Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Vũ Hải Yến
CHƯƠNG I
MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Trong thời kỳ công nghiệp hoá – hiện đại hoá hiện nay, nhu cầu tạo ra sản phẩm
hàng hoá cung cấp cho xã hội ngày càng nhiều. Đi đôi với việc này là nguồn thải từ
quá trình sản xuất chế biến, đặc biệt là nguồn nước thải phát sinh từ các cụm, khu
công nghiệp trong quá trình hoạt động. Tuy nhiên, hiện nay nhiều nhà máy xí nghiệp
ở nước ta nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, chưa có hệ thống xử lý
nước thải trước khi đổ vào hệ thống nước thải chung, hoặc nếu có thì việc xây dựng
cũng mang tính đối phó với cơ quan chức năng nên hiệu quả xử lý chưa đạt quy
chuẩn.
Việc xây dựng hệ thống xử lý nước thải, xét về mặt kinh tế, thì tốn nhiều chi phí
như xây dựng công trình, thiết bò, hoá chất ….Do đó, một trong những biện pháp được
một số nhà máy, khu công nghiệp bước đầu đưa vào áp dụng hiện nay là biện pháp
sử dụng thực vật đất ngập nước để xử lý nước thải. Ở các khu công nghiệp, diện tích
khu vực dùng để trồng cây xanh đều phải có theo tiêu chuẩn quy đònh. Chúng ta có
thể tận dụng trực tiếp các khu vực đó để làm nơi xử lý nước thải. Chúng có thể hấp
thu các chất ô nhiễm hay hạn chế mức độ ô nhiễm của các chất đến một giới hạn
cho phép mà không ảnh hưởng đến môi trường và con người, đồng thời tiết kiệm
được chi phí và tạo ra “bức tranh thiên nhiên” trong khu công nghiệp.
Chính vì vậy mà việc nghiên cứu và ứng dụng phương pháp xử lý nước thải bằng
thực vật đất ngập nước là vấn đề cần thiết hiện nay. Do đó, tác giả quyết đònh chọn
đề tài “Nghiên cứu sử dụng cây cỏ Năng Tượng (Scripus littoralis schrab) để xử lý
nước thải đầu ra ở Khu công nghiệp Tân Bình đạt loại A QCVN 24:2009” để thực
SVTH: Phạm Quốc Nam 1 MSSV:207108024
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Vũ Hải Yến
hiện Khoá luận Tốt nghiệp của mình. Thông qua đề tài này, tác giả muốn đem lại
cái nhìn mới hơn về khả năng xử lý nước thải của cây cỏ Năng Tượng và khả năng
ứng dụng vào thực tế của nó.
1.2 Đối tượng nghiên cứu
trong xử lý nước thải.
+ Khảo sát các đặc điểm về hình thái, sinh trưởng và phát triển của cỏ Năng
Tượng để phục vụ cho mô hình nghiên cứu.
+ Phương pháp bố trí mô hình thực nghiệm và khảo sát 2 yếu tố.
+ Phương pháp tổng hợp tài liệu từ internet, báo chí, đài…
Phương pháp thực hành thí nghiệm:
+ Phương pháp phân tích sự biến đổi đầu vào và đầu ra các chỉ tiêu lý hoá sinh
học:pH, SS, BOD
5
, COD, Tổng Nitơ, Tổng Photpho.
+ Phương pháp quan sát vá ghi hình mô hình nghiên cứu và mô hình đối chứng,
để nhận xét về những thay đổi của thực vật, cơ chế hập thụ và sử dụng chất ô nhiễm
của thực vật.
Phương pháp tích và xử lý số liệu để xác đònh hiệu quả xử lý nước thải của cỏ
Năng. Từ đó so sánh với các chỉ tiêu với qui chuẩn Việt Nam (QCVN 24:2009)
nguồn đầu ra.
Phương pháp chứng minh: đưa ra dẫn chứng gồm các điều đã đã được công
nhận, lý luận, tài liệu thu thập, hình ảnh nhằm chứng minh cho điều cần thể hiện.
SVTH: Phạm Quốc Nam 3 MSSV:207108024
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Vũ Hải Yến
1.6 Giới hạn đề tài
Vùng nghiên cứu: khu vực nhà máy xử lý nứơc thải và cây xanh của khu công
nghiệp Tân Bình.
Vật liệu nghiên cứu: cây cỏ Năng Tượng (Scripus littoralis Schrab).
Tiêu chuẩn: thông số pH, SS, COD, BOD
5
, tổng Nitơ, tổng Photpho.
1.7 Thời gian và đòa điểm thực hiện đề tài
Thời gian: thực hiện gần 3 tháng từ ngày 5/04/2010 đến ngày 30/06/2010.
Đòa điểm nghiên cứu: Khu Công nghiệp Tân Bình.
Phía Tây Bắc giáp Quận 12.
Phía Tây Nam giáp huyện Bình Chánh.
Phía Đơng là đường Chế Lan Viên (lộ giới 30m).
KCN là đầu mối quan trọng với các tỉnh miền Tây và Đơng Nam Bộ, có vị trí rất
thuận lợi:
Cách trung tâm Thành phố 10km.
Nằm cạnh sân bay Tân Sơn Nhất.
Cách cảng Sài Gòn 11 km theo đường vận chuyển container.
Cách xa lộ vành đai Quốc lộ 1A 600m.
Cách Quốc lộ 22 khoảng 400m (tương lai là trục Bắc Nam của TP – là đoạn
đường Xun Á).
2.1.2 Đặc điểm đòa hình
Độ cao trung bình khoảng 3m so với mực nước biển. Độ dốc khu vực nằm trong thế
đất chung từ đầu sân bay Tân Sơn Nhất hạ thấp dần về phía hệ thống thốt nước chính
KCN là kinh 19/5 và kinh Tham Lương. Thành phần nền đất chủ yếu là đất cát và sét.
Sức chịu tải 1.25 kg/cm
2
.
Ngồi vị trí rất thuận tiện nêu trên, KCN Tân Bình còn được đầu tư xây dựng các cơ
sở hạ tầng hiện đại đạt tiêu chuẩn Quốc gia nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho các nhà đầu
tư và hoạt động.
2.2 Hiện trạng hạ tầng kỹ thuật KCN TB
2.2.1 Giới thiệu KCN TB
SVTH: Phạm Quốc Nam 6 MSSV:207108024
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Vũ Hải Yến
KCN Tân Bình là KCN sạch duy nhất nằm trong Thành phố được thành lập theo
Quyết đònh số 65/TTg ngày 01/02/1997 của Thủ Tướng Chính Phủ với quy mô
142.35 ha, trong đó bao gồm 84.59 ha là phần diện tích đất cho thuê, được chia thành
4 nhóm công nghiệp I, II, III, IV.
Ngoài ra để phục vụ cho nhu cầu tái đònh cư của KCN, Thủ Tướng Chính Phủ
liệu xây dựng, khai thác và chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng.
2.2.2.2 Xuất nhập khẩu
Xuất khẩu hàng nông lâm sản, thủy hải sản, hàng công nghiệp và TTCN, rau
quả và thực phẩm chế biến.
Nhập khẩu nguyên nhiên liệu, vật tư, máy móc, thiết bò, hàng tiêu dùng, phụ
liệu, phụ tùng, vật liệu xây dựng, trang trí nội thất, phương tiện giao thông vận tải.
Đầu tư và hợp tác sản xuất hàng xuất khẩu. Đầu tư và hợp tác xây dựng nhà,
xưởng sản xuất các mặt hàng xuất khẩu.
Gia công xuất khẩu ngành hàng giày dép, may mặc.
2.2.2.3 Đầu tư
Thi công xây dựng: các công trìn dân dụng và công nghiệp, các công trình giao
thông, cấp thoát nước và cây xanh (gồm mới và duy tư), các công trình thuỷ lợi và hệ
thống chiếu sáng.
Đầu tư xây dựng và kinh doanh nhà ở, siêu thò, cơ sở hạ tầng KCN.
Đầu tư xây dựng và văn phòng cho thuê.
2.2.2.4 Dòch vụ
Dòch vụ nhà hàng, khách sạn, kiều hối.
SVTH: Phạm Quốc Nam 8 MSSV:207108024
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Vũ Hải Yến
Dòch vụ thể dục thể thao (sân tennis, hồ bơi và các loại hình thể dục, thể thao
giải trí khác.
Thu gom và vận chuyển rác, dòch vụ rửa xe.
Vận chuyển hàng hóa, đòa lý vận tải.
Duy tu nạo vét cống rãnh.
Cho thuê xe du lòch, xe tải, vận chuyển hành khách theo hợp đồng.
Sữa chữa và bão trì ô tô và xe cơ giới các loại.
Du lòch, lữ hành quốc tế.
Đại lý vé máy bay.
Đại lý khai thuê dòch vụ hàng hóa xuất nhập khẩu (đại lý khai thuê hải quan).
Đại lý bán lẽ xăng dầu, gas, nhớt, dầu mỡ, sang chiết gas.
Tổng chiều dài các tuyến đường trong KCN TB khoảng 13.2 km với các loại
đường lộ giới từ 16m – 32m được trãi bê tông nhựa nóng và nối trực tiếp với xa lỗ
vành đai (QL1A), quốc lộ 22, tải trọng H.30.
2.3.2 Nguồn cung cấp điện
Nhằm đảm bảo hoạt động của các nhà máy được liên tục, KCN có 2 nguồn cung
cấp điện:
+ Trạm TB I nằm trong KCN: 110/22 KV – 2x40 MVA.
+ Đường dây dự phòng Hóc Môn và Vina texco từ trạm 110/15 Bà Qụeo.
2.3.3 Nguồn cung cấp nước
Để đáp ứng tối đa nhu cầu về nước của các doanh nghiệp, KCN sử dụng 2 hệ
thống cung cấp nước:
SVTH: Phạm Quốc Nam 10 MSSV:207108024
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Vũ Hải Yến
+ Công ty khai thác và cung cấp nước ngầm TP: 50.000 m
3
/ ngàêm.
+ Hệ thống nước sông Sài Gòn: 300.000 m
3
/ ngàêm.
+ Hệ thống cấp nước nội bộ KCN: 6.000 m
3
/ ngàêm
2.3.4 Hệ thống xử lý nước thải
Nhà máy xứ lý nứơc thải KCN TB với công suất 2.000 m
3
/ ngàêm, lưu lượng
trung bình là 84 m
3
/h và phí xử lý nước thải trung bình 3950/
Bể chứa bùnMáy ép bùn
Nước sau ép về lại
bể gom nước thải
Bùn sau ép
NaOCl
Sân phơi bùn
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Vũ Hải Yến
Thuyết minh dây chuyền công nghệ:
Dòng nước thải cần được xử lý trong KCN Tân Bình được tập trung về nhà máy theo
ba tuyến ống. từ ba vị trí này sẽ được nối vào bể gom nước thải của hệ thống xử lý.
Trước khi nước thải vào bể gom phải wa sàn lọc rác thô với khoản cách giữa các thanh
chắn là 10mm. tại đây các loại rác có kích thước lớn được giữa lại và thu gom nhờ hệ
thống cào rác tự động và liên tục. rác thải được chứa trong giỏ rác và được chuyển đến
bãi rác chung của KCN. Nước thải từ bể gom được đưa lên thiết bị lọc rác tinh bằng sự
hoạt động của 3 bơm chìm. Khi lưu lượng nước thải khu công nghiệp ở mức trung bình
thì chỉ có một bơm hoạt động, khi lưu lượng cao thì hai bơm hoạt động, một bơm đặt dự
phòng khi một trong hai bơm có sự cố không hoạt động. tại bể này sẽ có mùi hôi của
nước thải chưa xử lý. Sau khi qua thiết bị lọc rác tinh có kích thước khe là 0.75mm
nhầm mục đích làm giảm lượng chất lơ lững vô cơ trong nước thì tự chảy vào bể tách
dầu mỡ. tại bể vớt dầu mỡ thì lớp dầu mỡ nổi lên trên bờ mặt và được gạt thải vào
máng bằng thanh gạt, phần nước còn lại sẽ chảy tràn qua bể điều hòa.
Trước khi qua bể điều hào, pH của nước được điều chỉnh bằng dung dịch NaOH
và HCl, NaOH và HCl được cấp bởi bơm riêng và hoạt động dựa trên tín hiệu nhận
được từ máy điều khiển pH. Thông thường pH làm việc tốt nhất là 6.5 – 7.5. Tại bể điều
hòa, nước được khuấy trộn chìm liên tục để điều hòa nồng độ và lưu lượng nước. Bơm
chìm được sử dụng tại bể điều hòa để vận chuyển nước thải đến bể SBR. Đồng thời bể
điều hòa cũng có vai trò là bể chứa nước thải mỗi khi hệ thống dừng lại để sữa chữa
hoặc bảo trì.
Tiếp đến nước từ bể điều hòa được bơm sang bể SBR và trải qua 5 giai đoạn: cấp
nước, cấp nước và sục khí, sục khí, lắng và chắt nước. Các giai đoạn này được vận hành
bùn cận cực, từ các vực nước sông nông đến những nơi đất cao bão hoà nước… Dù ở
đâu, điều kiện xác đònh của môi trường đất, nước và chế độ ngập nước quần xã sinh
vật – 1 thành phần đặc biệt được sinh ra trong hoàn cảnh cụ thể của đất và chế độ
ngập nước, là những yếu tố cơ bản hình thành nên ĐNN. Trong hoạt động sống, quần
xã sinh vật lại làm biến đổi cấu trúc và các đặc tính vật lý, hoá học của đất cũng
như của nước chứa trong đó. Mối quan hệ nhiều chiều này quyết đònh đến sự hình
thành, tồn tại và phát triển của hệ sinh thái ĐNN.
Đến nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã ngày càng nhận thức rõ hơn về những
giá trò và tầm quan trọng của ĐNN đối với cuộc sống của con người. Từ chỗ nhận
thức rằng ĐNN là những vùng hoang dã, không có năng suất, chỉ có côn trùng, cá
SVTH: Phạm Quốc Nam 15 MSSV:207108024
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Vũ Hải Yến
sấu và dòch bệnh. Ngày nay, con người đã hiểu rằng ĐNN là hệ sinh thái có năng
suất cao nhất, nếu được quản lý tốt, nó có thể đáp ứng các nhu cầu của cuộc sống
con người, nhất là các nhu cầu ngày càng cao trong khi dân số ngày càng tăng.
Sự thoái hoá hoặc mất đi các hệ sinh thái ĐNN sẽ làm gia tăng áp lực về kinh tế
đối với các cộng đồng dân cư nông thôn sống trong vùng ĐNN.
ĐNN nước được gọi bằng tiếng Anh là “Wetland”. Ở Việt Nam, trước đây có
nhiều cách gọi khác nhau, có người gọi là “đất ngập nước”, “đất ướt” hay “đất ẩm”.
Tại nghò đònh số 109/2003/NĐ – CP ngày 23/09/2003 của Chính Phủ về việc bảo tồn
và phát triển bền vững các vùng ĐNN, từ “đất ngập nước” đã chính thức được sử
dụng trong một văn bản pháp luật nước ta.
• Các đònh nghóa về đất ngập nước
Thuật ngữ đất ngập nước được hiểu theo nhiều cách khác nhau, tuỳ theo quan
điểm, người ta có thể chấp nhận các đònh nghóa khác nhau. Các đònh nghóa về đất
ngập nước có thể chia làm 2 nhóm chính. Một nhóm theo đònh nghóa rộng, nhóm thứ
hai theo đònh nghóa hẹp.
Các đònh nghóa về đất ngập nước theo nghóa rộng như đònh nghóa của công ước
Ramsar, đònh nghóa theo chương trình điều tra đất ngập nước của Mỹ, Canada, New
Zealand và xtrâylia.
dưới và rễ cây. Độ sâu của nền ĐNN dòng chảy dưới bề mặt điển hình là nhỏ hơn
6m và tầng đáy thường là bùn loãng là giảm tới mức tối thiểu dòng chảy qua đất.
Khi xem xét một vò trí thích hợp để xây dựng khu ĐNN dòng chảy bề mặt cần xác
đònh rõ các đặc tính sau: đòa hình; quyền sở hữu đòa điểm; tính chất của đất.
SVTH: Phạm Quốc Nam 17 MSSV:207108024
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Vũ Hải Yến
Đất ngập nước dòng chảy dưới bề mặt (subsurface flow wetland):
Nhìn chung, mô hình tiêu chuẩn đối với ĐNN dòng chảy ngầm không khác dòng
chảy mặt nhiều, chỉ một vài sự khác nhau: hệ thống thoát nước và tốc độ loại bỏ ô
nhiễm. Trong ĐNN dòng chảy ngầm, chất nền ô nhiễm được vận chuyển qua vật
liệu lọc (đá cuội) tại đó vi khuẩn trong chất nền và trên cây sẽ tiếp xúc nhau trogn
nước thải và làm thoái hoá một cách hiệu quả hoặc làm kết vón chất ô nhiễm. Các
tham số cơ bản được xem xét khi hoàn thánh việc bố trí và thiết kế ĐNN dòng chảy
ngầm: hệ thống phân phối nước đầu vào; hình lòng chảo; hệ thống điều chỉnh đầu ra.
3.2 Cấu trúc và chức năng đất ngập nước
3.2.1 Cấu trúc
Nói về hệ sinh thái đầm lầy ngập cần chú ý đến các khía cạnh của các yếu tố
như: đòa chất, thuỷ văn, hoá học của dung dòch đất, thực vật, vật tiêu thụ, chức năng
hệ sinh thái bao gồm năng suất sơ cấp, sự phân huỷ, tổn thất lượng hữu cơ, xuất khẩu
chất dinh dưỡng, dòng chảy, quỹ dinh dưỡng.
3.2.2 Chức năng sinh thái của đất ngập nước
Nạp nước ngầm: nước được thấm từ các vùng đất ngập nước xuống các tầng ngập
nước trong lòng đất, nước được giữ ở đó và điều tiết dần thành dòng chảy bề mặt ở
vùng đất ngập nước khác cho con người sử dụng.
Hạn chế ảnh hưởng của lũ lụt : bằng cách giữ và điều hoà lượng nước mưa như
bồn chứa tự nhiên, giải phóng nước lũ từ từ, từ đó có thể làm giảm hoặc hạn chế lũ ở
vùng hạ lưu.
Ổn đònh vi khí hậu: do chu trình trao đổi chất và nước trong các hệ sinh thái, nhờ
lớp phủ thực vật của đất ngập nước, sự cân bằng giữa O
2
2
Và NH
2
.CO.NH
2
+ H
2
O -> 2NH
3
+ CO
2
Giữ lại chất dinh dưỡng : làm nguồn phân bón cho cây và thức ăn của các sinh
vật sống trong hệ sinh thái đó.
Sản xuất sinh khối : rất nhiều vùng đất ngập nước là nơi sản xuất và xuất khẩu
sinh khối làm nguồn thức ăn cho các sinh vật thủy sinh, các loài động vật hoang dã
cũng như vật nuôi.
Giao thông thủy : hầu hết sông, kênh, rạch, các vùng hồ chứa nước lớn, vùng
ngập lụt thường xuyên hay theo mùa,… đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long,
vận chuyển thủy đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống cũng như phát triển
kinh tế của các cộng đồng dân cư đòa phương.
Giải trí, du lòch : các khu bảo tồn đất ngập nước như Tràm Chim (Tam Nông,
Đồng Tháp), và Xuân Thuỷ (Nam Đònh), nhiều vùng cảnh quan đẹp như Bích Động
SVTH: Phạm Quốc Nam 19 MSSV:207108024
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Vũ Hải Yến
và Vân Long, cũng như nhiều đầm phá ven biển miền Trung… thu hút nhiều du
khách đến tham quan giải trí.
3.2.3Giá trò đa dạng sinh học
Giá trò đa dạng sinh học là thuộc tính đặc biệt và quan trọng của đất ngập nước.
Nhiều vùng đất ngập nước là nơi cư trú rất thích hợp của các loài động vật hoang dã,
đặc biệt là loài chim nước, trong đó có nhiều loài chim di trú.
ĐNN là vùng chuyển tiếp giữa môi trường cạn và nước ngập và mang lợi ích về
dinh dưỡng, năng lượng, cây trồng và sinh vật đi vào từ hệ sinh thái bên cạnh.
Những vùng ĐNN thường thụ động đối với chế độ nước. Sự điều hoà chế độ nước
có thể trực tiếp làm biến đổi những chất dinh dưỡng, mức độ thiếu oxy trong thể
nứơc ở chất nên, muối đất và pH. Sự cung cấp nước là nguồng cung cấp chất dinh
dưỡng, những dòng chảy ra thường làm những vật chất vô sinh và hữu sinh thoát
khỏi vùng đất ngập nước tác động trực tiếp đến sự thích nghi của vi sinh vật.
Sự thích nghi môi trường của sinh vật tạo ra sự phong phú và đa dạng trong hệ
sinh thái ĐNN.
3.4 Phân loại
Hiện nay, có nhiều kiểu phân loại đất khác nhau tuỳ thuộc vào cảnh quan, mục
đích sử dụng và quản lý mỗi vùng. Ở Việt Nam, việc phân loại ĐNN được khởi
xướng và áp dụng vào năm 1989 do D.Scott và tác giả Lê Diên Dực. Năm 2001, Cục
Môi Trường thuộc Bộ Khoa Học, Công Nghệ và Môi Trường đã công bố tài liệu
“Các vùng đất ngập nước có gía trò đa dạng sinh học và môi trường Việt Nam”,
trong đó có đưa ra một bảng phân loại ĐNN dựa trên cách phân loại của Ramsar.
SVTH: Phạm Quốc Nam 21 MSSV:207108024
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Vũ Hải Yến
Việc phân loại ĐNN tiến hành khi xây dựng bảng đồ ĐNN của quốc gia, các nhà
khoa học Việt Nam sử dụng hệ thống phân loại ĐNN của Viện Điều tra Quy hoạch
Rừng (1999).
Bảng 3.1 Hệ thống phân loại đất ngập nước
3.5 Thực vật đất ngập nước
3.5.1 Giới thiệu chung
Kể từ khi xuất hiện sự sống trên trái đất, vật chất trong thiên nhiên được chuyển
hoá theo một chuỗi mắt xích chuyển hoá mới: chuỗi chuyển hoá vật chất trong cơ
thể các sinh vật. Chuỗi chuyển hoá này được gọi là chuỗi thực phẩm, trong đó thực
vật được coi như giới sinh vật quan trọng nhất tạo ra những chất hữu cơ từ những
chất vô cơ nhờ ánh sáng mặt trời. Khối lượng các chất hữu cơ được tạo nên quá trình
SVTH: Phạm Quốc Nam 22 MSSV:207108024
dinh dưỡng được hấp thu qua rễ và lá. Mỗi cm
2
bề mặt lá có khoảng 100 lỗ khí
khổng. Qua lỗ khí khổng này, ngoài sự trao đổi còn có sự trao đổi các chất dinh
dưỡng. Do đó, lượng vật chất đi vào qua lỗ khí khổng để tham gia quá trình quang
hợp không nhỏ. Ở rễ, các chất dinh dưỡng vô cơ được chuyển qua hệ rễ của thực vật
thuỷ sinh và đi lên lá. Lá nhận ánh sáng mặt trời để tổng hợp thành vật chất hữu cơ.
Các chất hữu cơ này cùng các chất khác xây dựng nên tế bào và tạo ra sinh khối.
Thực vật chỉ tiêu thụ các chất vô cơ hoà tan. Các chất hữu cơ không tiêu thụ trực tiếp
mà phải qua quá trình vô cơ hoá nhờ hoạt động của vi sinh vật. Vi sinh vật sẽ phân
huỷ các chất hữu cơ và chuyển chúng thành các hợp chất vô cơ hoà tan. Lúc đó thực
vật mới có thể sử dụng chúng để tíên hành trao đổi chất. Chính vì thế, thực vật
không thể tồn tại và phát triển trong môi trường chỉ chức chất hữu cơ mà không có
mặt của vi sinh vật. Quá trình vô cơ hóa bởi vi sinh vật và quá trình hấp thụ các chất
vô cơ hoà tan bởi thực vật thuỷ sinh tạo ra hiện tựơng giảm vật chất có trong nước.
Nếu đó là nước thải thì quá trình này được gọi là quá trình tự làm sạch sinh học.
3.5.2 Những nhóm thực vật thuỷ sinh
Một số thực vật có những tính chất phù hợp cho việc xử lý môi trường nước ô
nhiễm. Thực vật thuỷ sinh được sử dụng để xử lý nước ô nhiễm được chia ra làm 3
nhóm:
a. Nhóm thực vật thuỷ sinh ngập nước
SVTH: Phạm Quốc Nam 23 MSSV:207108024
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Vũ Hải Yến
Thực vật thủy sinh là những thực vật sống trong lòng nước (phát triển dưới bề
mặt nước) được gọi là thực vật thuỷ sinh ngập nước. Đặc biệt quan trọng của các loài
thực vật thuỷ sinh ngập nước là chúng tiến hành quang hợp hay các quá trình trao đổi
chất hoàn toàn trong lòng nước. Khi thực vật thuỷ sinh sống trong lòng nước, có rất
nhiều quá trình xảy ra không giống như thực vật sống trên cạn. Những quá trình đó
bao gồm:
Thứ nhất
ứng hoá học chỉ xảy ra trong môi trường nước chứa nhiều cacbonat. Khả năng hoà
tan CO
2
từ không khí rất hạn chế. Chúng chỉ xảy ra ở bề mặt nước và khả năng này
thường giới hạn ở độ dày của nước khoảng 20 cm kể từ bề mặt nước. Chính những
hạn chế này mà các loài thực vật thuỷ sinh thường phải thích nghi hết sức mạnh với
môi trường thiếu CO
2
.
Thứ ba
Việc cạnh tranh CO
2
trong nước xảy ra rất mạnh giữa thực vật thuỷ sinh và tảo,
kể cả với vi sinh vật quang năng.
Ở những lưu vực nước không chuyển động có sự hạn chế rất lớn lượng CO
2
nhưng
ở những dòng chảy hay có sự khuấy động, lượng CO
2
từ không khí sẽ tăng lên.
Những thực vật ngập nước tồn tại hai dạng. Một dạng thực vật có rễ bám vào đất,
hút chất dinh dưỡng trong đất, thân và lá ngập trong nước, một dạng rễ và lá lơ lửng
trong lòng nước.
b. Nhóm thực vật trôi nổi
Thực vật trổi nổi phát triển rất nhiều ở các nước nằm trong vùng nhiệt đới. Các
loài thực vật này phát triển trên bề mặt nước. Đây là phần nhận ánh sáng mặt trời
trực tiếp. Phần dưới nước là rễ, rễ các loài thực vật này là rễ chùm. Chúng phát triển
trong lòng môi trường nước, nhận các các chất dinh dưỡng trong nước và chuyển lên
lá, thực hiện các quá trình quang hợp. Các loài thực vật nổi trôi phát triển và sinh
sản rất mạnh