Bệnh khô lá thông và một số giải pháp
hạn chế ảnh hưởng của bệnh
TS. Phạm Quang Thu
Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam
1. Mở đầu
Theo số liệu kiểm kê rừng Việt Nam năm 2001 tính đến hết tháng 12 năm 1999
thì cả nước ta có 1.471.394 ha rừng trồng, trong đó diện tích rừng trồng các loài
thông chiếm 218.056 ha (chủ yếu là thông nhựa, thông mã vĩ, thông ba lá và thông
caribê), đứng thứ 3 sau bạch đàn và keo. Cây thông là một trong những loài cây có
giá trị kinh tế cao, gỗ cho xây dựng, làm giấy, nhựa thông còn được dùng trong
nhiều ngành công nghiệp để sản xuất sơn, vecni, vật liệu cách điện và các mặt
hàng tiêu dùng khác. Cây thông có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt trên đất
trống đồi núi trọc, đất thoái hoá cằn cỗi mà ngoài cây thông không thể trồng loài
cây nào khác được. Chính vì vậy cây thông là một trong những loài cây trồng rừng
chính trong chương trình 5 triệu ha rừng của nước ta. Tuy nhiên việc gây trồng và
phát triển cây thông cũng gặp nhiều trở ngại, một trong số đó là vấn đề nguy cơ về
sâu và bệnh hại thông. Sâu, bệnh hại thông không chỉ xảy ra ở rừng trồng mà còn
xuất hiện tại cả vườn ươm. Riêng về sâu hại, qua điều tra đã ghi nhận được 45 loài
bao gồm các loài sâu ăn lá, sâu đục thân, sâu đục nõn… một số loài đã gây thành
dịch ở một số địa phương như ong ăn lá thông, sâu đục nõn thông, nhưng đáng chú
ý nhất là sâu róm thông Dendrolimus punctatus Walker vì mức độ và quy mô phá
hại của chúng. Về bệnh hại các loài thông trong thời gian qua cũng đã được quan
tâm và chú ý của các nhà quản lý, sản xuất và được các nhà khoa học nghiên cứu
tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh và đưa ra các giải pháp nhằm quản lý dịch bệnh có
hiệu quả. Một số bệnh điển hình ảnh hưởng đến việc sản xuất cây con ở vườn ươm
và sinh trưởng của rừng trồng đã được điều tra và nghiên cứu là: bệnh thối cổ rễ
cây con ở vườn ươm, bệnh rơm lá thông, bệnh vàng còi, bệnh tuyến trùng hại
thông ba lá và bệnh khô xám lá thông. Trong thời gian gần đây một số rừng trồng
thông của nước ta, đặc biệt là thông nhựa và thông mã vĩ ở một số vùng như
Chương Mỹ - Hà Tây, Lương Sơn — Hoà Bình, Hà Trung - Thanh Hoá và Đô
Lương — Nghệ An đã xuất hiện triệu chứng lá thông bị khô có mầu nâu hơi đỏ.
- Tên loài: Sphaeropsis sapinea (Fr.) Dyko & Sutton
- Tên chi: Sphaeropsis Saccardo
- Họ nấm vỏ bào tử Sphaerioidaceae
- Bộ nấm vỏ bào tử Sphaeropsidaceae
- Lớp nấm xoang: Coelomycetes
- Ngành phụ nấm bất toàn: Deuteromycotina
Loài nấm Sphaeropsis sapinea (Fr.) Dyko & Sutton có một số tên đồng nghĩa sau:
- Diplodia pinea (Desm) Kickx, Petrak & Sydow,
- Macrophoma pinea (Desm) Petrak & Sydow và
- Macrophoma sapinea (Fr.) Petrak.
4. Đặc điểm của nấm bệnh
Nấm Sphaeropsis sapinea là loài nấm ký sinh kiêm hoại sinh có nghĩa rằng
chúng tồn tại trong mô sống và gây bệnh cho cây chủ nhưng chúng cũng vẫn tồn
tại trên các mô đã chết của cây chủ hoặc các lá bị bệnh khô và rơi xuống đất. Nấm
chỉ xâm nhập vào thân cây gây bệnh loét thân, rễ cây gây bệnh thối rễ hay chồi
non của cây gây bệnh chết ngọn thông qua các vết thương. Bào tử nấm nảy mần và
thực hiện quá trình xâm nhiễm trong điều kiện thời tiết ấm và ẩm. Nấm
Sphaeropsis sapinea gây bệnh chủ yếu cho nhiều loài thông như: thông nhựa,
thông mã vĩ, thông caribê, ở các nước khác các loài thông thường bị bệnh là: Pinus
patula, P. pinaster, P. radiata, P. elliottii, và P. taeda. Loài nấm này gây ra nhiều
loại triệu chứng khác nhau như: khô lá, chết ngọn, loét thân cành và thối rễ. Là
loài nấm phân bố rộng, được xếp vào loại nấm bệnh nguy hiểm nhất đối với các
loài thông ở Nam Phi
Bệnh thường xuất hiện ở các rừng trồng với mật độ cao, tán lá dày, ít có ánh
sáng ở tầng dưới và điều kiện thông thoáng kém. Theo Dr. T.A. Cutinho, bệnh
xuất hiện khi rừng trồng thông trải qua một thời gian hạn hán kéo dài hoặc sau sự
phá huỷ của các trận mưa đá.
4. Một số giải pháp hạn chế dịch bệnh