99
CA HÁT CHUYÊN NGHIỆP VIỆT NAM
NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN
Trương Ngọc Thắng
Trường Đại học Nghệ thuật, Đại
học Huế
Ca hát là loại hình nghệ thuật xuất hiện sớm nhất trong tiến trình phát triển
của đời sống nhân loại, ca hát là phương tiện bộc lộ và giãi bày tình cảm, là tiếng
nói đời sống nội tâm của con người, là công cụ đấu tranh để tồn tại và phát triển.
Không những thế, nó còn được coi là một loại hình nghệ thuật hữu hiệu và tích
cực góp phần giáo dục công dân, bồi dưỡng và xây dựng nhân cách, đạo đức cho
con người.
Ca hát là loại hình nghệ thuật đặc thù với hình thức diễn tấu là thông qua cơ
quan phát âm của cơ thể con người. Sự liên quan trực tiếp tới quá trình hoạt động
sinh - lý - sống của con người càng làm cho ca hát có mối quan hệ trực tiếp, hữu
cơ tới mọi khía cạnh thuộc đời sống nội tâm, tình cảm mà không một thứ nhạc cụ
nào, dù hiện đại nhất, dù tinh tế nhất mà nhân loại hiện có có thể thay thế được.
Nghệ thuật ca hát chuyên nghiệp của nhân loại mà đỉnh cao là dòng ca hát
thuộc trường phái thanh nhạc cổ điển belcanto châu Âu, đã hình thành và phát 100
triển từ nhiều thế kỷ qua. Hệ thống lý luận sư phạm cùng với những quy trình và
giáo trình đào tạo mang tính khoa học cao của trường phái thanh nhạc belcanto
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ KHOA HỌC VỀ MỘT
NỀN NGHỆ THUẬT CA HÁT HIỆN ĐẠI VIỆT NAM
Ca hát là một bộ phận không thể thiếu trong đời sống của xã hội nhằm
phục vụ con người, phục vụ xã hội, nâng cao đời sống tinh thần, văn hóa cho con
người, là vũ khí đấu tranh chống kẻ thù để tồn tại và phát triển.
Ca hát nói chung, ca hát mới chuyên nghiệp Việt Nam nói riêng tính từ
1945 đã đóng góp vai trò rất to lớn trong các cuộc cách mạng chống ngoại xâm
giải phóng dân tộc, ca hát đã trở thành vũ khí đấu tranh của các tử tù trong các
nhà lao của giặc. Ca hát chuyên nghiệp đã theo bước các đoàn quân trong các
chiến dịch Đông Xuân, Biên giới, Điện Biên Phủ, Đường Trường Sơn, Chiến
dịch Hồ Chí Minh , trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa, công cuộc đổi mới đất nước, trong quá trình hội nhập khu vực và
quốc tế.
Ca hát Việt Nam bắt nguồn và phát triển từ nghệ thuật ca hát dân gian
giàu bản sắc phong phú, từ lối hát giao duyên, hát đối đáp, hò vè, hát ru, các
vùng dân ca, dân nhạc tiêu biểu của Miền núi phía Bắc, của Đồng bằng Bắc bộ,
của Quan họ Bắc Ninh, ví dặm Nghệ Tĩnh, hò Thanh Hóa, dân ca miền Trung, ca
Huế, hò Bài chòi Khu V, tuồng Bình Định, từ Lý, hò vè đồng bằng Nam Bộ, Đờn
ca tài tử - cải lương, dân ca các vùng dân tộc Tây Nguyên, Khơ me, Chăm Pa.
Ca hát chuyên nghiệp Việt Nam bắt nguồn từ ca hát Cửa đình hay còn gọi
là hát Ả đào, hát Chèo, ca Huế. Trào lưu âm nhạc Tân nhạc trong thời kỳ Pháp
thuộc, trào lưu học tập nhạc cụ phương Tây, trào lưu hát lời ta theo điệu Tây, trào 102
lưu sáng tác ca khúc mới, nhạc cải cách, ca hát theo phim ảnh, hình thành các
ban, nhóm nhạc với người đi tiên phong là Ông Nguyễn Văn Tuyên, Nguyễn
Xuân Khoát. Chính quyền thực dân Pháp đã đỡ đầu để thành lập "Nhạc viện Viễn
Đông" theo đề nghị của Poincignon, mặc dù chỉ tồn tại 3 năm.
104
Với phương châm "Khoa học, Dân tộc, Đại chúng" trong đề cương Văn
hóa của Đảng ta năm 1943 đã tạo điều kiện để ca hát mới chuyên nghiệp Việt
Nam tiếp cận với nền ca hát chuyên nghiệp, hàn lâm của các nước xã hội chủ
nghĩa ở Châu Âu, Trung Quốc và Bắc Triều tiên bằng cách tuyển chọn thanh
thiếu niên có năng khiếu cử đi đào tạo ở Liên Xô, Trung Quốc, Triều Tiên để bổ
sung đội ngũ ca hát chuyên nghiệp Việt Nam. Đã bắt đầu có kế hoạch xây dựng
nền nghệ thuật và âm nhạc chuyên nghiệp trong đó có nghệ thuật ca hát chuyên
nghiệp và đã chứng tỏ đây là những chủ trương đúng đắn của Đảng ta.
Giai đoạn sau 1954 - 1975: Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ ngày 7
tháng 5 năm 1954 đã mở ra một thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam. Hội nghị
Giơnevơ được ký kết. Hòa bình được lập lại và miền Bắc Việt Nam tiến lên xây
dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam Việt Nam tạm thời bị chia cắt từ vĩ tuyến 17
trở vào nằm dưới ách kềm kẹp của Mỹ - Ngụy. Nền ca hát mới chuyên nghiệp
Việt nam lúc này được hình thành và phát triển ở mỗi miền của đất nước khác
nhau. Đó là Nền ca hát cách mạng yêu nước ở miền Bắc XHCN và các vùng giải
phóng miền Nam. Ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa là thời kỳ xây dựng cuộc sống
mới, là thời kỳ ruộng đất về tay nông dân, là phong trào bình dân học vụ, là tuần
lễ vàng, các hợp tác xã nông nghiệp hình thành, các khu công nghiệp như Gang
thép Thái Nguyên, Phốt phát Lâm Thao, Dệt Nam Định ra đời.
Năm 1956 Trường Âm nhạc Việt Nam ra đời (nay là Nhạc viện Quốc gia
Hà Nội) xây dựng quy trình đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp trong đó có ca hát
mới theo mô hình các Nhạc viện quốc tế với các trường phái belcanto của Châu
Âu.
Cùng với việc gửi đi đào tạo các ca sĩ từ các nước xã hội chủ nghĩa, việc
hình thành Nhạc viện Hà Nội đã cung cấp một đội ngũ ca sĩ đông đảo cho cách
mạng Việt Nam trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật với tên tuổi các nghệ sĩ, ca sĩ
nhạc Huế nhưng hầu như không có vai trò gì đáng kể trong hoạt động âm nhạc
chuyên nghiệp, ca hát mới chuyên nghiệp trong khu vực.
Ngày 30 - 4 -1975 là một mốc son chói lọi trong cuộc cách mạng giải
phóng dân tộc, thống nhất đất nước thu giang sơn tổ quốc Việt Nam về một mối.
Hệ thống các Nhạc viện Hà nội, Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh ra đời,
Trường Âm nhạc Huế, Hà Nội đã được củng cố đã cùng với hai Nhạc viện Hà
Nội và Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh đào tạo một đội ngũ ca sĩ chuyên
nghiệp đông đảo phục vụ đắc lực cho công cuộc bảo vệ, xây dựng nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam giàu mạnh.
Ngoài việc sử dụng có hiệu quả về mặt kỹ thuật các hệ thống tư liệu giáo
trình cuả các nước xã hội chủ nghĩa trước đây và các nước tiên tiến khác trong
khu vực và thế giới, các Nhạc Viện, các Trường Âm nhạc, các trường Nghệ thuật
đã hình thành một số chương trình, giáo trình kết hợp một cách hài hòa giữa kỹ
thuật Châu Âu với nội dung, ca khúc và tác phẩm Việt Nam đã đem lại những kết
quả rất tự hào trong quá trình đào tạo âm nhạc nói chung và ca hát mới chuyên
nghiệp nói riêng. Các tác phẩm, ca khúc Việt Nam với nội dung và chủ đề phong
phú viết về tâm hồn con người, lao động, tâm tư tình cảm, sự quyết tâm vượt qua
gian khổ hy sinh với nhiều thể loại từ Ca khúc, Hợp xướng, Romance, Aria,
Nhạc kịch đã khai thác các chất liệu âm nhạc đặc sắc, độc đáo trong kho tàng âm
nhạc và sức mạnh đặc biệt của ca từ Việt Nam, những đặc điểm về ngôn ngữ và
nghệ thuật phát âm, nhả chữ, trong kỹ thuật ca hát Việt Nam với phương pháp
hát tròn vành, rõ chữ đã đóng một vai trò quan trọng trong đào tạo thanh nhạc
chuyên nghiệp hiện đại.
PHẦN III: KHÁI QUÁT NHỮNG THÀNH TỰU VÀ VAI TRÒ 107
CỦA NGHỆ THUẬT CA HÁT CHUYÊN NGHIỆP - MỘT SỐ ĐỊNH
làm, bồi dưỡng nâng cao phục vụ cho định hướng trong giáo dục đào tạo của
Đảng ta là "cung cấp nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài"
Cục Biểu diễn nghệ thuật Bộ Văn hóa - Thông tin theo định kỳ cần tổ
chức các cuộc thi hát chuyên nghiệp toàn quốc, từ đó tuyển chọn các ca sĩ xuất
sắc tham gia các cuộc thi hát khu vực và quốc tế. Có kế hoạch đầu tư cho việc
nghiên cứu, sưu tầm dân ca, ứng dụng trong đào tạo. Chuẩn hóa và phát triển đội
ngũ giảng viên thanh nhạc về chuyên môn, ngoại ngữ, ứng dụng các tiến bộ KH -
KT trong công tác giảng dạy đáp ứng với tình hình phát triển của khu vực và thế
giới. Tiếp tục phát triển đào tạo thanh nhạc sau đại học, thành lập sân khấu thể
nghiệm nhạc kịch ở Nhạc viện Quốc gia Hà Nội.
Nâng cao chất lượng sáng tác các tác phẩm thanh nhạc, sử dụng các tác
phẩm có chất lượng nghệ thuật cao, nghiêm cấm và hủy bỏ các tác phẩm phản
văn hóa, các tác phẩm sao chép, đẩy mạnh các hoạt động bảo vệ bản quyền tác
giả, tác phẩm.
Chấn chỉnh các hoạt động biểu diễn, thông qua Luật Biểu diễn Nghệ thuật,
tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động biểu diễn nghệ thuật, cấp
giấy phép hành nghề, quy định cụ thể các chế độ liên quan.
Quy hoạch các đơn vị nghệ thuật ca múa nhạc, phát triển đồng thời hát
dân tộc và hát cổ điển. 109
Phát triển cân đối 3 dòng ca hát Dân tộc - Cổ điển - Nhạc nhẹ.
Xây dựng, phát triển nghệ thuật ca hát Việt Nam tiên tiến đậm đà
bản sắc dân tộc đáp ứng với những yêu cầu của tình hình mới:
a. Công tác đào tạo thanh nhạc: Hiện nay công tác đào tạo thanh nhạc tại
các Nhạc viện, các Trường âm nhạc đã được các giáo sư, giảng viên đưa vào hệ
thống, quy cũ, đã xây dựng, đổi mới nội dung, phương thức đào tạo theo hướng
hiện đại hòa nhập khu vực và quốc tế bằng cách hoàn chỉnh chương trình, giáo
viện Hà Nội (1978)
3. Trần Thu Hà. Phát hiện đào tạo, bồi dưỡng năng khiếu tài năng.
NXB Văn hóa Thông tin (1993)
4. Nguyễn Trung Kiên. Nghiên cứu nội dung tác phẩm rèn luyện khả
năng sáng tạo. Nhạc viện Hà Nội
5. Nguyễn Trung Kiên. Công tác đào tạo văn hóa nghệ thuật. Thực
chất và hướng phát triển. Tạp chí Văn hóa Văn nghệ, Số 6 (1997)
6. Nguyễn Trung Kiên. Phấn đấu vì một nền nghệ thuật hát tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc. Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Số 10 (1996)
7. Nguyễn Thụy Loan. Lược sử âm nhạc Việt Nam. Nhạc viện Hà Nội,
NXB Âm nhạc, Hà Nội (1995) 111
8. Tú Ngọc và nhóm biên soạn. Âm nhạc mới Việt Nam - tiến trình và
thành tựu - Viện Âm nhạc (2000)
9. Lô Thanh. Ca hát Việt Nam 1945 - 1975, Đại học Nghệ thuật Huế
(1998)
10. Lô Thanh. Giáo trình Đại học Thanh nhạc 5 năm. Đại học Nghệ
thuật Huế (1996)
11. Lô Thanh. Xây dựng và phát triển nghệ thuật thanh nhạc Việt Nam
(1991)
TÓM TẮT
Ca hát là loại hình nghệ thuật xuất hiện sớm nhất trong tiến trình phát
triển của đời sống nhân loại, là phương tiện bộc lộ và giãi bày tình cảm, là tiếng
nói đời sống nội tâm của con người Ca hát chuyên nghiệp mà đỉnh cao là các
dòng ca hát thuộc trường phái thanh nhạc cổ điển belcanto châu Âu đã và đang
tiếp tục ảnh hưởng và dẫn dắt toàn bộ các hoạt động đào tạo thanh nhạc chuyên
nghiệp của toàn nhân loại.
special psycho-physiological, cultural and lingual characteristics of the Vietnam.
In 1956 the Vietnam Music School was founded (now named Hanoi
National Conservatoire), which, together with HCMC Conservatoire, Hue
College of Arts, and other music training institutions in the whole country, has so 113
far trained a great number of professional singers, who have been serving
actively the task of defending and building the nation as well as the task of
building and developing successfully the national identity of the Vietnamese
culture.