Hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng Sở
Camellia sp.
Lời nói đầu
Sở là cây nguyên sản của vùng á nhiệt đới châu á. Nhiều tỉnh ở nước ta như Quảng
Ninh, Lạng Sơn, Phú Thọ Nghệ An, Quảng Trị, v.vv đã có kinh nghiệm trồng Sở
từ lâu đời để lấy hạt ép dầu. Với yêu cầu sử dụng trong nước và xuất khẩu, cây Sở
là một trong những cây có dầu cần được phát triển mạnh ở nước ta.
Trước đây đã có một số nghiên cứu liên quan đến kỹ thuật gây trồng, bước đầu
chọn giống cây Sở và nhân giống Sở bằng hom cành, song các kết quả thu được
còn chưa đồng bộ. Trước những yêu cầu của thực tiễn trồng Sở ở nước tatrong giai
đoạn tới phục vụ cho chương trình trồng 5 triệu ha rừng và trồng rừng phòng hộ,
bản hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng Sở (Camellia sp.) tập hợp các kết quả đã có rải
rác ở một số địa phương nhằm giúp các cơ sở sản xuất nắm được các kỹ thuật cơ
bản của công tác trồng rừng Sở.
Chương I
Điều khoản chung
1. Bản hướng dẫn kỹ thuật này quy định những yêu cầu và nội dung kỹ thuật
trồng rừng Sở từ khâu thu hái giống, gieo ươm, tạo cây con bằng hạt và cây
hom, trồng và chăm sóc, nhằm từng bước nâng cao năng suất quả và sản
lượng dầu của rừng trồng.
2. Bản hướng dẫn kỹ thuật này được áp dụng cho các cơ sở trồng rừng Sở kể
cả các doạnh nghiệp Nhà nước, tập thể và tư nhân, cho mục tiêu trồng rừng
phòng hộ trong chương trình 327 (nay là chương trình 5 triệu ha) kết hợp
sản xuất.
3. Khi áp dụng các kỹ thuật chọn giống có năng suất cao và nhân giống hom,
cần chú ý các yêu cầu sau đây:
Cán bộ kỹ thuật, công nhân làm công tác giâm hom cây Sở theo
hướng dẫn kỹ thuật này phải là người đã có kinh nghiệm hoặc đã
được theo học lớp tập huấn kỹ thuật giâm hom cây Sở.
Cần phải có nhà giâm hom thoáng khí, đủ ánh sáng, có hệ thống
phun mù hoặc bình phun thuốc trừ sâu thay cho hệ thồng phun mù.
Nhiệt độ tối đa thấp: 1
0
C.
Độ ẩm bìn quân: 74-85%.
Lượng mưa bình quân năm: 1500-2000mm.
Chương III
Chọn cây mẹ, thu hạt, gieo ươm tạo cây con
6. Chọn cây mẹ lấy giống
Cây mẹ lấy giống (hạt và hom cành) phải ở độ tuổi từ 15 tuổi trở lên khi cây đã
cho sản lượng quả ổn định. Cây khoẻ mạnh, tán lá phát triển cân đối, không bị sâu
bệnh, sai quả, sản lượng dầu ép từ hạt cao và ổn định trong nhiều năm. Khi có điều
kiện tính tổng trọng lượng quả và hạt và phân tích hàm lượng dầu, cây mẹ được
chọn lấyn giống phải đạt sản lượng tối thiểu là 0,5kg dầu.
Khi chọn cây trội để lấy giống và rừng giống, cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy
định đã được ban hành trong Quy phạm kỹ thuật xây dựng rừng giống và vườn
giống (QPN 15-93) và Quy phạm kỹ thuật xây dựng rừng giống chuyển hoá (QPN
16-93).
Giống vùng nào nên ưu tiên thu hái và gây trồng tại vùng đó. Cần khảo nghiệm
giống mới trước khi đưa vào trồng đại trà.
7. Thu hái hạt giống
Quả gần chín vào tháng 10-11 nên cần thu hái vào dịp sương giá khi hạt chín rộ,
bóc vỏ quả thấy vỏ hạt có màu đen. Đem ủ quả vào chỗ râm mát cho hạt tách khỏi
quả. Tránh phơi quả và hạt trức tiếp dưới ánh nắng mặt tròi vì hạt chứa dầu làm
mất sức nảy mầm.
Hạt có thể được gieo ngaysau khia thu hái. Trước khi gieo cần chọn các hạt chắc,
mẩy và ngâm vào nước lạnh, vớt những hạt chìm dưới nước để đen gieo. Mỗi kg
hạt trung bình có 500 hạt và thông thường số hạt biến động từ 330 hạt đến 1000
hạt/kg.
Trong trường hợp chưa có điều kiện gieo ngay sau khi thu hái, hạt Sở cũng có thể
được trộn với tỷ lệ cát ẩm (tỷ lệ 1:1) để bảo quản tạm thời sang tháng 1 năm sau
10. Xử lý thuốc
* Pha thuốc
Các chất kích thích ra rễ phải được hoà tan vào trong cồn (10mg thuốc cần 5-10
giọt cồn 96
0
) hoặc bằng rượu trắng 40
0
(10mg thuốc cần 20-25 giọt rượu). Sau khi
thuốc tan, đo một lượng nước cần thiết đổ vào cốc thuỷ tinh có chứa thuốc hoà tan,
khuấy đều để có đúng nồng độ cần thiết.
Đối với ANA, 150mg thuốc được pha trong 1 lít nước cất, thời gian xử lý hom 4
giờ vào các tháng 5-6, hoặc 150mg pha trong 1 lít nước, xử lý 4-8 giờ vào các
tháng 7-8.
Đối với AIA, 50mg thuốc pha trong 1 lít nước, thời gian xử lý 4 giờ.
Không nên sử dụng 2,4-D để xử lý ra rễ cho hom cành.
* Xử lý hom
Dung dịch thuốc đã pha đúng nồng độ được đựng vào các cốc thuỷ tinh hoặc chậu
sành. Phần gốc của hom được cắm sâu 1-1,5cm vào dung dịch thuốc đã pha sẵn.
Hom cành đwocj ngâm trong thuốc ở nơi râm mát theo đúng thời gian quy định.
11. Giâm hom
Sau thời gian ngâm xử lý, hom được cắm vào giá thể cát hoặc túi bầu đất. Hom
cắm ngập vào giá thể từ 1/4 đến 1/3 chiều dài. Giá thể có thể là cát mịn trải thành
luống giâm hom hoặc đất đỏ tầng B, đất rừng tơi xốp thoát nước tốt, đất phù sa v.v.
được đóng vào túi bầu PE. Các túi bầu được xếp thành hàng trong nhà giâm hom,
hàng cách hàng 5-6cm.
Cần phun mù nhiều lần trong ngày với thời gian ngắn. Ngày nắng thường 30-60
phút phun một lần. Không để cho hom và giá thể bị khô hoặc bị úng nước, hom bị
thối. Nước tưới phải là nước giếng trong và sạch. Bảo đảm đủ ánh sáng và thoáng
khí cho nhà giâm hom.
Nếu giâm vào mùa hè, sau 2 tháng hom đã ra rễ và có thể cấy vào bầu mới hoặc để
sinh cho mỗi hố.
- Mật độ trồng: 1100 cây (hoặc hố gieo)/ha (cự ly 3x3m).
14. Trồng bằng phương pháp gieo hạt thẳng
- Mỗi hố gieo từ 2 đến 3 hạt, đặt hạt vào giữa hố, hạt nọ cách hạt kia từ 3-5cm, sau
đó lấp một đất mịn phủ lên hạt với chiều dày 2-3cm.
- Sau một tháng phải kiểm tra hạt nảy mầm và dặm thêm nếu cần thiết.
- Sau 2-3 năm, cần tiến hành tỉa bỏ các cây xấu, cây sinh trưởng kém.
15. Trồng bằng cây con và cây hom
- Tiêu chuẩn cây con: cao 30-40cm, không cong queo sâu bệnh, không cụt ngọn.
- Tiêu chuẩn cây hom: đã ra rễ và qua giai đoạn luyện hom ở vườn ươm.
- Cây được trồng vào những ngày trời mưa phùn (mùa xuân) hoặc đủ mưa (mùa
hè) ở các tỉnh phía Bắc hoặc mùa thu ở các tỉnh phía Bắc Trung bộ.
16. Chăm sóc bảo vệ
Thực hiện chăm sóc trong 4 năm đầu như sau:
- Năm thứ nhất: Cần tra dặm hạt (nếu là gieo hạt thẳng) hoặc cây con cho các hố
đã trồng. Tiền hành làm cỏ, vun gốc rộng 0,5m.
- Năm thứ 2,3 và 4: dọn thực bì, vun gốc cho cây, đường kính vun 0,5-0,6m cho
năm thứ và 3, và 1m cho năm thứ 4.
- Bón thúc 3-5kg phân chuồng hoặc 100-200g NPK vào trước mùa mưa năm thứ 3
cho mỗi hố trồng.
Bón thúc định kỳ, tỉa cành, tạo tán tròn đều cho cây trong những năm tiếp theo.
Bảo vệ chống trâu bò phá hoại, đặc biệt là trong những năm đầu khi cây còn nhỏ
và sinh trưởng chậm. Chú ý phòng chống cháy rừng và sâu bệnh hại.
Chương VI
Điều khoản thi hành
17. Hướng dẫn kỹ thuật này áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước, các tổ chức
tập thể và tư nhân trồng rừng Sở thuộc các tỉnh phía Bắc từ Quảng Trị trở ra, cho
các vùng có điều kiện tự nhiên tương tự như yêu cầu đẫ nêu trong bản hướng dẫn
kỹ thuật.