sử dụng các gợi ý sau :
- Tìm hiểu khó khăn do khuyết tật gây ra của mỗi trẻ để có biện pháp giúp trẻ
khắc phục.
Ví dụ: Em Hân không nói được nên khi tổ chức thi hát giữa các nhóm, tôi
hướng dẫn em múa minh họa cho lời bài hát.
- Phát huy sở trường của mỗi thành viên trong nhóm. Mỗi trẻ đều có ít nhất một
khả năng nổi trổi. Để giúp trẻ tự tin với bản thân, để tập thể nhìn nhận vị trí của trẻ,
tôi cố gắng tìm hiểu khả năng của mỗi trẻ và tạo cơ hội cho trẻ được bộc lộ khả
năng ấy trước tập thể.
Ví dụ: Em Tâm có hội chứng Tăng động, giảm tập trung nhưng có khả năng
ghi nhớ bài hát tốt. Vì vậy, môn Âm nhạc, tôi thường cho các nhóm thi hát với
nhau, các em trong lớp rất thích vào cùng nhóm với Tâm để được hát theo lời gợi
mở của em.
- Giúp trẻ nhận biết được lợi ích của tinh thần tập thể. Để dạy trẻ hiểu tầm quan
trọng của làm việc nhóm, tôi sử dụng những câu chuyện kể nói về tinh thần đồng
đội, sức mạnh của tập thể. Giáo viên có thể lấy câu chuyện từ sách báo hay tự sáng
tạo để phục vụ cho giảng dạy.
Ví dụ: Khi nghe xong câu chuyện “Nhổ củ cải”, trẻ hiểu được củ cải to phải
có sự hợp sức của những thành viên gồm: Ông lão, bà lão, cô cháu gái, con chó,
con mèo, con chuột thì mới nhổ được, còn nếu chỉ một mình ông lão thì củ cải
khổng lồ ấy sẽ không bao giờ nhổ lên nổi.
- Xác định biểu trưng của nhóm. Các thành viên trong nhóm được gắn kết
nhau thông qua những đặc điểm riêng của nhóm mình. Để tạo những nét riêng cho
mỗi nhóm, tôi giúp trẻ đặt tên cho nhóm mình, hay làm các mão đội, huy hiệu,
vòng tay giống nhau cho mỗi thành viên trong nhóm.
- Áp lực bên ngoài thúc đẩy mỗi thành viên phải hoạt động. Ở các hoạt động

tổ chức hoạt động nhóm có thể ở trong lớp hay ngoài trời, tùy thuộc vào điều kiện
thời tiết và nội dung bài học. Một không gian thoáng đãng, an toàn cho sức khỏe
hay phòng học ngăn nắp, sạch sẽ là một khởi đầu tốt cho những tiết học hiệu quả.
Để có một môi trường thuận lợi cho trẻ tham gia hợp tác nhóm, giáo viên
cần chú ý:
- Sắp xếp không gian lớp học rộng rãi, ngăn nắp.
9
- Chọn vị trí sân trường sạch sẽ, an toàn.
- Tổ chức vào buổi sáng sớm hoặc chiều mát để tránh ánh nắng cao.
- Tạo môi trường thân thiện giúp trẻ tham gia tích cực.
- Thường xuyên tổ chức học sinh tham gia hợp tác nhóm.
- Sáng tạo các hình thức hợp tác nhóm thêm đa dạng, phong phú.
- Vận dụng linh hoạt các hoạt động hợp tác nhóm vào bài dạy.
Ví dụ 1: Môn Đạo đức, bài “Giúp đỡ bạn”, tôi tổ chức cho học sinh tham gia
hoạt động chơi sắm vai để xử lý tình huống: “Bạn Nhi bị đau chân, không bước lên
thềm được, em sẽ làm gì?”. Học sinh cùng nhau hợp tác để diễn lại cách giải quyết
cho tình huống cô đề ra.
Ví dụ 2: Trong giờ học Thể dục, học sinh cùng nhau chơi đá bóng. Giáo viên
hướng dẫn các em phân chia nhiệm vụ ở các vị trí thủ môn, cầu thủ, trọng tài trên
sân bóng.
Ví dụ 3: Môn Âm nhạc, sau mỗi tiết học hát, học sinh cùng cô vận động tự
do theo nhạc, các em đứng thành vòng tròn hoặc theo nhóm đôi, nhóm ba, cùng
nhau nhảy múa, quan sát lẫn nhau và sáng tạo các kiểu vận động hay, mới lạ. Hình: Học sinh chơi sắm vai Hình: Học sinh vận động theo nhạc
6. Biện pháp 6: Sử dụng trò chơi đóng vai
Trò chơi đóng vai là hình thức hợp tác nhóm để mô phỏng lại những mối
quan hệ của người lớn trong xã hội. Trò chơi đóng vai cần có nhiều vai diễn. Từ đó
thúc đẩy nhu cầu các trẻ phải xích lại gần hơn để cùng chơi với nhau, cùng phối

những người mua hàng.
- Hướng dẫn trẻ cách bày hàng lên bàn để bán.
- Phát rổ, tiền giấy cho mỗi em.
- Quan sát trẻ chơi. Động viên trẻ chơi theo kinh nghiệm sống.
- Giáo viên có thể hướng dẫn trẻ thao tác trên các vật dụng, gợi ý trẻ
cách giao tiếp, trao đổi nhau giữa người bán và người mua:
+ Bán cho tôi hai quả xoài. Bao nhiêu tiền?
+ Mười ngàn đồng. Xoài của chị đây.
+ Cảm ơn chị.Hình: Học sinh chơi “bán hàng”
11
7. Biện pháp 7: Kết hợp với phụ huynh tham gia dạy trẻ kĩ năng hợp tác
Hai môi trường tập thể lớn trong cuộc sống của trẻ là lớp học và gia đình. Ở
lớp học, bạn bè là đối tượng tương tác gần gũi với trẻ. Khi về nhà, người thân gia
đình là những thành viên để trẻ gắn bó trong tập thể này. Ngày nay, xã hội năng
động, cuộc sống với những lo toan vất vả, người lớn ít có thời gian bên cạnh trẻ.
Đặc biệt, một số gia đình có con CPTTT, cha mẹ có suy nghĩ để con xem ti vi
nhiều nhằm hạn chế những phá phách, quấy rối, cản trở đến công việc của mình.
Do ít có sự tương tác ở gia đình, trẻ chậm tiến bộ nhiều so với các trẻ được cha mẹ
quan tâm hơn.
Muốn giúp trẻ CPTTT có kĩ năng hợp tác tốt, giáo viên cần có sự liên kết
chặt chẽ với phụ huynh, người thân của trẻ.
Để tư vấn tốt cho phụ huynh, giáo viên cần nắm rõ:
- Hoàn cảnh gia đình của trẻ: Nghề nghiệp cha mẹ, anh chị em trong nhà, người
thân gần gũi với trẻ ở nhà, thời gian cha mẹ dành cho trẻ trong một ngày, mức độ
gắn bó của trẻ với cha mẹ, người thân, hàng xóm …
- Đặc điểm khuyết tật của trẻ, những khó khăn, hạn chế trẻ gặp phải về ngôn
ngữ, giao tiếp, tương tác với bạn bè, .

động hợp tác nhóm.
Dưới đây là Bảng thống kê một số kĩ năng hợp tác nhóm học sinh trong lớp
đã đạt được vào hai thời điểm là Đầu năm học và Giữa học kì II trong năm học
2013– 2014:
Tổng
số
HS
Kĩ năng hợp tác nhóm
ĐẦU NĂM HỌC GIỮA HỌC KÌ II
Chưa
đạt
% Đạt %
Chưa
đạt
% Đạt %
7
Nhường nhịn lẫn nhau
6 85.7 1 14.3 1 14.3 6 85.7
Chia sẻ
5 71.4 2 28.6 1 14.3 6 85.7
Chờ đợi tới lượt mình
7 100 0 0 0 0 7 100
Giúp đỡ bạn khó khăn
5 71.4 2 28.6 1 14.3 6 85.7
Kiềm chế nóng giận
7 100 0 0 2 28.6 5 71.4
Tự tin thực hiện bài tập
6 85.7 1 14.3 2 28.6 5 71.4
Phối hợp với bạn trong nhóm
7 100 0 0 1 14.3 6 85.7

7 0 0 1 14.3 2 28.6 4 57.1
GIỮA HỌC KÌ II
7 2 28.6 3 42.9 2 28.6 0 0
V. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG ĐỀ TÀI
Để các biện pháp giúp học sinh CPTTT tham gia hợp tác nhóm được thực
hiện có hiệu quả, qua kinh nghiệm thực tế, tôi có một số đề xuất sau:
1. Đối với giáo viên dạy lớp
- Nắm rõ những hạn chế của từng trẻ khi tham gia hợp tác nhóm.
- Sưu tầm thêm nhiều hình thức hợp tác nhóm.
- Linh hoạt sử dụng, biến đổi qua lại các hình thức hợp tác nhóm cho phù hợp
với nội dung bài dạy.
- Kiên trì, nhẫn nại trong quá trình rèn luyện trẻ.
- Tổ chức hợp tác nhóm dựa trên tinh thần vui chơi, học hỏi lẫn nhau.
- Không ngừng trao đổi và học tập kinh nghiệm giảng dạy.
- Kết hợp chặt chẽ với phụ huynh để rèn luyện và theo dõi sự tiến bộ của trẻ.
2. Đối với Trung tâm và các cấp quản lí ngành
- Xây dựng tủ sách giáo khoa chuyên ngành Chậm phát triển trí tuệ, thu thập
các loại sách, tạp chí, truyện đọc trong và ngoài nước phục vụ cho công tác giảng
dạy trẻ Chậm phát triển trí tuệ.
- Tạo không gian cho trẻ được vui chơi, sinh hoạt tập thể với các góc hoạt động
như: Đóng vai theo chủ đề, xây dựng, nghệ thuật, nấu ăn, âm nhạc.
3. Đối với phụ huynh
- Tin tưởng vào sự tiến bộ của trẻ.
- Hiểu rõ đặc điểm khuyết tật của con.
- Luôn thể hiện tình cảm yêu thương với con.
- Dành nhiều thời gian để cùng trẻ học tập, vui chơi.
- Hãy là người bạn chân thành của con.
- Tạo mối quan hệ gắn bó cho trẻ với cộng đồng gần nhà.
- Trao đổi với giáo viên khi gặp trở ngại trong quá trình tương tác cùng trẻ.
Rèn luyện kĩ năng hợp tác nhóm cho học sinh Chậm phát triển trí tuệ là một

Biên Hoà, ngày tháng năm 2014
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2013- 2014
Tên sáng kiến kinh nghiệm: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH CHẬM PHÁT
TRIỂN TRÍ TUỆ THAM GIA HỢP TÁC NHÓM CÓ HIỆU QUẢ Ở LỚP 2
Họ và tên tác giả: ĐOÀN THỊ NGỌC TÂM. Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Tổ Chuyên môn (Tiểu học)
Lĩnh vực/ Môn nghiên cứu: Giáo dục khuyết tật: Kĩ năng hợp tác nhóm
- Quản lý giáo dục - Phương pháp dạy học
- Phương pháp giáo dục - Lĩnh vực khác: …………….
Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng: Tại đơn vị Trong Ngành
1. Tính mới
- Đề ra giải pháp thay thế hoàn toàn mới, bảo đảm tính khoa học, đúng đắn
- Đề ra giải pháp thay thế một phần giải pháp đã có, bảo đảm tính khoa học, đúng đắn
- Giải pháp mới gần đây đã áp dụng tại đơn vị khác nhưng chưa từng áp dụng ở đơn vị
mình nay tác giả tổ chức thực hiện và có hiệu quả cho đơn vị
2. Hiệu quả
- Giải pháp thay thế hoàn toàn mới, đã được thực hiện trong toàn ngành có hiệu quả cao
- Giải pháp thay thế một phần giải pháp đã có, đã được thực hiện trong toàn ngành có
hiệu quả cao
- Giải pháp thay thế hoàn toàn mới, đã thực hiện tại đơn vị có hiệu quả cao
- Giải pháp thay thế một phần giải pháp đã có, đã thực hiện tại đơn vị có hiệu quả cao
- Giải pháp mới gần đây đã áp dụng tại đơn vị khác nhưng chưa từng áp dụng ở đơn vị
mình nay tác giả tổ chức thực hiện và có hiệu quả cho đơn vị
3. Khả năng áp dụng
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách:
Trong tổ/Phòng /Ban Trong cơ quan, đơn vị, cơ sở GD&ĐT Trong ngành
- Đưa ra giải pháp kiến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện, dễ di vào
cuộc sống: Trong tổ/Phòng /Ban Trong cơ quan, đơn vị, cơ sở GD&ĐTTrong ngành
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu quả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status