Nghiên cứu khoa học " Về chính sách Giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn bản " pot - Pdf 14

Về chính sách Giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn bản

Vũ Long
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
1. Thực hiện đường lối Đổi mới trong quản lý lâm nghiệp, vấn đề xã hội hóa lâm
nghiệp đã được đẩy mạnh thông qua thực hiện chính sách giao đất giao rừng cho
hộ gia đình, cá nhân, tạo cơ sở để người dân sở tại tham gia vào quản lý rừng và
hưởng lợi từ rừng, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số có cuộc sống gắn bó với rừng
từ lâu đời. Đến 2002 Nhà nước đã giao cho hàng triệu hộ gia đình, cá nhân và tập
thể với diện tích: 2.738. 917 ha rừng , chiếm 23,30% diện tích rừng tòan quốc và 2
triệu ha đất trống đồi núi trọc, chiếm tỷ lệ 27,20% tổng diện tích đất trống đồi núi
trọc. Trên cơ sở rừng và đất lâm nghiệp được giao, dân đã tham gia tích cực vào
Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng và nhiều dự án trồng rừng, bảo vệ rừng do quốc tế
tài trợ, góp phần nhanh chóng nâng cao độ che phủ rừng toàn quốc từ % năm
1999 lên 35,8% năm 2002 ( Nguồn số liệu: công văn số 2490 QQĐ/BNN-KL của
Bộ NN&PTNT về công bố diện tích rừng và đất lâm nghiệp tòan quốc năm 2002)
Trong diện tích rừng và đât lâm nghiệp giao cho dân, diện tích được giao cho “ tập
thể” chiếm một tỷ lệ đáng kể. Theo thống kê ban đầu ở 23 tỉnh ( Cục Kiểm lâm,
2001) diện tích đất lâm nghiệp giao cho tập thể là 1.197.961 ha, chiếm 25,46%
tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp giao cho dân., trong đó tỉnh Lai Châu có
diện tích rừng giao cho tập thể là lớn nhất: 690.411 ha , chiếm 90,32% tổng diện
tích rừng và đất lâm nghiệp của tỉnh. “Tập thể” này gồm những ai? Đó là: cộng
đồng dân cư thôn bản, các tổ chức đòan thể quần chúng cơ sở ở nông thôn như:
Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội CCB, HTX nông nghiệp, Trường học….Theo
điều tra của chúng tôi ở 3 huyện tỉnh Cao Bằng (2000), tại 2 Huyện Quảng Uyên
và Nguyên Bình thì 100% là rừng thôn bản, còn ở huyên Thông Nông rừng thôn
bản chiếm tỷ lệ 91,50% diện tích rừng giao cho “ tập thể”. Và dựa vào những phân
thống kê khác có thể rút ra nhận xét:
i).Rừng của cộng đồng thôn bản chiếm vị trí thứ 2 sau rừng hộ gia đình.
ii). Rừng của cộng đồng dân cư thôn bản là loại hình phổ biến trong nông thôn,
đặc biệt là ở miền núi phía Bắc: tỷ lệ số xã có rừng cộng đồng thôn bản là 34,92%,

giao.
Sau đây chúng tôi xin nêu ra những điều kiện để cộng đồng dân cư thôn bản được
giao rừng và đất lâm nghiệp.
2.1 Những điều kiện để cộng đồng dân cư thôn bản được giao đất giao rừng:
a) Điều kiện khách quan
i) Trên địa vực thôn bản có rừng và đất lâm nghiệp chưa giao cho các chủ sử dụng
là hộ gia đình, cá nhân. (Nhà nước đang rà sóat lại diện tích rừng và đất lâm
nghiệp đã giao cho các tổ chức lâm nghiệp nhà nước để thu hồi lại một phần diện
tích sử dụng không hiệu qủa để giao lại cho dân)
ii) Hiện có một số diện tích rừng và đất lâm nghiệp cộng đồng dân cư thôn bản tự
xác lập quyền quản lý cộng đồng của riêng từng thôn bản hay liên thôn, bản;
không có sự tranh chấp với các hộ gia đình trong thành viên cộng đồng hoặc với
cộng đồng láng giềng nhưng chưa được cơ quan có thẩm quyền chính thức giao
đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất và rừng.
iii) Rừng và đất lâm nghiệp đã được giao cho hộ gia đình theo chính sách đất đai,
nhưng nay các hộ gia đình không có điều kiện bảo vệ có hiệu quả, tự nguyện
nhường lại cho cộng đồng thôn bản quản lý, sử dụng ( bằng văn bản của từng hộ
gia đình hoặc biên bản hội nghi các thành viên cộng đồng, có xác nhận của UBND
xã, không cần phải làm thủ tục thu hồi và giao đất).
b) Điều kiện chủ quan của cộng đồng dân cư thôn, bản
i) Cộng đồng các dân tộc thiểu số, có tập quán quản lý đất đai, tài nguyên theo
cộng đồng; có tập tục sinh họat văn hóa, tín ngưỡng cộng đồng có liên quan đến
rừng
ii) Phần lớn các thành viên cộng đồng có nguyện vọng được khôi phục hay xác lập
mới các khu rừng cộng đồng thôn, bản theo tập quán để đáp ứng nhu cầu tín
ngưỡng, phòng hộ cho đời sống và sản xuất và nhu cầu lâm sản cho cộng đồng;
iii)Có trưởng thôn, bản được dân bầu và được Chủ tịch UBND xã công nhận; có
già làng được nhân dân tính nhiệm (đối với những dân tộc có tập quán).
2.2 Đối tượng rừng và đất lâm nghiệp ưu tiên giao cho cộng đồng dân cư thôn,
bản

kinh doanh và quản lý rừng. Song, chúng tôi thấy đối lập rừng cộng đồng và rừng
hộ gia đình là không đúng với thực tiễn Việt Nam. Hộ gia đình có vai trò rất quan
trọng trong kinh tế nông nghiệp và nông thôn, cần phải được tăng cường và củng
cố, trước hết bằng việc giao đất nông lâm nghiệp đủ cho hộ sản xuất. Con đường
đi lên của kinh tế hộ là HTX sản xuất kể cả nông và lâm nghiệp. Rừng cộng đồng
của dân cư thôn bản có chức năng riêng, phù hợp với tính chất của tổ chức xã hôi
của cộng đồng dân cư. Biến tổ chức cộng đồng dân cư thôn bản thành một tổ chức
kinh tế ( riêng về lâm nghiệp) là không thích hợp với các thể chế kinh tế hiện nay
nhất là với quyền rất hạn chế của cộng đồng dân cư thôn bản đối với rừng và đất
được giao.
3.2 Thách thức
- Sự cạnh tranh về hiệu quả quản lý, sử dụng rừng giữa rừng cộng đồng thôn bản
với rừng hộ gia đình ngay trong chính cộng đồng.
Ngoại trừ rừng thiêng, rừng nguồn nước được bảo vệ nghiêm ngặt để phục vụ lợi
ích phi hàng hóa cho toàn cộng đồng sẽ không có sự cạnh tranh, còn các khu rừng
khác của cộng đồng sẽ bị canh tranh về hiệu quả sử dụng rừng với hộ gia đình vì
mục đích kinh tế.
Quản lý rừng cộng đồng tỏ rõ ưu thế về mặt bảo vệ rừng so với hộ gia đình vì sử
dụng sức mạnh toàn cộng đồng và luật tục truyền thống; nhưng lại thiếu và khó
huy động nguồn lực để phát triển diện tích và nâng cao chất lượng rừng cộng
đồng. Nếu hiệu quả sử dụng rừng cộng đồng thấp sẽ kém sức hút các thành viên
cộng đồng tham gia quản lý. Cộng đồng không có quyền thế chấp để vay vốn để
bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng như hộ gia đình, vì vậy chỉ trông chờ vào
nguồn nội lực rất hạn chế và sự hỗ trợ của Nhà nước và quốc tế. Dường như kinh
tế không phải là động lực chính cho phát triển rừng cộng đồng.
- Nếu không được quản tốt, minh bạch rừng cộng đồng sẽ không phục vụ tôt lợi
ích chung tòan cộng đồng, mà trở thành công cụ phục vụ lợi ích của một nhóm
người nắm quyền lực trong thôn bản, như vậy sẽ làm suy yếu sự tham gia của
người dân vào quản lý rừng, làm suy yếu, biến chất LNCĐ. Nâng cao năng lực
quản lý của lãnh đạo cộng đồng ở thôn bản và sự giám sát của Kiểm lâm xã có vị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status