Kết quả thực hiện đề tài “xây dựng mô hình trồng rừng Trám trắng (Canarium
album Raeusch)”
Phạm Đình Tam, Trần Đức Mạnh,
Hoàng Nguyễn Việt Hoa
Trung tâmứng dụng KHKT Lâm nghiệp
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Trám trắng (Canarium album Raeusch) là cây gỗ lớn bản địa, có chiều cao từ 20-
30m, đường kính ngang ngực đạt 50-70cm, thân tròn thẳng, tán rộng và lá xanh
quanh năm. Trám trắng là cây đa mục đích được nhân dân ta ưa chuộng.
Gỗ trám trắng mềm, nhẹ, thớ mịn, dễ bóc thường được dùng làm nguyên liệu gỗ
dán, đóng đồ thông thường, dùng trong xây dựng nhà cửa. Trong bảng phân loại
gỗ theo mục đích sử dụng (Nguyễn Đình Hưng 1999) thì trám trắng thuộc nhóm 1
dùng cho gỗ dán
Nhựa trám dùng trong công nghệ chế biến xà phòng, nước hoa, sơn tổng hợp, làm
chất cách điện và xi đánh giày. Trong 100 kg nhựa trám trắng có thể chiết được
18-20kg tinh dầu, 57-60kg côlôphan. Theo kinh nghiệm của một số hộ dân ở
Hoành Bồ, Quảng Ninh cây trám có đường kính 30cm đã bắt đầu khai thác liên tục
8-9 tháng, mỗi tháng cho bình quân từ 4-5kg nhựa/cây.
Quả trám có thể dùng để chế biến ô mai, làm thực phẩm, làm thuốc chữa ho, giải
rượu và giải độc. Quả trám trắng hiện nay được tiêu thụ nhiều trong nước và là
mặt hàng xuất khẩu sang Trung Quốc có giá trị. Theo điều tra sơ bộ của nhóm đề
tài thì một số hộ dân ở vùng Hoà Bình, Hà Tây và các tỉnh vùng núi phía Bắc đã
có ý thức bảo vệ những cây trám tự nhiên còn sót lại trong rừng, trong các vườn
hộ và coi đó là nguồn thu hàng năm rất có hiệu quả. Mỗi cây trám có đường kính
ngang ngực từ 30cm trở lên có thể thu 100kg – 300kg quả/ mùa và với giá tại chỗ
từ 3.000đ-4.000đ/kg thì mỗi cây cũng có thể cho từ 300.000đ đến 1 triệu đồng/
năm.
Trám trắng là cây bản địa đa mục đích được nhiều địa phương quan tâm, là một
trong những cây trồng chính trong nhiều chương trình và dự án trồng rừng khác
nhau ở các tỉnh trung du miền núi phía Bắc và miền Trung. Tuy nhiên, trong thực
tế các mô hình trồng rừng tập trung chưa mấy thành công do nhiều nguyên nhân
hình trồng rừng lấy quả đề tài đã tập trung nghiên cứu 2 nội dung chính: Điều tra
tuyển chọn cây mẹ và nghiên cứu phương pháp ghép. Kết quả thực hiện được tóm
tắt như sau:
· Tuyển chọn cây mẹ:
- Qua điều tra phân bố cây trám trắng, tình hình sinh trưởng và sản lượng quả hàng
năm của một số cây trám mọc rải rác trong rừng tự nhiên, trong vườn hộ tại các
tỉnh miền núi phía Bắc, đề tài đã lựa chọn được 50 cây mẹ có đường kính ngang
ngực từ 50cm trở lên và đã có nhiều năm sai quả, bình quân quả đạt 100kg/vụ/cây.
Những cây mẹ này đều được lập lý lịch theo dõi và có chủ quản lý, phân bố ở các
địa phương Tân Lạc (Hoà Bình), Ba Vì (Hà Tây), Cúc Phương (Ninh Bình). Đây
được xác định là cây đầu dòng để cung cấp cành ghép sau này.
- Trên cơ sở những cây mẹ đã được tuyển chọn, đề tài đã tiến hành lấy các cành
ghép để tạo cây ghép phục vụ cho nhu cầu xây dựng mô hình, đồng thời cũng đã
kết hợp tạo vườn giống để lấy hom tại trạm Tân Lạc-Hoà Bình. Hiện nay vườn
giống đã có 6 xuất xứ khác nhau: Hoà Bình, Hà Tây, Ninh Bình, Bắc Ninh, Phú
Thọ và giống nhập của Trung Quốc.
· Nghiên cứu về phương pháp ghép:
Đề tài đã tiến hành thí nghiệm hai phương pháp ghép: ghép nêm và ghép áp với
các thời điểm khác nhau. Kết quả qua nhiều lần thí nghiệm đã rút ra được nhận xét
như sau:
- Tỷ lệ cây ghép thành công đạt từ 50-70%.
- Phương pháp ghép nêm và ghép áp đều có tỷ lệ sống xấp xỉ nhau, nhưng mỗi
phương pháp đều có những ưu nhược điểm nhất định. Ghép nêm dễ thi công, vật
liệu ghép dễ chọn, nhưng tỷ lệ sống thấp hơn, cây yếu, nếu gặp gió thường hay bị
gãy; ghép áp khó thi công, đòi hỏi tay nghề cao, vật liệu ghép khó chọn, nhưng tỷ
lệ sống thường cao hơn, cây khoẻ mạnh.
- Về thời vụ ghép bước đầu cho thấy ghép vào mùa xuân có nhiều thuận lợi hơn:
tỷ lệ sống cao, cành ghép dễ chọn và cây trồng sinh trưởng nhanh.
2.2. Xây dựng mô hình trồng rừng trám trắng
2.2.1. Xây dựng mô hình trồng rừng với mục đích lấy gỗ là chính
chỉ tiêu đo đếm gồm: chiều cao vút ngọn, chiều cao dưới cành; đường kính gốc;
đường kính tán và chất lượng cây trồng. Kết quả tính toán được ghi trong biểu 1
dưới đây:
Biểu 1: Sinh trưởng Trám trắng trong các công thức thí nghiệm
(Rừng trồng 4 tuổi tại Hoà Bình)
Trám + Keo Trám + cốt khí
Trám trong
rạch
Đối chứng C.thức
C.tiêu
Lần đo
D
00
(cm)
Hvn
(cm)
D
00
(cm)
Hvn
(cm)
D
00
(cm)
Hvn
(cm)
· Tăng trưởng đường kính và chiều cao của trám trắng:
Đề tài cũng đã tính toán, phân tích lượng tăng trưởng đường kính và chiều cao
hàng năm của trám trắng trong các công thức thí nghiệm, số liệu được tổng hợp
trong biểu 2 dưới đây:
Biểu 2: Tăng trưởng của Trám trắng trong các công thức thí nghiệm
Trám + Keo Trám + cốt khí
Trám trong
rạch
Đối chứng Công thức
C.tiêu
Tuổi
ZDoo
(cm)
ZH
(m)
ZDo
(cm)
ZH
(m)
ZDo
(cm)
ZH
(m)
ZDo
(cm)
ZH
(m)
Năm thứ nhất
Chỉ tiêu
Trồng trên đất
RTN
(tầng đất sâu)
Đất nương rẫy cũ
(tầng đất TB)
Đấttrống có cây bụi
rải rác
(tầng đất nông)
Hvn(m) 2,26 1,85 1,20
Doo(cm) 3,25 2,95 1,70
Qua bảng số liệu trên đây cho thấy: trám trắng trồng trên đất rừng tự nhiên có tầng
đất sâu trên 0,7m sinh trưởng chiều cao và đường kính gốc vượt trội hơn cả so với
trồng trên các lập địa khác, cây sinh trưởng tốt và trong thực tế cũng ít sâu bệnh
hơn. Trồng trên nương rẫy cũ, tầng đất trung bình, cây trám cũng đạt được sinh
trưởng ở mức trung bình. Riêng trên dạng đất xấu, tầng đất nông, đất không còn
tính chất đất rừng trám sinh trưởng rất kém. Đây cũng là điểm cần lưu ý trong quá
trình chọn đất để trồng trám. Tuy nhiên, đây mới là những nhận xét sơ bộ qua số
liệu thu thập chưa đầy đủ, hy vọng chỉ là những nhận xét dùng để tài liệu tham
khảo.
Biểu đồ 4: Biểu đồ sinh trưởng trám trắng trên các dạng lập địa
2.2.2. Kết quả xây dựng mô hình trồng rừng trám với mục tiêu lấy quả
Sau khi tạo được cây ghép đề tài đã xây dựng được 6ha mô hình tại Hoà Bình và
Đại Lải bằng cây ghép, kỹ thuật trồng được tóm tắt như sau: Cây ghép được chăm
sóc ở vườn 1 năm với kích thước bầu 18x25cm, mật độ trồng 330 cây/ha (cự ly 6
m x 5 m), hố cuốc 50x50x50cm, bón lót 5kg phân chuồng + 1kg phân vi sinh/hố,
có trồng cây che phủ ban đầu, chăm sóc 3 lần/năm (chủ yếu là phát thực bì, xới và
vun quanh gốc rộng 1m). Kết quả theo dõi sinh trưởng ở các mô hình trồng năm
2001 cho thấy:
- Tỷ lệ sống đạt trên 90%
kinh phí để theo dõi, đánh giá.
Tài liệu tham khảo
1) Nhà xuất bản Nông nghiệp 1994. Kỹ thuật gieo trồng Trám.
2) Nguyễn Văn Lê, Lưu Phạm Hoành. Kết quả nghiên cứu kỹ thuật gây trồng
Trám trắng tại Hữu Lũng – Lạng Sơn. Thông tin tư liệu Bộ LN, 1985.
3) Triệu Hùng. Kết quả điều tra sinh thái cây Trám trắng – Báo cáo khoa học –
Trường Đại học Lâm nghiệp, 1992.
4) Phạm Đình Tam, Trần Lâm Đồng. Gây trồng Trám trắng (C.album R.)-Thông
tin KHKT lâm nghiệp, 1998
5) Phạm Đình Tam, Trần Lâm Đồng. Kết quả nghiên cứu kỹ thuật trồng rừng
Trám trắng – 1999.
Summary.
C. albumis a large-sized indigenous tree species of high economic value. Wood of
C.album is used for common furniture making, house construction and as plywood
raw material. C.album resin is used in soap, scent and synthetic paint industries
and as electric insulation substance and shoe polish. C.album fruit is used as
foodsfuff, sugared dry canari and antipoison preparation. The research subject
makes use of the previous research results on C.album forest planting technique of
the FSIV (1995-1999) to establish forest planting models for two purposes: timber
and fruit. The research subject is managed by the Forest Science and Techniques
Application Centre and has been implemented in the 1999-2004 period in Hoa
Binh and Vinh Phuc.The research subject has succeeded in developing grafting
method for C.album (Survival of the grafts is 70%; 50 mother trees of high yield
of 3 different provenances have been selected to supply branches for grafting; the
models have been established on 15 ha (6 ha for fruit, 9 ha for timber) The models
are now performing well, survival rate is over 90%. Plantations in 1999 attain
mean height of 4.9m and diameter at tree base 8.7cm.