Thị trường lâm sản rừng trồng sản xuất ở các tỉnh miền núi phía Bắc và các chính
sách để phát triển
Võ Đại Hải
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Vùng miền núi phía Bắc bao gồm 14 tỉnh, phân bố ở 3 vùng sinh thái nông nghiệp
là Tây Bắc, Đông Bắc và Trung tâm Bắc Bộ. Đây là vùng có vị trí chiến lược hết
sức quan trọng về an ninh quốc phòng và tiềm năng phát triển kinh tế – xã hội của
đất nước cũng như về phòng hộ môi trường nhưng đồng thời đây cũng là vùng
chậm phát triển với cơ sở hạ tầng thấp kém, điều kiện tự nhiên phức tạp, địa hình
đồi núi cao và rất dốc, đặc biệt là vùng Tây Bắc. Bên cạnh đó, yếu tố kinh tế - xã
hội và nhân văn cũng là những trở ngại cho phát triển kinh tế ở vùng này.
Nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế vùng miền núi phía Bắc, trong những
năm qua Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách, đầu tư thực hiện nhiều chương
trình, dự án, áp dụng đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó phát triển lâm nghiệp đã
được quan tâm chú trọng hơn như đầu tư thực hiện Chương trình 327 và hiện nay
là Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng. Nhờ đó mà độ che phủ của rừng đã nâng lên
được 35% năm 2002. Tuy nhiên, sự quan tâm của chúng ta trong thời gian qua tập
trung nhiều vào 2 đối tượng là rừng phòng hộ và đặc dụng, rừng trồng sản xuất
chưa được chú ý nhiều và hiện nay đang đặt ra rất nhiều vấn đề cần phải có lời giải
đáp, trong đó có vấn đề thị trường. Trong thời gian qua chúng ta đã quy hoạch và
xây dựng nhiều nhà máy giấy, ván nhân tạo,… song nhiều nơi đã xảy ra tình trạng
thiếu nguyên liệu, một số nơi khác lại xảy ra hiện tượng thừa nguyên liệu,… và tất
cả những vấn đề này ảnh hưởng trực tiếp tới người trồng rừng.
Để giải quyết một phần những vướng mắc nêu trên, trong chương trình nghiên cứu
KHCN phục vụ phát triển nông nghiệp miền núi phía Bắc giai đoạn 2002-2005,
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã giao cho Viện Khoa học Lâm nghiệp
Việt Nam thực hiện đề tài “Nghiên cứu phát triển trồng rừng sản xuất có hiệu quả
kinh tế và bền vững vùng miền núi phía Bắc”. Bài viết đưa ra một số kết quả bước
đầu của đề tài được rút ra từ các cuộc điều tra thị trường lâm sản rừng trồng sản
xuất ở các tỉnh miền núi phía Bắc.
1/ Một số đặc điểm chung về trồng rừng sản xuất ở các tỉnh miền núi phía
+ Vỏ và lá quế.
+ Tinh dầu hồi,…
3.1. Mức độ phát triển trồng rừng sản xuất ở các tỉnh miền núi phía Bắc
Hiện nay, mức độ phát triển trồng rừng sản xuất ở các tỉnh không đều nhau và có
thể chia thành 3 nhóm tỉnh theo mức độ phát triển như sau:
- Nhóm 1: Bao gồm các tỉnh đã phát triển rừng trồng sản xuất mạnh như Phú Thọ,
Tuyên Quang, Yên Bái, Thái Nguyên, Quảng Ninh,… Đây là các tỉnh đã có hoặc
gần các nhà máy giấy, ván dăm, gần các khu công nghiệp lớn (than),…, rừng trồng
đã được quy hoạch thành vùng tập trung, các loài cây trồng đã được khẳng định,
mô hình rừng trồng đã được xây dựng thành công, các chính sách khuyến khích
trồng rừng cũng đã định hình. Nhóm các tỉnh này có đặc điểm là ngoài các khu
rừng trồng của công ty, của lâm trường,… rừng trồng của tư nhân cũng khá phát
triển, đặc biệt đã hình thành nhiều trang trại lâm nghiệp với quy mô từ vài chục
đến vài trăm ha rừng như trang trại của ông Đỗ Thập ở Yên Bái.
- Nhóm 2: Bao gồm các tỉnh đang trong quá trình hình thành các khu nguyên liệu
cho việc xây dựng các nhà máy giấy, ván dăm, rừng trồng tập trung quy mô lớn
chỉ mới được xây dựng 3-5 năm gần đây, các mô hình rừng, loài cây trồng và các
chính sách đầu tư, khuyến khích trồng rừng, thị trường,… đang trong quá trình thử
nghiệm và xây dựng. Các tỉnh nằm ở nhóm này gồm Hoà Bình, Lạng Sơn, Bắc
Cạn,…
- Nhóm 3: Bao gồm các tỉnh kém phát triển rừng trồng sản xuất như Cao Bằng,
Sơn La, Lào Cai,…
2. Thị trường lâm sản rừng trồng sản xuất ở các tỉnh miền núi phía Bắc:
Thị trường gỗrừng trồng các tỉnh miền núi phía Bắc có thể chia ra thành 5 loại sau
đây:
- Thị trường gỗ nguyên liệu sản xuất giấy và bột giấy.
- Thị trường gỗ trụ mỏ.
- Thị trường gỗ sản xuất ván nhân tạo.
- Thị trường gỗ nguyên liệu xây dựng cơ bản dân dụng.
- Thị trường chế biến hàng mộc dân dụng và xuất khẩu.
Mỡ, Sa mộc,
Keo tai tượng)
Lâm trường Xây dựng cơ
bản
Nội tỉnh Theo k
ế hoạch có
hợp đồng
Lâm trường,
công ty hoặc xí
nghiệp chế biến
- Xây dựng cơ
bản
- Đồ mộc
Ngoại tỉnh Qua công ty, xí
nghiệp trung gian2. Nhóm ngoài
gỗ
2.1. Quế Tư nhân Vỏ Trung Quốc Theo tiểu ngạch
2.2. Trúc Công ty địa
phương + công
ty nước ngoài
-Mành, chiếu
-Bàn ghế
-Đũa
Nội địa, Đài
trường
2.7. Tre, Luồng
Lâm trường, tư Thân cây, dăm, Nội địa Theo hợp đồng,
nhân chiếu cơ chế thị trường
Từ bảng trên ta có thể thấy thị trường lâm sản rừng trồng sản xuất vận động theo 3
hình thức gắn với dạng sản phẩm và nguyên liệu:
i) Nguyên liệu thô (gỗ nhỏ và một số sản phẩm ngoài gỗ như quế, hồi, nhựa
thông): Do lâm trường và tư nhân tiêu thụ nội địa và xuất khẩu tiểu ngạch qua
Trung Quốc.
ii) Nguyên liệu sơ chế gỗ xây dựng cơ bản do lâm trường tiêu thụ nội tỉnh hoặc
các tư thương đưa ra tiêu thụ ngoại tỉnh.
iii) Nguyên liệu tinh chế (đồ mộc, trúc, chè đắng): Do công ty, xí nghiệp trực tiếp
hoặc qua trung gian để tiêu thụ hoặc xuất khẩu.
Một số sản phẩm từ cây Trúc sào
2.2. Một số đặc điểm chung về thị trường lâm sản rừng trồng sản xuất ở các
tỉnh miền núi phía Bắc:
- Thị trường lâm sản rừng trồng sản xuất ở các tỉnh miền núi phía Bắc phát triển
không đồng đều giữa các vùng. Yếu tố chủ yếu chi phối thị trường lâm sản là các
nhà máy, xí nghiệp chế biến lâm sản và các khu công nghiệp lớn như các nhà máy
giấy, ván nhân tạo, công nghiệp than,… Các nhà máy khi xây dựng đều có vùng
nguyên liệu riêng và như vậy các dạng sản phẩm ở từng khu vực cũng đã được
định hình. Tuy nhiên, cho tới nay chỉ có thị trường nguyên liệu giấy, ván nhân tạo
(vùng Trung tâm Bắc Bộ) và trụ mỏ (vùng Đông Bắc) là được định hình rõ nét và
tập trung , còn lại thị trường gỗ xây dựng, đồ mộc gia dụng,… không tập trung và
thường được các tư thương, các cơ sở chế biến nhỏ thực hiện.
- Thị trường lâm sản rừng trồng phụ thuộc rất nhiều vào khả năng chế biến lâm
sản của các địa phương, điều này đặc biệt quan trọng đối với các vùng xa khu vực
nhà máy chế biến lâm sản quy mô lớn. Trước đây thị trường gỗ rừng trồng ở nhiều
chiến lược sản phẩm rõ ràng cho trồng rừng sản xuất ở các tỉnh và cụ thể hoá đến
từng điều kiện trồng rừng trong thực tế. Có thể tập trung vào 3 nhóm chính: i)
Rừng cung cấp gỗ lớn; ii) Rừng cung cấp gỗ nhỏ (nguyên liệu) và iii) Rừng cung
cấp các sản phẩm ngoài gỗ.
- Giảm lãi suất vốn vay ưu đãi từ 5,4%/năm xuống 3%/năm đối với các tỉnh vùng
sâu, vùng xa – nơi có điều kiện sản xuất và tiêu thụ khó khăn, dân trí thấp.
- Hiện tại vấn đề thị trường gỗ và lâm sản ở các tỉnh đang quy hoạch xây dựng các
nhà máy chế biến vẫn mang tính tự phát và tự điều chỉnh, thiếu ổn định cần có sự
can thiệp của Nhà nước bằng chính sách để người trồng rừng an tâm sản xuất.
- Chính sách tự chủ sản xuất kinh doanh và hưởng lợi từ sản phẩm rừng trồng cần
thực sự thông thoáng; khuyến khích phát triển kinh tế trang trại lâm nghiệp. Kinh
nghiệm ở một số nơi đã phát triển rừng trồng sản xuất mạnh như Phú Thọ, Tuyên
Quang, Yên Bái,… cho thấy các trang trại lâm nghiệp thực sự có vai trò không
nhỏ cho sự phát triển trồng rừng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
- Khai thác, lưu thông, vận chuyển lâm sản: Đã khuyến khích tự do, tuy nhiên tiêu
cực phí còn nhiều qua tất cả các khâu từ khai thác đến vận chuyển trên đường đến
các nhà máy/cơ sở chế biến. Do vậy, cần phải đơn giản hoá các thủ tục lưu thông.
- Thuế sản phẩm: Đồng đều như các nông sản hoặc sản phẩm khác chỉ qua thu
mua rồi chế biến là cao đối với lâm sản của các công ty xí nghiệp phải qua tự sản
xuất nguyên liệu từ đầu đến cuối. Đề nghị miễn giảm thuế VAT cho các sản phẩm
gỗ rừng trồng do chủ rừng trồng và tự chế biến.
- Khuyến khích nhiều thành phần kinh tế tham gia vào thị trường, tạo môi trường
cạnh tranh lành mạnh, tránh tình trạng độc quyền mua bán trên thị trường.
- Khuyến khích người trồng rừng trực tiếp bán lâm sản cho các xí nghiệp chế biến
lâm sản không qua các tổ chức trung gian. Để thực hiện được điều này các trang
trại, công ty lâm nghiệp,… nên hợp đồng hoặc ký kết liên doanh với các hộ gia
đình để bao tiêu sản phẩm.
- Hình thành các tổ chức kinh tế hợp tác giữa người sản xuất, người thu mua và
lưu thông lâm sản.
- Làm tốt công tác xúc tiến thương mại, tìm kiếm và mở rộng thị trường tiêu thụ